Báo cáo phân tích chuyên đề: Tình hình đầu tư, sản xuất kinh doanh của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và những tác động đến Kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên

Thứ tư - 29/08/2018 15:36
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có đóng góp rất lớn đối với Quốc gia, đặc biệt là một nước đang có tiềm năng phát triển như nước ta. Hoạt động của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài góp phần làm tăng thêm của cải và nâng cao sức cạnh tranh của các mặt hàng trong nước, đẩy mạnh chuyển đổi công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm của các cơ cấu ngành nghề trong nước, giải quyết một số lượng lớn việc làm của người lao động trong nước.
Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nói chung và đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay có các dự án thuộc tập đoàn Samsung lựa chọn Thái Nguyên làm địa điểm để đầu tư, sản xuất các sản phẩm công nghệ cao nói riêng đã đóng góp làm tăng quy mô giá trị sản xuất và tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP), tác động  đến tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu ngân sách, xuất khẩu, tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo và ổn định đời sống dân cư.
Qua việc phân tích, đánh giá đúng thực trạng, tác động của các dự án sản xuất các sản phẩm công nghệ cao của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đến tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh từ đó tìm ra các mặt tích cực và tiêu cực ảnh hưởng đến tiến trình phát triển trong giai đoạn tới; là cơ sở đưa ra các giải pháp điều tiết kinh tế phù hợp giữa các thành phần kinh tế, từ đó thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển, đóng góp tích cực vào việc phát triển kinh tế xã hội chung của tỉnh.
I. Tổng quan về doanh nghiệp và tình hình đầu tư của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010-2017
1. Tổng quan về doanh nghiệp tỉnh Thái Nguyên
Doanh nghiệp có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước. Hàng năm doanh nghiệp góp phần quyết định vào tăng trưởng kinh tế, thu ngân sách, xuất khẩu, tham gia hiệu quả trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội. Khu vực doanh nghiệp là bộ phận không thể thiếu và ngày càng đóng vai trò tích cực vào tăng trưởng, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, góp phần tăng thu nhập cho người lao động, tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo.
Số lượng doanh nghiệp và lao động làm việc trong các doanh nghiệp liên tục tăng cao. Theo kết quả điều tra doanh nghiệp hàng năm, tại thời điểm 01/01/2010 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 1.771 doanh nghiệp và hợp tác xã thực tế đang sản xuất kinh doanh, với số lao động là 67,2 nghìn lao động; trong đó doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là 10 doanh nghiệp, với số lao động là 2 nghìn lao động, chiếm 0,6% về số lượng doanh nghiệp và chiếm 3% về số lao động làm việc trong các doanh nghiệp trên địa bàn. Nguồn vốn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đạt 27,1 nghìn tỷ đồng (doanh nghiệp nhà nước chiếm 41,5%; doanh nghiệp ngoài nhà nước 55,5% và doanh nghiệp FDI chiếm 3%). Quy mô nguồn vốn bình quân/1 doanh nghiệp nói chung là 15,3 tỷ đồng, trong đó doanh nghiệp có vốn trong nước là 14,9 tỷ đồng/doanh nghiệp, doanh nghiệp FDI là 80,3 tỷ đồng/doanh nghiệp. Nếu chia theo khu vực kinh tế: Các doanh nghiệp thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản thời điểm 01/01/2010 vốn sản xuất kinh doanh là 684,4 tỷ đồng (chiếm 2,5% toàn bộ doanh nghiệp), các doanh nghiệp hoạt động trong khu vực công nghiệp và xây dựng có số vốn sản xuất kinh doanh cao nhất, đã  thu hút 17,3 nghìn tỷ đồng (chiếm 63,8% tổng vốn của doanh nghiệp cả tỉnh). Các doanh nghiệp hoạt động ở khu vực dịch vụ có số vốn sản xuất kinh doanh là 9,1 nghìn tỷ đồng (chiếm 33,7% tổng số).
Sau 7 năm, theo kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2017, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 3.188 doanh nghiệp, hợp tác xã (trong đó có 2.894 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh và 294 doanh nghiệp đang đầu tư chưa đi vào sản xuất kinh doanh). Tổng số lao động của các doanh nghiệp, hợp tác xã tại thời điểm 01/01/2017 là 199,2 nghìn lao động với tổng nguồn vốn là 309,4 nghìn tỷ đồng, trong đó nguồn vốn chủ sở hữu là 146,75 nghìn tỷ đồng, chiếm 47,4%. Thu nhập bình quân người lao động/tháng đạt 9,2 triệu đồng, trong đó ngành công nghiệp chế biến chế tạo đạt 10,5 triệu đồng/tháng. Đóng góp vào ngân sách Nhà nước 6,6 nghìn tỷ đồng. So với năm 2010, số doanh nghiệp đang hoạt động năm 2017 gấp 1,63 lần, số lao động gấp gần 3 lần. Bình quân hàng năm giai đoạn 2011-2017 số doanh nghiệp tăng 7,3%/năm nhưng số lao động tăng bình quân tăng cao, đạt mức tăng 16,8%/năm.
Trong tổng số doanh nghiệp và hợp tác xã trên địa bàn năm 2017 có 81 doanh nghiệp FDI đang hoạt động với gần 100 nghìn lao động làm việc (chiếm gần 50% số lao động làm trong khu vực doanh nghiệp, hợp tác xã). So với năm 2010, số doanh nghiệp FDI tăng 71 doanh nghiệp (gấp 8,1 lần) và số lao động tăng 87,3 nghìn người (gấp 49,6 lần). Bình quân hàng năm giai đoạn 2011-2017 số doanh nghiệp tăng 34,8%/năm nhưng số lao động tăng bình quân tăng cao, đạt mức tăng 74,7%/năm. Nguồn vốn bình quân 173,4 nghìn tỷ đồng, trong đó vốn chủ sở hữu là 85,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 50% tổng nguồn vốn. Thu nhập bình quân người lao động/tháng đạt 12,2 triệu đồng. Đóng góp vào thu ngân sách khoảng 3 nghìn tỷ đồng/năm.
Nguồn vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tăng vượt bậc do có sự đầu tư của các dự án đầu tư FDI từ năm 2013 và làn sóng các dự án đầu tư  vào tỉnh Thái Nguyên trong những năm 2014, 2015 và năm 2016. Tính đến thời điểm ngày 01/01/2017, tổng nguồn vốn sản xuất kinh doanh của khối doanh nghiệp nói chung là 309,4 nghìn tỷ đồng, trong đó, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng 60,5% tổng vốn; tiếp đến là khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước chiếm tỷ trọng 31,9% và khu vực doanh nghiệp Nhà nước chiếm tỷ trọng thấp nhất với 7,6%. Như vậy cơ cấu nguồn vốn đã có sự thay đổi, từ chiếm tỷ trọng nhỏ nhất (dưới 3%) trong tổng nguồn vốn chung khối doanh nghiệp ở năm 2010, thì đến năm 2017 khu vực doanh nghiệp FDI  đã dẫn đầu và chiếm tỷ trọng lớn nhất về nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp trên địa bàn.
Trong tổng nguồn vốn 2017, nguồn vốn chủ sở hữu chiếm 47,6%, trong đó doanh nghiệp FDI vốn chủ sở hữu chiếm 60,8%; còn lại là nguồn vốn vay và tín dụng.
Về quy mô nguồn vốn bình quân/1 doanh nghiệp tại thời điểm 01/01/2017 là 106,9 tỷ đồng, trong đó doanh nghiệp có vốn trong nước là 43,5 tỷ đồng/doanh nghiệp, doanh nghiệp FDI là 2.309,6 tỷ đồng/doanh nghiệp. So với năm 2010, quy mô nguồn vốn bình quân/doanh nghiệp tăng 91,6 tỷ đồng/doanh nghiệp (gấp 7 lần), trong đó, doanh nghiệp có vốn trong nước tăng 28,6 tỷ đồng/doanh nghiệp (gấp 3 lần); doanh nghiệp FDI tăng 2.229,3 tỷ đồng/doanh nghiệp (gấp gần 28,7 lần) so với năm 2010.
Nếu tính riêng doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao - sản phẩm điện tử, viễn thông thì nguồn vốn của các doanh nghiệp này khoảng 140 nghìn tỷ đồng, chiếm 75% tổng nguồn vốn doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp này  đều thuộc nhóm doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và toàn bộ là từ nhà đầu tư Hàn Quốc.
2. Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh
Hiện nay tỉnh Thái Nguyên có 6 khu công nghiệp với tổng diện tích 1.420 ha, trong đó đã có 5 khu công nghiệp đã được đầu tư hạ tầng và có các nhà đầu tư. Về cụm công nghiệp, Thái Nguyên đã quy hoạch 35 cụm công nghiệp với tổng diện tích 1.259 ha.
Tính đến 31/12/2017 Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 125 dự án Đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký là 7.262,35 triệu USD; vốn đầu tư thực hiện lũy kế đến hết năm 2017 là 6.578,6 triệu USD, trong đó có 102 dự án công nghiệp chế biến, chế tạo với tổng vốn đăng ký là 7.195,43 triệu USD và vốn thực hiện lũy kế là 6.553,2 triệu USD; còn lại là 7 dự án hoạt động chuyên ngành xây dựng; 15 dự án về thương mại dịch vụ và 1 dự án hoạt động ngành nông nghiệp.
Xét về tiêu chí vốn đầu tư, có 04 dự án có vốn đầu tư đăng ký từ 100 triệu USD trở lên. Xét về tiêu chí diện tích đất sử dụng, có 02 dự án có diện tích đất sử dụng từ 50 ha trở lên. Trong đó các dự án do đối tác đầu tư từ Hàn Quốc là 94 dự án với vốn đăng ký là 7,05 tỷ USD với vốn thực hiện lũy kế là 6,4 tỷ USD, trong đó riêng dự án của Samsung Thái Nguyên vốn đầu tư và 5 tỷ USD; còn lại 31 dự án nhỏ, do các đối tác đầu tư từ 8 quốc gia (Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Singapo, Đức; Malaysia, Brunei và Hồng Kông) với tổng cộng vốn đăng ký là 208,96 triệu (Trung Quốc 10 dự án, vốn đăng ký là 35 triệu USD, vốn thực hiện 25,44 triệu USD; Đài Loan 7 dự án, vốn đăng ký là 18 triệu USD, vốn thực hiện là 8 triệu USD; Nhật Bản 4 dự án, vốn đăng ký là 98,1 triệu USD, vốn thực hiện là 86,53 triệu USD; Singapo 1 dự án với vốn đăng ký là 21,7 triệu USD, vốn thực hiện là 17,2 triệu USD...)
Trong các dự án của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trên có 102 dự án hoạt động ngành công nghiệp chế biến chế tạo còn hiệu lực. Từ năm 2013 trên địa bàn bắt đầu có các dự án sản xuất sản phẩm công nghệ cao thuộc khu vực FDI, tạo ra một làn sóng các nhà đầu tư chọn Thái Nguyên là địa điểm đầu tư. Nếu như giai đoạn tính từ năm 1993 đến 2017 có tổng số 158 dự án được cấp giấy phép hoạt động thì trong khoảng thời gian từ năm 1993-2012, tức là trong 20 năm của giai đoạn này chỉ có 49 dự án đến Thái Nguyên xin phép đầu tư, trong khi đó, chỉ trong 5 năm, từ năm 2013 đến năm 2017 đã có 109 dự án được cấp phép đầu tư tại Thái Nguyên, gấp hơn 2 lần so với số dự án được cấp phép trong 20 năm (của giai đoạn 1993-2012).
Trong số các dự án sản xuất sản phẩm công nghệ cao thuộc khu vực FDI, dự án đầu tiên đầu tư vào tỉnh Thái Nguyên là dự án của tập đoàn điện tử Samsung vào năm 2013 đã tổ chức khởi công xây dựng dự án Tổ hợp công nghệ cao tại Thái Nguyên trị giá 2 tỉ đô la Mỹ với ngành nghề sản xuất là sản xuất, lắp ráp điện thoại di động và các sản phẩm công nghệ cao, công suất thiết kế đạt khoảng 100 triệu sản phẩm mỗi năm. Dự án Samsung đã trở thành dự án hàng tỷ USD đầu tiên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Tiến độ giải phóng mặt bằng và thời gian thi công nhanh, diện tích đầu tư rộng với quy mô khoảng 200 ha. Sau một năm triển khai đầu tư, đến đầu năm 2014, nhà máy đầu tiên của dự án, chuyên sản xuất thiết bị điện thoại di động và các linh kiện cho điện thoại di động đã đi vào các công đoạn sản xuất thử và sản xuất hoàn thiện, thu hút số lượng lớn lao động và tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp tăng đột biến so với giai đoạn trước đó. Năm 2015 tập đoàn Samsung tiếp tục đầu tư dự án Tổ hợp công nghệ cao Samsung Thái Nguyên giai đoạn 2 với vốn đăng ký 3 tỷ USD…
Hiện nay các dự án Khu tổ hợp sản xuất của Samsung tại Thái Nguyên đang đi vào sản xuất ổn định và phát triển. Sau Samsung, hàng loạt các dự án đầu tư trong và ngoài nước đăng ký đầu tư tại Thái Nguyên. Đến nay có hàng chục dự án đã và đang đi vào hoạt động. Nhiều dự án án đầu tư khác đang được xúc tiến đầu tư. Các dự án sản xuất sản phẩm công nghệ cao đã có tác động mạnh mẽ đến kinh tế, xã hội của tỉnh Thái Nguyên.
Các dự án của Tập đoàn Samsung góp phần để tỉnh Thái Nguyên đã có bước tiến vượt bậc và là điểm sáng về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Nếu như cuối năm 2012, Thái Nguyên đứng ở vị trí 44/63 tỉnh, thành phố thu hút FDI trong cả nước, thì đến năm 2014, Thái Nguyên là tỉnh đứng đầu cả nước thu hút FDI. Tính chung trong giai đoạn 2011-2017, tỉnh có khoảng 700 dự án đầu tư, trong đó có 115 dự án FDI với tổng vốn đầu tư là trên 7 tỷ USD, đứng thứ 10/63 tỉnh, thành phố có vốn FDI.
Cùng với sự có mặt của Samsung đến nay đã có nhiều nhà đầu tư đến từ Hàn Quốc về đầu tư trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Những dự án đầu tư này đã trực tiếp trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị của Samsung, những công ty này đã tham gia sản xuất các phụ kiện để tạo ra những sản phẩm điện tử thông minh hoàn thiện như điện thoại, máy tính…mang nhãn hiệu Samsung xuất xứ tại Thái Nguyên xuất khẩu đến thị trường các nước trên thế giới.
Đến nay sau 4 năm chính thức đi vào hoạt động, đã có khoảng 100 dự án đã đầu tư vào các khu công nghiệp của tỉnh Thái Nguyên. Đi liền với các doanh nghiệp phụ trợ đến từ Hàn Quốc, hàng loạt các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất trong nước và trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên cũng đã trở thành mắt xích phục vụ cho dự án Samsung, như các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ vệ sinh công nghiệp, dịch vụ an ninh, cung cấp thực phẩm, cung cấp vật liệu xây dựng… Do số lao động làm việc trong chuỗi giá trị của Samsung lớn vào khoảng 100 nghìn người, trong đó trực tiếp làm việc cho Samsung là gần 70 nghìn người nên nhu cầu nhà ở xã hội, nhu cầu tiêu dùng đã tăng mạnh. Vì vậy các dự án phát triển khu dân cư, khu đô thị, nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân, hệ thống khách sạn, nhà hàng đã phát triển hơn. Đến nay, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã có khoảng 15 dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội; ngoài ra hiện nay các nhà đầu tư trong nước và quốc tế đang quan tâm thực hiện đầu tư các dự án xử lý chất thải rắn, chất thải công nghiệp. Thái Nguyên đang phối hợp với các nhà đầu tư phát triển các khu đô thị văn minh, hiện đại nhằm phục tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp.
Nhằm tiếp tục đẩy mạnh thu hút đầu tư vào tỉnh Thái Nguyên, góp phần hoàn thành mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương, sớm đưa tỉnh Thái Nguyên trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại. Tháng 7/2018 tỉnh Thái Nguyên đã tổ chức Hội nghị xúc tiến đầu tư năm 2018 với chủ đề “Thái Nguyên - tiềm năng phát triển và cơ hội đầu tư”. Kết quả tại Hội nghị đã có 50 dự án đã được trao Quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, biên bản ghi nhớ đầu tư với tổng vốn đầu tư gần 47 nghìn tỷ đồng. Tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ triển khai các dự án đầu tư vào tỉnh nhằm huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị trong việc giải quyết, tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp, nhà đầu tư. Coi sự phát triển của doanh nghiệp, nhà đầu tư là sự phát triển chung của tỉnh.
II. Những tác động tích cực của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên
1. Kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực
Sự có mặt của các Tập đoàn đa Quốc gia, Tập đoàn kinh tế lớn trong và ngoài nước đến đầu tư đã thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên phát triển và tăng trưởng kinh tế đạt cao so với tốc độ tăng trưởng chung của cả nước, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, hiện đại.
Tốc độ tăng trưởng Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) bình quân hàng năm giai đoạn 2011-2017, đạt 15,5%/năm, trong đó khu vực doanh nghiệp tăng bình quân 28,8%/năm (cao hơn 14 điểm phần trăm so với tốc độ tăng trưởng bình quân chung), đóng góp trên 11,5 điểm phần trăm vào tốc độ tăng trưởng chung. Về tỷ trọng GRDP, khu vực doanh nghiệp chiếm 72,2% tổng số. Về đóng góp vào ngân sách nhà nước, doanh nghiệp chiếm khoảng 76% tổng thu cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn… Như vậy, khu vực doanh nghiệp là bộ phận không thể thiếu và ngày càng đóng vai trò tích cực vào tăng trưởng, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, góp phần tăng thu nhập cho người lao động, tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo.
Đặc biệt là từ khi Thái Nguyên thành lập Khu công nghiệp Yên Bình tại thị xã Phổ Yên với trọng tâm là tổ hợp các nhà máy và các vệ tinh của công ty Samsung Việt Nam Thái Nguyên vào năm 2013, đến tháng 3/2014 bắt đầu có sản phẩm đầu tiên, đã đóng góp lớn vào tốc độ tăng trưởng chung của tỉnh. Tốc độ tăng GRDP bình quân hàng năm giai đoạn 4 năm (2014-2017) đạt mức tăng 22,7%/ năm;  nếu loại trừ sản xuất sản phẩm công nghệ cao của khu vực FDI  thì bình quân giai đoạn này GRDP đạt mức tăng là 8,7%/năm.
Năm 2017, khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao; trong đó ngành công nghiệp tăng trưởng 18,82% so với cùng kỳ. Bên cạnh ngành công nghiệp tăng trưởng cao, lực lượng lao động có sự chuyển dịch lớn về tỉnh Thái Nguyên trong bốn năm gần đây dẫn đến nhu cầu tiêu dùng về hàng hóa, dịch vụ nhà ở, lưu trú, ăn uống... cũng tăng lên, góp phần thúc đẩy tăng trưởng ngành dịch vụ năm 2017, đạt mức 7,6%.
Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) bình quân đầu người năm 2017 đã đạt 68 triệu đồng/người/năm, tăng hơn 16,7 triệu đồng/người/năm so với năm 2015 và gấp 3,2 lần so với năm 2010. Nếu tính theo Đô la Mỹ, GRDP bình quân đầu người tỉnh Thái Nguyên năm 2017 đạt 2.992 USD/người/năm, vượt so với mức 2.389 USD/người của bình quân chung cả nước.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Năm 2017, cơ cấu kinh tế khu vực công nghiệp xây dựng chiếm cao nhất với mức 56,4%; nếu không tính sản xuất sản phẩm công nghệ cao thì cơ cấu kinh tế khu vực này chỉ đạt khoảng 38%. Mức chuyển dịch này tăng nhanh và rõ nét: Năm 2013 (khi chưa có sản phẩm của dự án samsung) thì khu vực công nghiệp xây dựng chỉ chiếm 35,2%; đến năm 2014 đã tăng lên chiếm 45,6% tổng GRDP và đến năm 2017 đã chiếm tỷ trọng 56,4% trong tổng GRDP của tỉnh. Trong khi đó khu vực nông lâm nghiệp thủy sản tỷ trọng giảm từ 20,5% ở năm 2010 xuống 18,3% ở năm 2014 và đạt cơ cấu 11,6% ở năm 2017.
2. Sản xuất công nghiệp tăng vượt bậc, thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu và tăng thu ngân sách trên địa bàn
Trong những năm gần đây, Thái Nguyên là tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định so với tốc độ tăng trưởng chung của cả nước, cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng tích cực, hiện đại. Đặc biệt là từ khi thành lập KCN Yên Bình, TX Phổ Yên với trọng tâm là tổ hợp các nhà máy và các vệ tinh của công ty TNHH Electrocnics Samsung Việt Nam Thái Nguyên vào năm 2013 thì thu NSNN trên địa bàn tỉnh đã đạt những thành tựu đáng kể, từ năm 2013 đến năm 2017 Thái Nguyên có số thu ngân sách tăng cao, xuất khẩu tăng vượt bậc tỷ lệ thuận với giá trị sản xuất ngành công nghiệp của khu vực FDI.
Giá trị sản xuất công nghiệp cả năm 2017 trên địa bàn tỉnh (theo giá so sánh năm 2010) đạt hơn 571,4 nghìn tỷ đồng, đạt cao nhất từ trước đến nay, gấp 23 lần so với năm 2010 và đạt tốc độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2011-2017 là 56,4%/năm. Trong đó, giá trị sản xuất công nghiệp 2017 của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 533,3 nghìn tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 92,6% giá trị công nghiệp toàn tỉnh) và gấp 24,5 lần so với năm 2010 và đạt tốc độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2011-2017 là 119,5%/năm. Trong khu vực FDI, giá trị sản xuất sản phẩm công nghệ cao - nhóm sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học đạt 525 nghìn tỷ đồng, chiếm 98,4% tổng khu vực FDI; còn lại công nghiệp trong nước chỉ chiếm tỷ trọng 7,4% (công nghiệp địa phương chiếm 4,1% và công nghiệp Nhà nước Trung ương chiếm 3,3%);
Sản phẩm công nghiệp trên địa bàn đa dạng hơn, xuất hiện nhiều sản phẩm công nghiệp mới so với năm 2010. Sản phẩm chủ lực trên địa bàn và tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp lớn nhất là điện thoại thông minh, máy tính bảng và linh kiện điện tử. Năm 2017, sản phẩm điện thoại thông minh đạt xấp xỉ 100 triệu sản phẩm, đạt năng lực thiết kế, gấp 3,3 lần so với năm 2014 (là năm bắt đầu có sản xuất sản phẩm công nghệ cao trên địa bàn tỉnh); máy tính bảng đạt 23 triệu sản phẩm, gấp 2,02 lần so với năm 2014. Ngoài ra các doanh nghiệp vệ tinh của Samsung còn sản xuất các linh kiện phụ trợ sản xuất sản phẩm công nghệ cao như: tai nghe, camera truyền hình, mạch điện tử tích hợp...
Dấu ấn của sản xuất sản phẩm công nghệ cao thể hiện rõ nhất ở giá trị xuất khẩu trong năm 2017 trên địa bàn, đạt 22,7 tỷ USD, gấp 230 lần so với năm 2010 và gấp 2,9 lần so với năm 2014. Có thể nói đây là số tăng ngoạn mục nhất từ trước đến nay có sự đóng góp chủ yếu từ giá trị xuất khẩu của Samsung chiếm 97,5% tổng xuất khẩu trên địa bàn, và đóng góp hơn 20% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
Giá trị nhập khẩu năm 2017 đạt 13,8 tỷ USD, gấp 46 lần so với năm 2010. Trong đó: Khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 231 triệu USD, tăng 9,5% so năm 2010; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 13,6 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 98,3% tổng giá trị nhập khẩu và gấp 68 lần so với năm 2010. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội cả năm 2017 đạt 28,4 nghìn tỷ đồng, gấp 2,9 lần so với năm 2010.
Bên cạnh giá trị xuất, nhập khẩu, giá trị sản xuất công nghiệp thì chỉ tiêu về thu ngân sách từ năm 2014 đến 2017 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đạt khá cao. Do thu hút được nhiều doanh nghiệp vệ tinh, từ đó góp phần làm tăng thu ngân sách nhà nước từ các khoản thuế, phí, lệ phí phát sinh từ hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2017 đạt 12.643 tỷ đồng, gấp 4,6 lần so với năm 2010 và gấp 2,7 lần so với năm 2013 (là năm chưa có samsung tại Thái Nguyên). Mặc dù là những năm đầu đi vào hoạt động tại Thái Nguyên, Samsung đang được hưởng những ưu đãi theo pháp luật Việt Nam, nhưng Samsung đã có những đóng góp đáng kể cho thu ngân sách của tỉnh. Riêng trong năm 2017, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nộp ngân sách Nhà Nước đạt 1.911 tỷ đồng và thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 2.718 tỷ đồng. Đây sẽ là nguồn lực để tăng thêm sức mạnh cho kinh tế, tăng thêm nguồn lực phục vụ cho việc đầu tư và phát triển của tỉnh Thái Nguyên.
3. Lao động làm việc trong các doanh nghiệp tăng lên, đặc biệt là lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng đột biến, góp phần giải quyết việc làm, ổn định đời sống dân cư
Năm 2010 lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên là 67,2 nghìn lao động, trong đó lao động làm việc trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 2 nghìn lao động (chiếm 3%) so với tổng lao động làm việc trong các doanh nghiệp trên địa bàn. Sau 7 năm, theo kết quả Tổng điều tra kinh tế 2017, tổng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp là 197,8 nghìn người, trong đó, số lao động thuộc khu vực kinh tế trong nước là 98,45 nghìn người, lao động khu vực FDI là 99,34 nghìn người. Trong đó, lao động nữ trong các doanh nghiệp chiếm 56,7% tổng số (doanh nghiệp vốn trong nước lao động nữ chiếm 37%, doanh nghiệp FDI có số lao động nữ chiếm 76,1%).
So với năm 2010, số lao động trong doanh nghiệp cao gấp 2,9 lần và đạt tốc độ tăng lao động bình quân 16,7%/năm; trong đó lao động làm việc trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài cao gấp gần 50 lần. Số lao động làm việc trong khu vực FDI tăng đột biến từ năm 2014, khi nhà máy đầu tiên của dự án chuyên sản xuất thiết bị điện thoại di động và các linh kiện cho điện thoại di động đi vào sản xuất, tạo ra sản phẩm mới. Tính đến 01/01/2015 lao động khu vực FDI là 57,4 nghìn người, gấp 6,9 lần so với năm 2013; trong đó lao động sản xuất các sản phẩm công nghệ cao - thuộc nhóm sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học là 45,7 nghìn người, trong khi lao động nhóm này năm 2010 hầu như chưa có trên địa bàn. Số lượng lao động khu vực FDI tăng liên tục kể từ năm 2014. Đầu năm 2016 lao động khu vực FDI đã tăng lên 92,6 nghìn người và đến 01/01/ 2017 đã đạt 99,3 nghìn người, gấp 49,6 lần so với đầu năm 2010 và gấp 11,9 lần so với đầu năm 2014. Trong tổng số 99,3 nghìn lao động làm việc trong khu vực FDI thì có 86,5 nghìn lao động (chiếm 87%) làm việc trong nhóm sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học. Trong đó lao động nữ làm việc trong nhóm ngành này chiếm đại đa số (chiếm gần 80%).
Như vậy, tác động mạnh mẽ nhất của các dự án đầu tư FDI là góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho người lao động, trên cả  hai phương diện: trực tiếp và gián tiếp.
Tác động trực tiếp từ nguồn vốn FDI thể hiện qua các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Trong những năm qua, số việc làm trực tiếp trong các doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên liên tục tăng lên, góp phần tích cực vào giải quyết việc làm cho người lao động trên toàn tỉnh, đặc biệt là từ năm 2014 khi dự án sản xuất sản phẩm công nghệ cao của khu vực FDI bắt đầu đi vào hoạt động. Năm 2010, số lao động trong các doanh nghiệp phân theo loại hình doanh nghiệp như sau: Lao động trong doanh nghiệp Nhà nước là 18.044 người, doanh nghiệp ngoài Nhà nước là 47.133 người, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 2.003 người. Năm 2014 con số này tăng lên theo thứ tự là 18.327; 57.004; 8.316 người. Có thể thấy, lao động trong khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh nhất, kéo theo là doanh nghiệp ngoài Nhà nước cho thấy tác động tích cực từ việc xuất hiện và mở rộng thêm doanh nghiệp FDI ở toàn tỉnh.
Tác động gián tiếp, bởi sự có mặt của các doanh nghiệp FDI đã kéo theo sự xuất hiện và phát triển mạnh các ngành khác như kết cấu hạ tầng, dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống, từ đó cũng tạo ra nhiều việc làm mới cho người lao động trên địa bàn tỉnh.
Vốn đầu tư FDI đã tạo cơ hội cho người dân có thêm khả năng tìm kiếm hoặc tự tạo việc làm, mở thêm ngành nghề mới, qua đó, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người dân, đồng thời tạo cơ hội và điều kiện cho sự hình thành và phát triển thị trường lao động trên địa bàn tỉnh. Sự gia tăng nguồn vốn đầu tư FDI kéo theo sự gia tăng nhu cầu về các dịch vụ sản xuất và đời sống với những yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, vì vậy đã tạo cơ hội và điều kiện cho người dân, nơi các doanh nghiệp hoạt động phát triển sản xuất hàng hóa theo hướng ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ hiện đại. Đây là bước chuyển lớn về hình thức kinh doanh của người dân từ chỗ nhỏ lẻ, biệt lập lên sản xuất tập trung theo hướng sản xuất hàng hóa, với năng suất, chất lượng cao theo phương pháp công nghiệp, đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Ngoài khả năng giải quyết việc làm cho lao động trực tiếp thì nguồn vốn FDI cũng đóng vai trò quan trọng đối với lao động gián tiếp của các thành phần kinh tế khác. Vì thế, số lượng lao động tăng thêm từ nguồn vốn FDI vào tỉnh Thái Nguyên gia tăng đáng kể. Giải quyết được khối lượng lớn việc làm như trên không chỉ tác động lớn đến kinh tế và còn giải quyết được nhiều vấn đề xã hội liên quan.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thái Nguyên góp phần nâng cao chất lượng lao động. Chất lượng lao động có ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. Sự có mặt của các doanh nghiệp không những góp phần giải quyết việc làm cho lực lượng lớn lao động, mà còn góp phần gia tăng chất lượng nguồn lao động, kể cả lao động quản lý và kỹ năng của người lao động trực tiếp theo phương pháp công nghiệp thông qua việc đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân ở doanh nghiệp FDI.
Thực tế cho thấy, để đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp FDI, người làm công tác quản lý và công nhân phải rèn luyện về chuyên môn, tay nghề, từng bước tiếp cận với khoa học công nghệ, tác phong công nghiệp hiện đại, có kỷ luật lao động cao…
Sản xuất của khu vực FDI còn góp phần thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu lao động. Với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh đã tạo điều kiện cho Thái Nguyên có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội nhanh hơn, các nhà máy, khu công nghiệp đi vào hoạt động sẽ giải quyết việc làm cho số lượng lớn lao động, góp phần thay đổi cơ cấu lao động.
Thứ nhất, sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo khu vực kinh tế. Nếu như vào năm 2010, lao động nông nghiệp chiếm 66,72%, lao động công nghiệp và xây dựng chiếm 15,61%, lao động dịch vụ 17,67% thì đến năm 2014, tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm xuống còn 55,34%, công nghiệp và xây dựng tăng lên thành 23,26% và dịch vụ là 21,39% và đến năm 2017 lao động nông nghiệp giảm xuống còn 43,81%, công nghiệp và xây dựng tăng lên thành 30,94% và dịch vụ là 25,25%
Thứ hai, phân theo cấp quản lý và loại hình kinh tế cũng có sự chuyển dịch mạnh mẽ. Năm 2010, lao động làm việc trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chỉ chiếm 0,8% trong tổng dân số của tỉnh, trong khi đó lao động ở Nhà nước là 10,5% và ngoài Nhà nước là 88,7% thì đến năm 2014 con số này tăng mạnh, lao động khu vực FDI lên tới 8%, Nhà nước là 10,1%, lao động ngoài Nhà nước giảm còn 81,8% và đến năm 2017, lao động khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 13,4%, lao động khu vực Nhà nước chiếm 9,6% và lao động ngoài Nhà nước giảm còn 77%.
Góp phần giải quyết vấn đề xã hội, các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Thái Nguyên đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, đặc biệt là lao động trẻ ở tỉnh. Qua đó, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động, giảm tệ nạn xã hội, đảm bảo bền vững an sinh xã hội. Trong đó các dự án Samsung đầu tư vào Thái Nguyên không chỉ tác động tích cực đến nền kinh tế mà còn tạo ra sự phát triển đột biến về thị trường lao động. Sau 4 năm đi vào hoạt động, Samsung đã tuyển dụng, đào tạo và bố trí việc làm cho gần 70 nghìn lao động, trong đó lao động tuyển dụng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên là khoảng 20 nghìn người. Xét trên bình diện lao động, Samsung đã giải quyết công ăn việc làm với mức thu nhập khá cao, góp phần phát triển kinh tế gia đình, thậm chí là giảm nghèo ở một bộ phận dân cư.
4. Năng suất lao động tăng, tạo ra thu nhập cho người lao động ngày càng được tăng lên góp phần đáng kể tạo điều kiện cải thiện và nâng cao mức sống dân cư
Năng suất lao động khu vực doanh nghiệp năm 2017 đạt 247 triệu đồng/1 lao động, trong đó khu vực doanh nghiệp có vốn trong nước là 208,6 triệu đồng và khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 286 triệu đồng/người /năm. So với năm 2010, năng suất lao động khu vực doanh nghiệp cao gấp 2,1 lần, trong đó doanh nghiệp vốn trong nước tăng 78,3% (bình quân tăng 8,6%/năm) và khu vực FDI năng suất lao động cao gấp 2,3 lần so với năm 2010 và đạt tốc độ tăng bình quân 12,8%/năm.
Theo kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế 2017, thu nhập bình quân của người lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp năm 2016 là 9,2 triệu đồng/tháng, trong đó thu nhập bình quân/1 lao động của doanh nghiệp trong nước là 6,2 triệu đồng/tháng và doanh nghiệp FDI là 12,2 triệu đồng/tháng. Thu nhập của người lao động làm việc trong khu vực Hợp tác xã đạt thấp nhất với 3,8 triệu đồng/người/tháng.
Nếu chia theo ngành kinh tế, năm 2016 nhóm ngành có thu nhập của người lao động cao nhất là ngành công nghiệp chế biến với 10,6 triệu đồng/tháng; trong đó riêng ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học đạt bình quân 12,9 triệu đồng/tháng; tiếp đến là hoạt động ngành y tế và viễn thông...
So với năm 2011, thu nhập bình quân của người lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp năm 2016 tăng gần 5,6 triệu đồng/tháng (gấp 2,6 lần), trong đó thu nhập bình quân/1 lao động của doanh nghiệp trong nước là 6,2 triệu đồng/tháng, tăng 2,4 triệu đồng/tháng và doanh nghiệp FDI tăng 8,2 triệu đồng/tháng (gấp 3,1 lần). Thu nhập của người lao động làm việc trong khu vực Hợp tác xã tăng 2,3 triệu đồng/người/tháng (gấp 2,5 lần). Nếu tính tốc độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2011-2016 thì thu nhập bình quân/tháng của lao động làm việc chung trong khối doanh nghiệp đạt mức tăng 20,6%/năm; trong đó, thu nhập người lao động tại các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế trong nước tăng 7,1%/năm; khu vực FDI  tăng bình quân 25%/năm và đạt mức tăng cao nhất trong các thành phần kinh tế khác.
So với mức tăng chỉ số giá tiêu dùng hàng năm thì tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn khá nhiều. Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng bình quân hàng năm giai đoạn 2011-2016 là 4,7%/năm, trong khi tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người cùng giai đoạn này là 22,3%/năm, đã làm cho thu nhập, tiền lương thực tế của người lao động được cải thiện đáng kể.
Trong tổng số thu nhập người lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp năm 2016 nói chung trên địa bàn thì thu nhập từ doanh nghiệp có vốn FDI chiếm 64,3% (trong khi lao động khu vực FDI chiếm 49% tổng lao động làm việc trong khối doanh nghiệp), như vậy năng suất lao động của khu vực FDI cao hơn. Tính riêng thu nhập của người lao động làm việc trong ngành sản xuất sản phẩm công nghệ cao, thuộc nhóm ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học năm 2016 đạt 12,9 triệu đồng/tháng, đóng góp vào 62,4% tổng thu nhập của người lao động khu vực doanh nghiệp nói chung trên địa bàn tỉnh, tác động mạnh mẽ đến thu nhập người lao động cũng như góp phần làm tăng quy mô tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn tỉnh và sự tăng đột biến về tốc độ tăng trưởng GRDP trong giai đoạn 2014 - 2017 của tỉnh Thái Nguyên.
III. Những tồn tại, bất cập
Bên cạnh những tác động tích cực trên phương diện kinh tế, xã hội và đầu tư,  còn có những vấn đề đang đặt ra với các cấp chính quyền đó là vấn đề thiếu nhà ở cho công nhân, nhà ở xã hội, vấn đề an ninh trật tự, vấn đề quản lý nhân khẩu, vấn đề y tế, giáo dục trước mắt cũng như lâu dài… Trong những năm qua, các dự án có vốn đầu tư nước ngoài đã cùng Thái Nguyên phối hợp để giải quyết những vấn đề như: tăng vốn đầu tư để xây dựng nhà ở cho công nhân, dành nguồn kinh phí làm công tác xã hội, từ thiện trên địa bàn.
Bên cạnh những tác động tích cực tới vấn đề việc làm mà nguồn vốn FDI mang lại cho tỉnh Thái Nguyên thì việc thu hút với một lượng vốn quá lớn trong thời gian ngắn đã tạo nên những ảnh hưởng tiêu cực khó có thể kiểm soát được dẫn đến có khả năng phải phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn đầu tư lớn.
Tạo áp lực lớn về an ninh, trật tự trên địa bàn. Với lực lượng lao động lớn, cư trú ở nhiều nơi, xa nhà máy nên hàng ngày lực lương công nhân và xe đưa đón công nhân là lực lượng lớn tham gia giao thông nên tạo áp lực rất lớn về an toàn giao thông trên địa bàn. Mặt khác xung quanh các khu công nghiệp tình hình trật tự an ninh cũng rất phức tạp, tạo áp lực lớn cho tỉnh trong việc giữ gìn an ninh trật tự cho khu vực này.
Quan hệ giữa người quản lý và công nhân trong các doanh nghiệp FDI vẫn có những căng thẳng nhất định. Thái Nguyên đã có nhiều chế độ ưu đãi đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Mặc dù được tạo nhiều ưu đãi, nhưng nhiều doanh nghiệp FDI vẫn thường xuyên thực hiện chế độ làm việc tăng ca, tăng giờ trong khi đó thu nhập không tương xứng với thời gian và cường độ lao động, quyền lợi của người lao động không được đảm bảo.
Mục đích của nhà đầu tư là kiếm lợi nhuận, vì thế họ chủ yếu đầu tư vào những ngành có lợi nhuận cao, điều này sẽ làm gia tăng sự mất cân đối giữa các vùng kinh tế, giữa nông thôn và thành thị, giữa các ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
Tình trạng lao động được tuyển dụng một cách ồ ạt và sau một thời gian nếu bị sa thải hàng loạt cũng là một vấn đề cần được quan tâm. Khi nghỉ việc tự nguyện hoặc không tự nguyện thì vấn đề tìm việc làm mới là không dễ dàng, đặc biệt là đối với lao động nữ từ 35 tuổi trở lên (do tỷ trọng lao động nữ của các doanh nghiệp sản xuất lắp ráp điện tử trên địa bàn tỉnh chiếm 77,2% tổng số).
Quyền lợi và sức khỏe của người lao động cũng là một vấn đề lớn khi phải làm việc trong điều kiện môi trường, áp lực, cường độ lao động cao, thời gian làm việc dài, tuân thủ tư thế làm việc nghiêm ngặt.
Những mặt trái của FDI về vấn đề việc làm không có nghĩa là phủ nhận những lợi thế cơ bản từ FDI mang lại mà cần phải có những chính sách, những biện pháp kiểm soát hữu hiệu để phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của FDI. Bởi vì những mặt trái của các doanh nghiệp FDI tạo ra là nhiều hay ít lại phụ thuộc rất nhiều vào chính sách, năng lực, trình độ quản lý, trình độ chuyên môn của các cấp chính quyền.
Thu nhập bình quân người lao động làm việc trong khu vực FDI cao hơn so với mức bình quân chung nên đã tạo nên sự mất cân đối về lao động giữa các khu vực và giữa doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp khác trên địa bàn gây khó khăn trong việc tuyển dụng và thu hút lao động. Mặt khác do không yêu cầu cao về trình độ nên đã thu hút nhiều lao động khu vực nông thôn vào làm việc. Do có sự chuyển dịch đột biến nên đã tạo nên sự thiếu hụt và mất cân đối lao động trong khu vực nông thôn và nông nghiệp.
Việc sử dụng nhiều lao động của các doanh nghiệp FDI trên địa bàn, trong đó có các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao thuộc nhóm ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và quang học trên địa bàn cũng đã tạo ra sự cạnh tranh nguồn lao động đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Sự tác động này đã đặt ra vấn đề chính sách đối với người lao động tại các doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp không cải thiện môi trường làm việc, chính sách tiền lương, thưởng và các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, y tế, bảo hiểm thất nghiệp… không hướng đến người lao động sẽ dẫn đến doanh nghiệp mất lao động, thiếu nhân lực và khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Nhu cầu tuyển dụng với số lượng lớn lao động phổ thông vào khu vực FDI làm việc, không yêu cầu bằng chuyên môn kỹ thuật đã tác động và gây hệ lụy đến chất lượng nguồn lao động của tỉnh, gây khó khăn, lãnh phí cơ sở vật chất đối với các đơn vị đào tạo nguồn nhân lực.  Mặc dù Thái Nguyên là một trong 3 trung tâm đào tạo lớn của cả nước, nhưng những cơ sở đào tạo này không tham gia được nhiều trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp FDI trên địa bàn.
Chính sự đóng góp rất lớn vào kinh tế của tỉnh, đó là cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng công nghiệp hóa; giá trị sản xuất công nghiệp, xuất, nhập khẩu khu vực FDI chiếm tỷ trọng lớn so tổng số… nên kinh tế tỉnh Thái Nguyên đang phụ thuộc vào sản xuất, tiêu thụ sản phẩm của khu vực FDI rất nhiều, mỗi biến động của khu vực này đều tác động rất lớn tới kinh tế xã hội của tỉnh.
III. Một số kiến nghị, đề xuất một số giải pháp
Mặc dù có sự đóng góp rất lớn của khu vực FDI vào kinh tế xã hội của tỉnh, nhưng hiện nay số doanh nghiệp khu vực kinh tế trong nước chiếm tới 97% về tổng số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh và có số lao động chiếm 49% tổng số lao động làm việc trong các doanh nghiệp và hợp tác xã nên kết quả sản xuất công nghiệp trong nước tuy hiện nay không đóng góp nhiều về giá trị sản xuất nhưng có tác động lớn đến đời sống người lao động. Do đó bên cạnh việc quan tâm ưu đãi đối với các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài thì cũng cần quan tâm và ưu đãi tương đương và khuyến khích đầu tư đối với các dự án đầu tư lớn có vốn trong nước sử dụng nhiều lao động và các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong các nhóm ngành về nông nghiệp công nghệ cao, ngành chế biến thực phẩm, đồ uống sử dụng nguyên liệu hiện có tại các địa phương.
Các dự án của tập đoàn Samsung đã tạo ra sức bật cho nền kinh tế của tỉnh Thái Nguyên. Vấn đề tỉnh quan tâm là làm như thế nào để tranh thủ sức bật này, cùng với tổng hợp các nguồn lực, tiềm năng và lợi thế để tạo ra sức bật mới về kinh tế, xã hội mạnh mẽ hơn. Tỉnh Thái Nguyên cần tiếp tục rà soát các nguồn lực, tìm các giải pháp để huy động tổng hợp các nguồn lực, thực hiện tốt các chương trình, công trình dự án trọng điểm theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIX đã xác định nhằm tăng cường nguồn lực để các dự án đầu tư sớm phát huy hiệu quả. Bên cạnh đó tỉnh Thái nguyên cần tích cực hơn nữa trong việc chuẩn bị các điều kiện, tạo những thuận lợi nhất để tiếp tục đón các nhà đầu tư lớn, có uy tín vào đầu tư trên địa bàn.
Tỉnh Thái Nguyên cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về đầu tư, sửa đổi chính sách ưu đãi đầu tư theo hướng nhất quán, công khai, minh bạch; hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích thu hút các dự án công nghệ cao và phù hợp với thực tiễn của địa phương; đảm bảo tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển bền vững xã hội.
Cần tận dụng triệt để những cơ hội mà các dự án đầu tư FDI mang lại, đặc biệt là những dự án tỷ đô; tạo cho các dự án này có sức lan tỏa mạnh mẽ tới các doanh nghiệp trong tỉnh, biến các doanh nghiệp đó trở thành những vệ tinh tạo nên sự phát triển đồng đều và bền vững; thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, trong đó có sự tham gia của các doanh nghiệp trong nước.
Cần tăng cường kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp FDI. Các cơ quan chức năng cần tập trung kiểm tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các doanh nghiệp FDI làm gây ô nhiễm môi trường, sử dụng những công nghệ lạc hậu, hoặc làm giá, chuyển giá, trốn lậu thuế, đối xử hà khắc với công nhân... Do đó cần phải đào tạo, xây dựng đội ngũ kiểm tra, kiểm soát đủ trình độ, năng lực và phẩm chất; trang bị các phương tiện kỹ thuật tiên tiến, hiện đại để phát hiện những sai phạm, tạo cơ sở để xử lý nghiêm minh những doanh nghiệp FDI vi phạm pháp luật tại Thái Nguyên cũng như trên cả nước.
Cần đa dạng hóa các ngành đầu tư, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI vào việc giải quyết vấn đề thất nghiệp; hoàn thiện cơ chế pháp lý, hướng các doanh nghiệp FDI đến mục tiêu tạo nhiều việc làm và phải đảm bảo tính ổn định của việc làm cho người lao động.
Các doanh nghiệp FDI có vai trò quan trọng của đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, vì vậy cần có những biến chuyển tích cực từ phía người lao động, cụ thể là: nâng cao trình độ tay nghề, nâng cao ý thức kỷ luật, trách nhiệm và tinh thần lao động… để đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp, từ đó thu hút ngày càng lớn nguồn vốn đầu tư FDI trên địa bàn tỉnh.
Các đơn vị đào tạo trên địa bàn cần nghiên cứu, tìm hiểu thị trường, đổi mới tư duy để gắn đào tạo với nhu cầu thị trường. Khuyến khích sự hợp tác giữa các doanh nghiệp với các cơ sở đào tạo trên địa bàn để có được nguồn nhân lực chất lượng, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn.
Tiếp tục có giải pháp thu hút đầu tư đối với các doanh nghiệp, trong đó ưu tiên đối với các doanh nghiệp trong nước có quy mô, chất lượng công nghệ và vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu và được tham gia làm đối tác cung ứng, phụ trợ cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc mở cửa thu hút những nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài là một tất yếu. Thái nguyên là một tỉnh được đánh giá cao về những tiềm năng vốn có cũng như những chiến lược thu hút đầu tư FDI hiệu quả, điều quan trọng là cần tranh thủ sức bật này, cùng với tổng hợp các nguồn lực, tiềm năng và lợi thế để tạo ra sức bật mới về kinh tế, xã hội mạnh mẽ hơn. Đồng thời có những giải pháp điều chỉnh kịp thời những tác động mà nguồn vốn này đem lại để góp phần nâng cao năng suất lao động, giải quyết vấn đề việc làm hiệu quả, hướng tới thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển bền vững./.

Tác giả bài viết: Cục trưởng Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên - La Hồng Ninh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
CHUYÊN MỤC
dieutradanso2019

hoc tap lam theo HCM

tong cuc thong ke

luat thong ke 1

cong thong tin thai nguyen


Dieu tra DN 2018

anh minh hoa 1
 
anh tuyen dung
Thống kê website
  • Đang truy cập70
  • Hôm nay
  • Tháng hiện tại
  • Tổng lượt truy cập
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây