Truy cập nội dung luôn
Thứ 3, Ngày 18/02/2020

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2020 tỉnh Thái Nguyên

02-03-2020 15:18

A. KINH TẾ
I. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
1. Trồng trọt
a. Sản xuất vụ Xuân
Vụ Xuân năm 2020 thời tiết ấm, đủ nước, thuận lợi cho công tác gieo cấy nên tiến độ gieo trồng nhanh hơn so cùng kỳ. Hiện nay các địa phương đang hoàn tất gieo cấy lúa Xuân; tiếp tục gieo trồng cây màu vụ Xuân và chăm sóc diện tích lúa mới gieo cấy; điều tiết kịp thời các nguồn nước tưới.
Kế hoạch gieo trồng cây hàng năm Vụ xuân năm 2020 toàn tỉnh là trên 40 nghìn ha; trong đó, cây lúa 28,75 nghìn ha, cây ngô 7,1 nghìn ha và các loại cây hàng năm khác khoảng 11 nghìn ha.
Dự ước đến hết tháng 02/2020, toàn tỉnh gieo cấy được khoảng 29 nghìn ha lúa (đạt 100% kế hoạch trong vụ) và khoảng 10,5 nghìn ha cây màu vụ Xuân; trong đó, cây ngô 5 nghìn ha bằng 70,4% kế hoạch trong vụ và nhanh hơn tiến độ cùng kỳ; cây rau đậu các loại đạt khoảng 3,1 nghìn ha, bằng 67,4% kế hoạch; cây sắn 1.000 ha; cây lạc 530 ha, bằng 106% cùng kỳ; cây đỗ tương 331 ha; cây khoai lang 515 ha và đều tăng 3% so cùng kỳ...
Ngành chức năng phối hợp chặt chẽ với các địa phương kiểm tra, nắm bắt diễn biến tình hình sâu bệnh hại trên đồng ruộng để có các biện pháp phòng trừ hiệu quả.
b. Cây lâu năm
Cây chè: Năm 2020, kế hoạch trồng mới và trồng lại cây chè toàn tỉnh là 700 ha, trong đó có 535 ha chè trồng lại. Hiện nay các địa phương đang triển khai chăm sóc vườn ươm chè giống và thu hái chè vụ Xuân.
Cây ăn quả: Diện tích cây ăn quả được chăm sóc và phát triển bình thường. Dự kiến năm 2020, diện tích trồng mới cây ăn quả tiếp tục tăng và xây dựng vùng sản xuất cây ăn quả hàng hóa tập trung, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, kỹ thuật sản xuất cây ăn quả an toàn chất lượng.
2. Chăn nuôi
 Công tác chống dịch đã đang được cơ quan chức năng và chính quyền địa phương tích cực triển khai, khoanh vùng và dập dịch hiệu quả nên tháng 2/2020 trên địa bàn tỉnh đàn gia súc, gia cầm cơ bản ổn định, không phát sinh dịch bệnh. Bệnh lở mồm long móng gia súc đã qua giai đoạn trên 21 ngày và đã được khống chế. Đối với Bệnh dịch tả lợn châu phi đã công bố hết dịch trên toàn tỉnh (175/175 xã có dịch đã qua 30 ngày không có lợn ốm chết).
Hiện nay ngành chăn nuôi gặp nhiều khó khăn do thời tiết mưa, độ ẩm không khí cao nên nguy cơ dịch bệnh nhiều. Bên cạnh đó, ảnh hưởng của dịch cúm Covid-19 học sinh, sinh viên kéo dài thời gian nghỉ nên nhiều bếp ăn tập thể của các trường học ngừng hoạt động; các nhà hàng, khách sạn cũng hoạt động cầm chừng, nhu cầu tiêu thụ thịt lợn, thịt gà của người dân giảm so với dịp Tết; bên cạnh đó do triển khai thực hiện chủ trương nhập khẩu thịt lợn trong quý I để bình ổn giá; đồng thời, yêu cầu các doanh nghiệp chăn nuôi lớn giảm giá bán nên giá bán sản phẩm chăn nuôi giảm, đặc biệt là giá thịt gà và vịt giảm mạnh. 
Tính tại thời điểm ngày 20/2/2020 giá bán bình quân lợn thịt, gà thịt đều giảm so với thời điểm cuối tháng 01/2020; Giá lợn hơi bình quân khoảng 75 nghìn đồng/kg, giảm từ 8-10 nghìn đồng/kg; giá gà công nghiệp hơi khoảng dưới 45 nghìn đồng/kg, giảm khoảng 30%; giá gà ta thịt hơi giảm 3,3%. Tuy nhiên giá lợn giống tăng cao, gấp 2,2 lần so với cùng kỳ và tăng 0,8% so với tháng 1/2020, do nhiều địa phương trong tỉnh bệnh dịch tả lợn châu Phi đã qua 30 ngày không phát sinh nên nhu cầu tái đàn cao.
Công tác phòng chống dịch bệnh: Hiện nay, bên cạnh yếu tố thời tiết độ ẩm cao, dịch bệnh cúm gia cầm đã phát sinh ở một số tỉnh và có hiện tượng trôi dạt gà chết trên sông đập; việc tổ chức tiêm phòng vắc xin Cúm gia cầm cho đàn gia cầm so với tổng đàn còn thấp, nhất là đối với hộ chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ... nên nguy cơ dịch bệnh cúm gia cầm xuất hiện, lây lan rất cao.
Công tác thông tin, tuyên truyền được thực hiện thường xuyên, sâu rộng về đặc điểm, tính chất, tác hại và biện pháp phòng, chống bệnh Cúm gia cầm để người chăn nuôi, buôn bán, vận chuyển, giết mổ gia cầm nâng cao nhận thức và tích cực, chủ động tham gia công tác phòng chống dịch.
Ngành chức năng và các địa phương triển khai công tác vệ sinh khử trùng, tiêu độc môi trường để tiêu diệt các mầm bệnh, trong đó chú trọng tại các vùng chăn nuôi trọng điểm, nguy cơ cao như: những vùng có ổ dịch cũ, vùng có mật độ chăn nuôi cao ở các địa phương: huyện Phú Bình, Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Lương, thị xã Phổ Yên, TP. Thái Nguyên, TP. Sông Công, vùng xung quanh các chợ, cơ sở, tụ điểm thu gom, buôn bán, giết mổ gia cầm, sản phẩm gia cầm và khu vực gần trục đường giao thông, các xã nằm dọc theo đường quốc lộ 3...  Ngành chức năng đã cấp 6 nghìn lít hóa chất cho các địa phương, triển khai đồng loạt ngay từ ngày 05/02/2020.
- Công tác tiêm phòng: Các địa phương đang triển khai kế hoạch tiêm phòng vắc xin đợt 1 năm 2020. Vắc xin Lở mồm long móng: dự kiến tiêm 165 nghìn liều vắc xin từ nguồn ngân sách và 230 nghìn liều từ nguồn chủ động của các trang trại, gia trại trên địa bàn tỉnh. Trong tháng 01/2020 đã tiêm được 5.000 liều vắc xin bao vây ổ dịch Lở mồm long móng ở trâu, bò tại địa bàn khởi phát dịch bệnh tại xã La Hiên huyện Võ Nhai. Vắc xin tiêm phòng cúm gia cầm: dự kiến năm 2020 tiêm  2,4 triệu liều từ nguồn ngân sách tỉnh và  trên 10 triệu liều từ nguồn chủ động của các trang trại, gia trại.
3. Lâm nghiệp
Theo kế hoạch, năm 2020 toàn tỉnh sẽ trồng tập trung 4.000 ha rừng, trong đó: Trồng rừng theo Chương trình mục tiêu Phát triển lâm nghiệp bền vững 1.597 ha, trồng rừng thay thế 50 ha; trồng rừng bằng nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách địa phương, nguồn vốn của người dân và các doanh nghiệp 2.353 ha. Trồng cây phân tán trên 500 nghìn cây.
Trong những ngày đầu xuân năm 2020, các địa phương đã triển khai kế hoạch và phát động Tết trồng cây, phát động phong trào trồng cây vụ Xuân theo các chương trình và trồng rừng theo kế hoạch giao năm 2020.
Để chuẩn bị tốt kế hoạch trồng rừng năm 2020, ngành chức năng đã triển khai nhiều hoạt động như: Tổ chức giao nhiệm vụ thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng thuộc Chương trình mục tiêu Phát triển lâm nghiệp bền vững tỉnh Thái Nguyên năm 2020 cho các dự án; xây dựng kế hoạch tuyên truyền, hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng gỗ lớn...Đến thời điểm hiện tại công tác chuẩn bị hiện trường trồng rừng đạt trên 50% kế hoạch giao.
Hiện nay các cơ sở trên địa bàn tỉnh đã tổ chức gieo ươm được 26,2 triệu cây giống lâm nghiệp, sẵn sàng cung cấp đủ nguồn cây giống phục vụ công tác trồng rừng năm 2020.
Công tác tuyên truyền, tập huấn: ngành chức năng phối hợp với Đài phát thanh truyền hình tỉnh thực hiện 01 chuyên mục quản lý bảo vệ rừng trong tháng 01 và dự báo cấp nguy cơ cháy rừng trên sóng truyền hình, khi cấp dự báo cháy rừng từ cấp 3 trở lên.
Công tác quản lý và bảo vệ rừng: Các đơn vị đã triển khai rà soát, bổ sung phương án phòng cháy chữa cháy rừng 4 tại chỗ. Trong tháng 02 trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng. Kết quả xử lý vi phạm: Số vụ vi phạm trong tháng 1/2020 là 12 vụ, giảm 47,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó đã xử lý vi phạm 11 vụ, 01 vụ chuyển hồ sơ cho công an điều tra để xử lý hình sự; tịch thu 19,0 m3 gỗ quy tròn các loại giảm 3,30% so với cùng kỳ năm trước; phương tiện tịch thu 01 chiếc xe máy. Thu nộp ngân sách nhà nước đạt 24,67 triệu đồng, giảm 91,2% so với cùng kỳ năm 2019.
Tình hình khai thác lâm sản: Dự ước sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng 2 tháng đầu năm 2020 là 27,8 nghìn m3, tăng 2,2% so cùng kỳ; sản lượng củi ước đạt 31,7 nghìn ste, tăng 1,93% so cùng kỳ.
II. Sản xuất công nghiệp
Bước sang tháng 2/2020, ngay sau Tết Nguyên đán các doanh nghiệp đã hoạt động, kinh doanh trở lại, một số sản phẩm sản lượng tăng cao so với cùng kỳ, tuy nhiên do hoạt động xuất nhập khẩu đối với thị trường Trung Quốc bị ảnh hưởng do dịch bệnh COVID-19 nên một số sản phẩm sản xuất có xu hướng giảm so với cùng kỳ.
Ước tính chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tháng 02/2020 tăng 1% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,1%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 12,7% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,5%; riêng ngành khai khoáng giảm 18,5% so với cùng kỳ.
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất tháng 02/2020, nhóm sản phẩm công nghiệp tăng cao từ 15% trở lên so với cùng kỳ như: sắt thép các loại đạt 107,4 nghìn tấn, tăng 50,8%; sản phẩm may đạt 6,9 triệu sản phẩm, tăng 48,5%; camera truyền hình đạt 8,5 triệu sản phẩm, tăng 34,4%; điện sản xuất đạt 148 triệu kwh, tăng 15%; tai nghe khác đạt 4,3 triệu sản phẩm, gấp 2,8 lần; mạch điện tử tích hợp đạt 10,4 triệu sản phẩm, tăng 76,2%. Nhóm sản phẩm công nghiệp có sản lượng tăng dưới 10% so với cùng kỳ như: điện thương phẩm đạt 372 triệu kwh, tăng 7,7%; đá khai thác đạt 308,6 nghìn m3, tăng 7,7%; nước máy thương phẩm đạt 2.397 nghìn m3, tăng 4,9%; gạch xây dựng bằng gốm, sứ đạt 4,4 triệu viên, tăng 3,9%; thiết bị và dụng cụ khác trong y khoa đạt 116,1 triệu sản phẩm, tăng 1,9%... Ngoài ra,  một số sản phẩm dự ước sản xuất giảm so với cùng kỳ như: điện thoại thông minh đạt 5 triệu sản phẩm, giảm 14,5%; máy tính bảng đạt 1 triệu sản phẩm, giảm 1,6%; vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 1,3 nghìn tấn, giảm 0,9%; than khai thác đạt 96,3 nghìn tấn, giảm 2,8%; đồng tinh quặng (Cu<20%) đạt 3,2 nghìn tấn, giảm 7,6%; xi măng đạt 150 nghìn tấn, giảm 7,8%...
Tính chung 2 tháng đầu năm 2020, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 1,9% so với cùng kỳ năm 2019; trong đó, nhóm ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,7%; nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,1% (trong đó sản xuất kim loại tăng 26,4%; SX sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 2%...); nhóm ngành khai khoáng giảm 20,4%; nhóm cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,7% so với cùng kỳ.
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu 2 tháng đầu năm đạt sản lượng tăng so với cùng kỳ năm 2019 là: sắt thép các loại đạt 249 nghìn tấn, tăng 48,3%; điện sản xuất đạt 312 triệu kwh, tăng 12,8%; điện thương phẩm đạt 749 triệu kwh, tăng 2,3%... Nhóm sản phẩm dự ước sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ là: sản phẩm may đạt 13,1 triệu sản phẩm, giảm 10,6%; điện thoại thông minh đạt 12,3 triệu sản phẩm, giảm 11,3%; xi măng đạt 309,8 nghìn tấn, giảm 0,8%; vonfram và sản phẩm của vofram đạt 2,5 nghìn tấn, giảm 3,8%; camera truyền hình đạt 13,4 triệu sản phẩm, giảm 5,7%; than khai thác đạt 199,4 nghìn tấn, giảm 8,9%; gạch xây dựng đạt 8,6 triệu viên, giảm 8,7%; máy tính bảng đạt 2,1 triệu sản phẩm, giảm 21,2%...
III. Hoạt động tài chính, ngân hàng
1. Thu, chi ngân sách
- Thu ngân sách: Tổng thu trong cân đối ngân sách trên địa bàn tháng 01 năm 2020 đạt 1.642 tỷ đồng, tăng 27,9% so với cùng kỳ và bằng 10,6% dự toán cả năm. Trong đó, thu nội địa đạt 1.499 tỷ đồng, tăng 36,5% so với cùng kỳ và bằng 12,1% dự toán cả năm; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 143,3 tỷ đồng, giảm 22,8% so với cùng kỳ và bằng 4,5% dự toán cả năm.
Có 8/14 khoản thu đạt cao hơn so với cùng kỳ như: Thu từ Doanh nghiệp nhà nước đạt 181 tỷ đồng, tăng 23,7% so cùng kỳ; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 604,7 tỷ đồng, cao gấp 4,7 lần (do phát sinh khoản thu trong tháng 1/2020 cao, trong khi cùng kỳ không có); thuế sử dụng đất phi Nông nghiệp đạt 210 triệu đồng, tăng 20,7%; thu phí lệ phí đạt 33,8 tỷ đồng, tăng 11,2%; thu cấp quyền khai thác khoáng sản đạt 4 tỷ đồng; cao gấp 2 lần và thu hoạt động xổ số kiến thiết đạt 1,5 tỷ đồng, gấp 2,6 lần so cùng kỳ.
Các khoản thu đạt thấp so với tháng 1/2020 như: Thu thuế thu nhập cá nhân đạt 179,3 tỷ đồng, giảm 0,2%; thu cấp quyền sử đụng đất đạt 93 tỷ đồng, bằng 43,1% cùng kỳ; thu tiền cho thuê đất đạt 5,1 tỷ đồng, giảm 57,9%; thu khác ngân sách đạt 12,9 tỷ đồng, giảm 18,5%.
- Chi ngân sách: Tháng 1/2020 hoạt động chi ngân sách trên địa bàn đảm bảo nhu cầu chi thường xuyên để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, đảm bảo an sinh xã hội; trong đó chú trọng tập trung đảm bảo kinh phí, chi trả đầy đủ, kịp thời tiền lương, lương hưu, trợ cấp xã hội cho các đối tượng thụ hưởng để vui đón Tết Canh Tý 2020.
Tổng chi ngân sách địa phương tháng 01/2020 đạt 1.227,4 tỷ đồng, bằng 7,6% dự toán cả năm. Trong đó, chi đầu tư phát triển là 477,2 tỷ đồng, gấp 1,7 lần so với cùng kỳ và bằng 11,4% dự toán; chi thường xuyên đạt 736,8 tỷ đồng (chiếm 60% trong tổng chi cân đối ngân sách địa phương) bằng 8,6% so dự toán cả năm.
Trong chi thường xuyên, chị sự nghiệp giáo dục, đào tạo và dạy nghề đạt 300 tỷ đồng (chiếm 40,7% tổng số), bằng 8% dự toán năm; chi quản lý hành chính đạt 207,8 tỷ đồng (chiếm 28,2%), bằng 12% dự toán; chi đảm bảo xã hội đạt 33,8 tỷ đồng, bằng 8,6% dự toán cả năm; chi sự nghiệp y tế, dân số và gia đình đạt 46,9 tỷ đồng, tăng 46,7% so cùng kỳ và bằng 5,5% chi dự toán năm;chi sự nghiệp kinh tế đạt 74,2 tỷ đồng, tăng 69,7% so cùng kỳ và bằng 8,2% dự toán; chi sự nghiệp văn hóa thông tin đạt 16,7 tỷ đồng, bằng 9,7% dự toán.
2. Hoạt động ngân hàng
Ngành chức năng đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng trên địa bàn thực hiện mở rộng tín dụng ngay từ những ngày đầu năm 2020 nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán Canh Tý đồng thời thực hiện chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp do tác động ảnh hưởng của dịch COVID - 19 theo chỉ đạo của trung ương.
- Hoạt động huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động của các chi nhánh tổ chức tín dụng trên địa bàn đến 31/01/2020 đạt 65.001 tỷ đồng, giảm 0,66% so với 31/12/2019. Ước đến 29/02/2020, nguồn vốn huy động đạt 65.500 tỷ đồng, tăng 0,1% so với 31/12/2019.
- Hoạt động tín dụng:  Dư nợ cho vay đối với nền kinh tế đến 31/01/2020 đạt 57.371 tỷ đồng, tăng 0,38% so với 31/12/2019. Ước đến 29/02/2020, dư nợ cho vay đạt 57.800 tỷ đồng, tăng 1,13% so với 31/12/2019. Nợ xấu là 465 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 0,81%/tổng dư nợ.
- Xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng: Tiếp tục chỉ đạo các Tổ chức tín dụng  trên địa bàn tiếp tục thực hiện các giải pháp cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng, xử lý nợ xấu.
IV. Thương mại, giá cả và dịch vụ
1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội
Tháng 2 là tháng sau tết Nguyên đán Canh Tý nên nhu cầu mua sắm giảm hơn so với tháng trước. Bên cạnh đó do ảnh hưởng của dịch Covid-19 các hoạt động tập trung đông người bị hạn chế nên ảnh hưởng đến nhịp độ kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn.
Tỉnh Thái Nguyên đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy sản xuất, kinh doanh; các doanh nghiệp đã chủ động phòng chống, kiểm soát tốt dịch bệnh đồng thời vẫn đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường nên nhìn chung doanh thu thương mại vẫn đạt mức tăng so cùng kỳ, nhưng doanh thu từ hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch tháng 2/2020 gặp khó khăn do tình hình chung nên doanh thu giảm so với cùng kỳ.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng 02 năm 2020 trên địa bàn ước đạt 3.240 tỷ đồng, giảm 12,6% so với tháng trước và tăng 5,8% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 165,4 tỷ đồng, tăng 4,7% cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 3.068 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 94,7% thị phần bán lẻ), tăng 5,9% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 7,1 tỷ đồng, tăng 5% so với cùng kỳ.
Nếu phân theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ tháng 02 năm 2020 ước đạt 2.540 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 78,4%), tăng 7,2% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 260 tỷ đồng, giảm 2% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ tiêu dùng còn lại ước đạt 437 tỷ đồng, tăng 3,3% cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành chỉ chiếm một phần rất nhỏ (đạt khoảng 3,5 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,41% trong tổng mức), giảm 28,6% so với cùng kỳ.
Tính chung 2 tháng đầu năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn ước đạt 6.948 tỷ đồng, tăng 9,6% so với cùng kỳ, trong đó: khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 335 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 6.598,3 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 94,7% thị phần bán lẻ), tăng 9,7% cùng kỳ; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 14,8 tỷ đồng, tăng 7,2% so với cùng kỳ.
Nếu phân theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ ước đạt 5.390 tỷ đồng, tăng 10,8% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống doanh thu ước đạt 609 tỷ đồng, tăng 4,2% so với cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành đạt 8,8 tỷ đồng, giảm 17,5% và nhóm dịch vụ tiêu dùng khác ước đạt 940 tỷ đồng, tăng 7,3% cùng kỳ.
Trong cơ cấu doanh thu bán lẻ, tất cả các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng 2 tháng đầu năm 2020 đều tăng. Nhóm mặt hàng đạt doanh thu bán lẻ lớn nhất là nhóm lương thực, thực phẩm đạt 1.800 tỷ đồng (chiếm 33,4% doanh thu bán lẻ), tăng 11,3% so với cùng kỳ; tiếp đến là nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 638 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 11,8%), tăng 14,3%; nhóm xăng dầu các loại đạt 633,6 tỷ đồng, tăng 13% cùng kỳ; nhóm ô tô các loại đạt 531,7 tỷ đồng, tăng 3,8%; nhóm hàng may mặc đạt 418,5 tỷ đồng, tăng 9,7%...
2. Xuất, nhập khẩu
Hoạt động xuất nhập khẩu những tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh nhìn chung đạt thấp do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19 đang diễn biến phức tạp tại Trung Quốc và Hàn Quốc, là các thị trường xuất, nhập khẩu chủ yếu của nhóm mặt hàng điện tử, viễn thông, sản phẩm chủ lực của tỉnh Thái Nguyên.
a. Xuất khẩu
Tổng giá trị xuất khẩu tháng 02/2020 ước đạt 1,6 tỷ USD, tăng 24% so với tháng trước nhưng giảm 21,5% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 26,7 triệu USD, giảm 20,1%; Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1.583 triệu USD (chiếm tỷ trọng 98,3% tổng giá trị xuất khẩu), giảm 21,5% so với cùng kỳ.
Trong nhóm các mặt hàng xuất khẩu tháng 2/2020, nhóm mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn tuy tăng khá so với tháng trước, nhưng giảm so với cùng kỳ như: nhóm sản phẩm điện thoại, máy tính bảng và điện tử khác ước đạt 1,57 tỷ  USD, tăng 25% so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ giảm 21% (trong đó giảm chủ yếu ở mặt hàng điện thoại, còn mặt hàng máy tính bảng và sản phẩm điện tử khác xuất khẩu tăng trên 15% cùng kỳ); kim loại màu và tinh quặng kim loại màu ước đạt 8 triệu USD, tăng 14,6% tháng trước nhưng giảm 62,6% cùng kỳ; sản phẩm từ sắt thép đạt 5,4 triệu USD, giảm 14,5%...
Nhóm mặt hàng dự ước tháng 2/2020 xuất khẩu tăng 10% trở lên so với cùng kỳ như: sản phẩm may 25 triệu USD, tăng 40,7%; chè các loại 100 tấn với giá trị 0,17 triệu USD, tăng 19% về lượng và tăng 23,7% về giá trị; giấy và các sản phẩm từ giấy 0,1 triệu USD, tăng 33%...
Tính chung 2 tháng đầu năm 2020 giá trị hàng hóa xuất khẩu ước đạt 2,9 tỷ USD, giảm 30% so với cùng kỳ. Hầu hết tất cả các mặt hàng xuất khẩu đều giảm, riêng chỉ có nhóm sản phẩm may đạt 48,8 triệu USD, tăng 2,9%. Còn lại các mặt hàng xuất khẩu khác giảm như: nhóm sản phẩm điện thoại, máy tính bảng và điện tử khác ước đạt 2,83 tỷ  USD giảm 29% cùng kỳ (điện thoại thông minh xuất khẩu 11,4 triệu sản phẩm với giá trị đạt 1,8 tỷ USD, giảm 12,9% về lượng và giảm 35,4% về giá trị; máy tính bảng 2,1 triệu sản phẩm với giá trị đạt 382 triệu USD, giảm 20,2% về lượng và giảm 14,4% về giá trị; sản phẩm điện tử và phụ tùng khác đạt 650,2 triệu USD, giảm 17%); sản phẩm từ sắt thép đạt 10,7 triệu USD, giảm 24,3%; chè các loại đạt 0,2 nghìn tấn với giá trị đạt 0,3 triệu USD, giảm 58,7% về lượng và giảm 56,7% về giá trị; kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 14,7 triệu USD, bằng 28,8% cùng kỳ…
b. Nhập khẩu
Tổng giá trị nhập khẩu tháng 2/2020 trên địa bàn ước đạt 1,17 tỷ USD, tăng 9,7% so với tháng trước nhưng giảm 3% so với cùng kỳ. Khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 17,7 triệu USD, tăng 13,3% so với tháng trước và tăng 5,2% so với cùng kỳ; Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,15 tỷ USD, giảm 3,1% so với cùng kỳ.
Nhóm mặt hàng nhập khẩu chủ yếu dự ước tháng 2/2020 giảm so với cùng kỳ như: nguyên liệu và linh kiện điện tử đạt 1,13 tỷ USD, giảm 3,2%; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 6,8 triệu USD, giảm 45%; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 2 triệu USD, giảm 51,5%... Nhóm hàng nguyên liệu nhập khẩu tăng so với cùng kỳ như: vải các loại và nguyên, phụ liệu dệt may; sản phẩm từ sắt thép; giấy các loại; máy móc thiết bị dụng cụ … tuy nhiên giá trị nhập khẩu chiếm tỷ trọng không lớn so với tổng số nên tính chung giá trị nhập khẩu trên địa bàn vẫn giảm.
Tính chung 2 tháng đầu năm 2020, tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn ước đạt 2,24 tỷ USD, giảm 12,6% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước ước đạt 33,3 triệu USD, giảm 26%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 2,2 tỷ USD, giảm 12,4% so với cùng kỳ.
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu 2 tháng đầu năm chỉ có 2 nhóm mặt hàng  cao hơn so với cùng kỳ là: sắt thép các loại đạt 9,8 triệu USD, tăng 57,2%; giấy các loại đạt 0,9 triệu USD, tăng 6,2%... Còn lại các nhóm hàng khác đều có giá trị nhập khẩu đều giảm so với cùng kỳ như: nguyên liệu và linh kiện điện tử ước đạt 2,16 tỷ USD, giảm 11,3%; vải và nguyên, phụ liệu may mặc đạt 27 triệu USD, giảm 9,3%; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 4 triệu USD, giảm 22,9%, chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 13 triệu USD, giảm 38,8%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 7,7 triệu USD, bằng 20,7% cùng kỳ.
3. Giá tiêu dùng
Tháng 2/2019 là tháng sau Tết Nguyên đán Canh Tý 2020, nhu cầu tiêu dùng một số nhóm hàng hóa giảm; chỉ số giá nhóm hàng lương thực, thực phẩm ổn định; bên cạnh đó nhà nước điều chỉnh giảm giá xăng, dầu nên tính chung chỉ số giá hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tháng 2/2020 giảm 0,21% so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước tăng 7,04%; so với tháng 12 năm 2019 tăng 0,41%. Bình quân 2 tháng 2020 tăng 7,63% so với cùng kỳ.
 So với tháng trước, có 4/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ giảm trong khoảng từ 0,05% đến 2,55% như: nhóm giao thông giảm 2,55% (do giá nhiên liệu giảm 5,29%; dịch vụ giao thông công cộng giảm 0,27%); nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,2% (do nhóm rượu, bia giảm 0,06%); nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,3% (nhóm nước sinh hoạt và dịch vụ nước giảm 2,41%); nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,05%. Có 5/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng nhẹ, trong đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,16% (nhóm lương thực, tăng 0,34%; nhóm thực phẩm tăng 0,15%); Nhóm hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,03% (nhóm vải các loại; mũ nón tương đương tháng trước; còn nhóm quần áo may sẵn tăng 0,33%; may mặc khác tăng 0,15%); Nhóm giáo dục tăng 0,91% (dịch vụ giáo dục tăng 1,11% do giá học phí của nhóm học nghề kỹ thuật tăng 32,8%); nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng nhẹ, tăng 0,02%.. Còn lại 2 nhóm thuốc và dịch vụ y tế và nhóm bưu chính viễn thông tương đương so với tháng trước.
So với cùng kỳ (tháng 02/2019), chỉ số giá tiêu dùng tháng 02/2020 tăng 7,04%. Hầu hết các nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu đều có chỉ số giá tăng, trong đó nhóm chỉ số giá tăng cao nhất là hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 16,18% (do nhóm thực phẩm tăng 21,71% như: giá thịt gia súc tươi sống tăng 58,16%, dầu mỡ tăng 32,8%); nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dưng tăng 4,12% (nhóm nhà ở thuê tăng 3,87%); nhóm  giáo dục tăng 3,94% (do nhóm đồ dùng học tập và văn phòng phẩm tăng 4,86%, dịch vụ giáo dục tăng 3,73%); nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 3,32% (do thuốc và thiết bị y tế tăng 0,13%; dịch vụ khám sức khỏe tăng 4,57%); Nhóm giao thông 3,41% (trong đó, giá nhiên liệu tăng 10,43%); các nhóm còn lại tăng từ 0,22% đến 2,48%. Có duy nhất nhóm bưu chính viễn thông tương đương so với cùng kỳ.
So với tháng 12/2019, chỉ số giá tiêu dùng tăng 0,41%. Có 8/11 nhóm có chỉ số giá tăng. Trong đó, tăng nhiều nhất là nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,32% (nhóm ga và các loại chất đốt khác tăng 6,92%); nhóm giáo dục tăng 0,91% (dịch vụ giáo dục tăng 1,11%); nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống và nhóm đồ uống thuốc lá tăng 0,76% (do nhóm lương thực tăng 0,35%, nhóm thực phẩm tăng 0,97%; đồ uống không cồn tăng 2,52%; thuốc hút tăng 0,13%); còn lại 4/11 nhóm tăng nhẹ trong khoảng từ 0,04% đến 0,48% như: nhóm bưu chính viễn thông tăng 0,04%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,29%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,33% và nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,48%. Còn lại 3/11 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm nhẹ trong khoảng từ 0,07% đến 1,28% như: nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,07%; nhóm may mặc giảm 0,25%; nhóm giao thông giảm 1,28% (do giá nhiên liệu xăng dầu giảm 4,16%).
Chỉ số giá vàng: chỉ số giá vàng tháng 2/2020 so với tháng trước tăng 2,88% (do giá vàng thế giới tăng); tăng 6,87% so với tháng 12/2019; tăng 20,35% so cùng kỳ. Bình quân 2 tháng năm 2020 tăng 19,6% so với cùng kỳ.
Chỉ số giá Đô la Mỹ: Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 2/2020 tăng 0,31% so với tháng trước ; tăng 0,25% so cùng kỳ. Bình quân 2 tháng năm 2020 tăng 0,06% so với bình quân cùng kỳ.
4. Hoạt động vận tải
Do tháng 2/2020 trùng với thời điểm sau Tết Nguyên đán Canh Tý 2020, đồng thời cũng là thời điểm dịch bệnh Covid-19 xuất hiện tại một số tỉnh, thành phố của Việt Nam nên hoạt động vận tải hành khách trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên cũng có xu hướng giảm do người dân hạn chế đi lại; tuy nhiên vận tải hàng hóa vẫn đạt mức tăng so với cùng kỳ.
Vận tải hành khách: Số lượng hành khách vận chuyển tháng 02/2020 ước đạt 1,8 triệu lượt khách với khối lượng luân chuyển là 100,4 triệu lượt hành khách.km, so với tháng trước giảm 8,3% về vận chuyển và giảm 8,4% về luân chuyển; so với cùng kỳ giảm 1,2% về số lượng hành khách vận chuyển và giảm 2,8% về số hành khách luân chuyển. Tính chung 2 tháng đầu năm 2020 số lượng hành khách vận chuyển là 3,7 triệu người, tăng 6,1% so với cùng kỳ và khối lượng luân chuyển là 210 triệu lượt hành khách, tăng 4,3% so cùng kỳ (trong đó, vận tải đường bộ 3,7 triệu hành khách, tăng 6,1%; vận tải đường thủy 53 nghìn hành khách, tăng 6% so với cùng kỳ).
Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 02/2020 ước đạt 3,5 triệu tấn với khoảng 145,2 triệu tấn.km; so với tháng trước giảm 4,8% về số hàng hóa vận chuyển và số lượng hàng hóa luân chuyển; So với cùng kỳ tăng 4,2% số hàng hóa vận chuyển và tăng 3,5% số hàng hóa luân chuyển. Tính chung 2 tháng đầu năm 2020, sản lượng vận tải hàng hóa ước đạt 7,2 triệu tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển hàng hóa là 297,6 triệu tấn.km, tăng 3,9% so cùng kỳ.
Doanh thu vận tải trên địa bàn tháng 02/2020 ước đạt 405 tỷ đồng, giảm 5,2% so với tháng trước và tăng 6,4% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 76,4 tỷ đồng, giảm 8,4% so với tháng trước và giảm 1,9% so cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 295,4 tỷ đồng, giảm 4,8% so với tháng trước và tăng 8,2% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 33,8 tỷ đồng, giảm 2% so với tháng trước và tăng 11,8% so với cùng kỳ.
Tính chung 2 tháng đầu năm 2020, doanh thu vận tải trên địa bàn ước đạt 832,4 tỷ đồng, trong đó, doanh thu vận tải hàng hóa chiếm tỷ trọng cao nhất (72,8%) và đạt 605,6 tỷ đồng, tăng 7,3% so cùng kỳ; doanh thu vận tải hành khách đạt 160 tỷ đồng, tăng 6,2%; doanh thu từ dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 67 tỷ đồng, tăng 3,5%.
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Công tác giảm nghèo; thực hiện chính sách người có công và triển khai công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em
- Công tác giảm nghèo: Triển khai chương trình giải ngân vốn của ngân hàng tài trợ xây dựng nhà ở cho hộ nghèo có khó khăn về nhà ở (tại 3 đơn vị là UBND huyện Võ Nhai, Định Hóa và Phú Bình);
- Công  tác thực hiện chính sách người có công: trong tháng triển khai thực hiện chính sách cho người có công như: giải quyết chế độ trợ cấp một lần mới được công nhận cho các đối tượng; giải quyết chế độ mai táng phí cho người có công và thân nhân người có công chết theo quy định; Giải quyết chế độ thờ cúng liệt sĩ; đề nghị trợ cấp một lần cho các đối tượng theo quy định; Giải quyết chế độ mai táng phí …
 - Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em: Hướng dẫn triển khai xây dựng nhà tình nghĩa do doanh nghiệp tài trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại huyện Phú Bình và huyện Phú Lương; phối hợp với Văn phòng Plan Thái Nguyên rà soát, đánh giá các hoạt động năm 2019 và xây dựng kế hoạch triển khai các hoạt động năm 2020 của Dự án “Cải thiện An toàn giao thông cho trẻ em khu vực trường học tại TP Thái Nguyên”.
2. Tình hình lao động việc làm
Tình hình lao động việc làm của các doanh nghiệp: tỉnh Thái Nguyên đã tổ chức các đoàn công tác đến các địa phương, đơn vị để nắm bắt tình hình lao động, việc làm và thực hiện chế độ chính sách đối với người lao động tại các doanh nghiệp; tình hình triển khai thực hiện công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và đi kiểm tra tại các công ty, doanh nghiệp lớn tập trung nhiều lao động làm việc. 
Ngay sau khi kết thúc kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Canh Tý 2020, các doanh nghiệp, công ty lớn trong lĩnh vực sản xuất, lắp ráp điện tử có số lượng công nhân, người lao động đã quay trở lại làm việc đạt 97%. Tính chung số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/02/2020 giảm 4,78% so với cùng thời điểm năm trước. Nguyên nhân giảm chủ yếu là do các doanh nghiệp đã đầu tư ứng dụng máy móc thiết bị tự động nhằm tăng năng suất lao động nên số lượng nhân công giảm; trong đó, lao động giảm chủ yếu ở các đơn vị có vốn đầu tư  trực tiếp nước ngoài, còn các đơn vị doanh nghiệp ngoài quốc doanh vẫn có nhu cầu tuyển thêm lao động để mở rộng sản xuất kinh doanh, như các đơn vị sản xuất sản phẩm may mặc.
Đối với các khu Công Nghiệp, tỉnh Thái Nguyên có trên 222 dự án đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư còn hiệu lực, trong đó, 151 dự án đi vào hoạt động với tổng số lao động xấp xỉ 106.000 người, đã đảm bảo tốt lực lượng để sản xuất kinh doanh.
Do ảnh hưởng của dịch bệnh nên tỉnh Thái Nguyên đã tạm dừng các hoạt động, sự kiện tập trung đông người như hội nghị, phiên giao dịch việc làm, nhất là dừng Ngày hội việc làm Xuân Canh Tý. Thay thế vào đó, ngành chức năng đã phối hợp để thu thập, cập nhật thông tin thị trường lao động, nhu cầu tuyển dụng của các đơn vị, doanh nghiệp; tăng cường tư vấn, định hướng, giới thiệu việc làm, học nghề qua ứng dụng công nghệ thông tin nên vẫn kết nối được người lao động với các đơn vị, doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu lao động việc làm và sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp chủ động tham gia thực hiện giao dịch việc làm, gắn kết chặt chẽ giữa người lao động với doanh nghiệp nên không có tình trạng thiếu nguồn nhân lực, lao động.
Bên cạnh những vấn đề về  dịch bệnh Covid-19, để tránh giảm thiểu tối đa những ảnh hưởng, thiệt hại do dịch bệnh gây ra đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh, tỉnh Thái Nguyên đã kịp thời khuyến cáo, hỗ trợ các doanh nghiệp triển khai những giải pháp thích ứng để ổn định sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, như: Thực hiện nghiêm quy định của ngành chức năng để phòng ngừa dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe của người lao động (cụ thể là người lao động cần đeo khẩu trang, thường xuyên rửa tay bằng dung dịch diệt khuẩn, được kiểm tra thân nhiệt trước khi vào làm việc). Đối với những doanh nghiệp có chuyên gia, người lao động Trung Quốc về nghỉ Tết chưa trở lại làm việc do dịch bệnh, đã kịp thời triển khai phương án bố trí lực lượng lao động thay thế và phương án sản xuất phù hợp, không để ảnh hưởng đến các dự án cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh của đơn vị.
3. Văn hóa, thể thao
Trong tháng 02/2020 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên ngành chức năng tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện về phòng, chống dịch bệnh Covid-19  gây ra tại các điểm di tích, doanh nghiệp, cơ sở lưu trú du lịch; tiếp tục thực hiện công tác giới thiệu, quảng bá du lịch Thái Nguyên trên các phương tiện truyền thông.
Công tác thanh tra, kiểm tra: triển khai kiểm tra việc thực hiện nội dung quảng cáo của 07 tổ chức, cá nhân trên địa bàn thành phố Thái Nguyên; việc thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý và tổ chức lễ hội tại 04 di tích; kiểm tra công tác phòng, chống dịch Covid-19 của các cơ sở lưu trú tại các huyện, thành phố, thị xã. Công tác kiểm tra đã góp phần chấn chỉnh kịp thời các hành vi sai phạm, góp phần tích cực đưa các cơ sở kinh doanh hoạt động theo đúng quy định.
Hoạt động bảo tàng: Thực hiện khảo sát, sưu tầm tài liệu, hiện vật đợt I năm 2020 với chủ đề "Sưu tầm tài liệu, hiện vật về lịch sử cách mạng kháng chiến" trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; đăng ký hiện vật vào sổ kiểm kê 50 hiện vật, sổ phân loại 70 hiện vật; phục vụ 200 lượt khách tham quan.
Hoạt động khu di tích lịch sử và sinh thái ATK - Định Hoá: Thực hiện công tác bảo quản tài liệu, hiện vật (Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà trưng bày Bảo tàng ATK Định Hóa và một số điểm di tích); xây dựng phương án tổ chức triển lãm ảnh  kỷ niệm 130 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; phục vụ 82 đoàn với 5.436 lượt khách.
Hoạt động phát hành phim và chiếu bóng: Tổ chức đợt chiếu phim phục vụ nhân dân nhân dịp Tết Nguyên đán Canh Tý, chào mừng kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam.
Hoạt động biểu diễn, xây dựng đời sống văn hoá cơ sở:  Tổ chức biểu diễn phục vụ các xã đặc biệt khó khăn (02 buổi); tuyên truyền lưu động tại các huyện Đại Từ, Phú Bình (03 buổi); chuẩn bị  xây dựng kế hoạch tập huấn và dàn dựng cho bộ môn sân khấu chèo.
Lĩnh vực thể thao: Phong trào thể dục thể thao quần chúng với phương châm “mỗi người tự chọn cho mình một môn thể thao phù hợp nhằm nâng cao thể chất phục vụ lao động, sản xuất, học tập, công tác” tiếp tục được thực hiện sâu rộng thu hút đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia. Tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo học sinh năng khiếu hệ nội trú, học sinh bán tập trung; xây dựng kế hoạch huấn luyện vận động viên tham các giải toàn quốc.
4. Hoạt động Y tế và dân số
- Công tác khám chữa bệnh: Năm 2020 các hoạt động khám chữa bệnh, thực hiện quy chế chuyên môn được chú trọng nâng cao. Thực hiện triển khai khu vực điều trị cách ly đối với các trường hợp nghi ngờ mắc Covid-19 tại các bệnh viện; rà soát thực trạng và nhu cầu bổ sung trang thiết bị y tế, thuốc, vật tư, hóa chất, phương tiện bảo hộ để phòng chống dịch, kịp thời tổng hợp báo cáo Trung ương.
Từ đầu năm đến nay, ngành chức năng đã thẩm định cho phép tổ chức khám, quản lý và điều trị ngoại trú bệnh Tăng huyết áp cho 3 Trạm y tế cấp xã thuộc thành phố Thái Nguyên, nâng lên tổng số 119 trạm y tế tuyến xã đã thực hiện quản lý bệnh tăng huyết áp. Thẩm định công nhận hồ sơ công bố công bố Khoa Miễn dịch Di truyền phân tử, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên đạt tiêu chuẩn An toàn sinh học  cấp II.
- Chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm: Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm được duy trì thực hiện tốt. Trong 2 tháng năm 2020 không có vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra. Toàn tỉnh đã thực hiện kiểm tra an toàn thực phẩm tại 68 cơ sở, xử lý 20 cơ sở, số tiền xử phạt 16,7 triệu đồng.
- Tình hình dịch bệnh truyền nhiễm: Lũy kế từ đầu năm đến 20/2/2020 trên địa bàn 01 ca mắc bệnh tay chân miệng; 01 ca sốt xuất huyết; 01 ca bị liên cầu lợn.  Riêng trong tháng 02/2020 có 01 ca mắc bệnh tay chân miệng; 01 ca sốt xuất huyết.
* Tình hình phòng chống Dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn: Tính đến ngày 24/2/2020 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên chưa ghi nhận trường hợp nào mắc bệnh Covid -19; những trường hợp nghi ngờ đều có kết quả xét nghiệm âm tính với Covid-19.
Tỉnh Thái Nguyên thực hiện công tác phòng chống dịch theo chỉ đạo của Trung ương, đồng thời chủ động thực hiện các giải pháp quyết liệt như:
Tỉnh đã ban hành các văn bản, chỉ thị chỉ đạo và tổ chức triển khai kiểm tra giám sát; thành lập và kiện toàn BCĐ và tổ giúp việc BCĐ phòng, chống dịch bệnh; thiết lập đường dây nóng qua số điện thoại; ban hành Kế hoạch triển khai hoạt động đáp ứng dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona (nCov) tại tỉnh Thái Nguyên…
Tăng cường thông tin, tuyên truyền qua đài, loa phát thanh, cấp phát tờ rơi, khẩu trang đến người dân trên địa bàn; các địa phương tiếp tục thực hiện tổng vệ sinh, phun tiêu độc, khử trùng tại trên 2,4 nghìn điểm tập trung đông người với diện tích phun thuốc đạt trên 8,8 triệu m2, nhiều điểm đã thực hiện phun tiêu độc, khử trùng lần 2, lần 3; tiến hành rà soát, thống kê số người nước ngoài đang làm việc tại các doanh nghiệp, cũng như số người dân trên địa bàn tỉnh nhập cảnh vào một số nước đang có dịch bùng phát, cũng như số người đi đến hoặc quá cảnh tại các nước có dịch trong thời gian gần đây.
Ngành chức năng tăng cường theo dõi sát diễn biến dịch bệnh, thực hiện nghiêm túc theo chức năng, nhiệm vụ để chủ động ứng phó với mọi tình huống. Chú trọng việc quản lý người dân ở các nước đang bùng phát dịch đi, đến Thái Nguyên và người dân trên địa bàn tỉnh sinh sống tại các nước này khi quay trở lại tỉnh, để có các biện pháp cách ly, quản lý phù hợp, theo quy định; chuẩn bị các điều kiện để bảo hộ công dân Thái Nguyên ở nước ngoài trong cần thiết; thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch khi học sinh đi học trở lại…
Công tác kiểm tra, giám sát: thực hiện kiểm tra giám sát các nội dung, hoạt động phòng, chống dịch trên toàn tỉnh theo ngành, lĩnh vực được phân công; tăng cường nắm bắt các thông tin người dân đi, đến từ vùng dịch; thực hiện các đoàn kiểm tra, kiểm soát việc kinh doanh các mặt hàng như khẩu trang, nước sát khuẩn…
- Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn: Lũy tích số nhiễm HIV/AIDS đến 31/01/2020 là 9.554 người, số chuyển sang AIDS là 6.400 người, số tử vong do AIDS là 3.942 người. Riêng trong tháng 1/2020 đã phát hiện 22 người nhiễm HIV/AIDS, số chuyển sang AIDS là 3 người, số tử vong do AIDS là 4 người.
- Dân số và trẻ em: Tháng 1/2020, tổng số trẻ mới sinh ra là 1.092 trẻ, trong đó trẻ mới sinh có giới tính nam là 600 trẻ, trẻ nữ là 492 trẻ. Tỷ số giới tính khi sinh nam/nữ là 122/100. Trong tổng số trẻ sinh ra thì số trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên là 189 trẻ (chiếm 17,3% tổng số trẻ sinh ra).Trong đó, huyện Phú Bình cao nhất với 47 trẻ; huyện Đại Từ 32 trẻ; thị xã Phổ Yên 28 trẻ…
5. Giáo dục, đào tạo
Trong tháng 2/2020  các địa phương thực hiện nghiêm khung kế hoạch thời gian năm học 2020-2020. Ngành chức năng chủ động tham mưu kịp thời với cơ quan chức năng tổ chức tuyên truyền và chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị trong ngành thực hiện nghiêm túc công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Đồng thời hướng dẫn, tổ chức cho các học sinh học tập trong thời gian nghỉ học tại nhà bằng phương pháp trực tuyến qua mạng, chuẩn bị tốt các điều kiện đảm bảo an toàn cho học sinh sau khi trở lại trường học tập.
Tính đến thời điểm 15/2/2020 toàn ngành có 572/683 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 83,75%. Trong đó: Mầm non đạt 192/240 trường với tỷ lệ 80%; Tiểu học có 208/218 trường, đạt tỷ lệ 95,41%; THCS có 151/192 trường, đạt tỷ lệ 78,65%; THPT có 21/33 trường, đạt tỷ lệ 63,64%.
6. Tình hình trật tự, an toàn giao thông
 Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh Thái Nguyên, trong tháng 02/2020  (tính từ 15/ 01/2020 đến 14/02/2020) trên địa bàn xảy ra 4 vụ tai nạn giao thông đường bộ, không có người chết và 11 người bị thương. Tai nạn liên quan đến ô tô 3 vụ (75%); liên quan đến mô tô 01 vụ (25%). Thiệt hại tài sản ước tính khoảng 111 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2019 số vụ tai nạn giảm 2 vụ (-33,33%); số người chết giảm 01 người (-100%) và số người bị thương tăng 07 người (tương ứng tăng 175%). Không xảy ra tai nạn giao thông trên đường sắt, đường thủy.
 Tính chung 02 tháng năm 2020, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 12 vụ tai nạn giao thông, làm chết 03 người và 16 người bị thương. So với cùng kỳ năm 2019 số vụ tai nạn giảm 4 vụ (-25%), số người bị chết giảm 05 người (-62,5%) và số người bị thương tăng 8 người (+100%).
Trong tháng 02/2020 ngành chức năng đã kiểm tra lập biên bản xử lý vi phạm 2.047 trường hợp; tước 198 giấy phép lái xe; tạm giữ  50 xe ô tô, 221 xe mô tô; 01 phương tiện khác. Số tiền xử phạt 2,2 tỷ đồng.
Đường thủy nội địa xử lý 02 trường hợp vi phạm, thu nộp ngân sách là 300 nghìn đồng.
7. Tình hình cháy nổ
Công tác phòng cháy, chữa cháy đã được cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra và nhắc nhở nhằm hạn chế các vụ cháy nổ xảy ra.
Trong tháng 2 năm 2020 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 6 vụ cháy nhỏ, không phát sinh vụ nổ, trong đó có 04 vụ cháy xảy ra tại Thành phố Thái Nguyên, 01 vụ cháy xảy ra tại TP Sông Công và 01 vụ xảy ra tại huyện Đại Từ; không gây thiệt hại về người; giá trị tài sản thiệt hại ước khoảng 470,3 triệu đồng, giảm 24% so cùng kỳ (tháng 2/2020 thiệt hại do cháy là 619 triệu đồng). Lũy kế 2 tháng đầu năm 2020 có 10 vụ cháy, không có vụ nổ; thiệt hại khoảng 474,3 triệu đồng, giảm 32% so cùng kỳ.
8. Vi phạm môi trường
Trong 2 tháng đầu năm 2020 trên địa bàn tỉnh ngành chức năng đã kiểm tra và xử lý 04 vụ vi phạm môi trường, với tổng số tiền xử phạt khoảng 235 triệu đồng. Nguyên nhân của các vụ xử lý trên là do các cơ sở sản xuất kinh doanh không thực hiện quan trắc giám sát môi trường định kỳ theo đề án bảo vệ môi trường được ngành chức năng trường xác nhận. Riêng tháng 2/2020 không có vụ vi phạm về môi trường.
Trên đây là một số tình hình về kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên tháng 02 năm 2020./.

 

Nguồn tin: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên