Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2019 tỉnh Thái Nguyên

Chủ nhật - 27/01/2019 20:51
I. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
1. Trồng trọt
Năm 2019 tỉnh Thái Nguyên tiếp tục có những chính sách hỗ trợ phát triển cây hàng năm như hỗ trợ giá giống lúa lai, lúa thuần; hỗ trợ giá ngô biến đổi gen; hỗ trợ phát triển cây vụ Đông nhằm khuyến khích phát triển cây trồng và hạn chế tình trạng để trắng đồng; quy hoạch vùng sản xuất lúa tập trung, ứng dụng đồng bộ tiến bộ khoa học công nghệ, quy trình kỹ thuật mới, hiệu quả; ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất và thu hoạch sản phẩm. Đối với cây chè đã triển khai thực hiện các chính sách đầu tư, hỗ trợ sản xuất, chế biến tiêu thụ chè, đặc biệt là đầu tư cho sản xuất chè theo hướng an toàn, hỗ trợ chứng nhận sản xuất chè an toàn theo quy trình VietGAP hoặc các GAP khác tương đương, nhằm gia tăng số lượng, chất lượng sản phẩm nông nghiệp sạch và nâng cao hiệu quả và giá trị sản phẩm trên 1 ha diện tích.
a. Sản xuất vụ Đông
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông 2018-2019 toàn tỉnh đạt 13,3 nghìn ha, bằng 101,4% kế hoạch, giảm 1,5% (tương ứng giảm 203 ha) so vụ Đông năm trước và giảm chủ yếu ở cây ngô và cây khoai lang, riêng chỉ có cây rau các loại và cây đỗ tương là diện tích gieo trồng tăng.
Trong tổng diện tích cây vụ Đông, cây rau các loại có diện tích gieo trồng chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt 6,6 nghìn ha (chiếm gần 50% diện tích cây vụ Đông), bằng 101,5% kế hoạch, tăng 3,1% (tương ứng tăng khoảng 200 ha) so với cùng kỳ; tiếp đến là cây Ngô đạt diện tích 4,7 nghìn ha (chiếm 35,3% tổng số), bằng 101,3% kế hoạch nhưng giảm 6,4% (-320 ha) so cùng kỳ; cây khoai lang 1,9 nghìn ha, giảm 5,4% (-112 ha); cây đậu tương  79 ha, tăng 58% (+29 ha) và cây lạc 80 ha đạt tương đương năm trước.
Dự tính đến hết tháng 01/2018 diện tích thu hoạch cây hàng năm vụ Đông  2018-2019 đạt khoảng 9 nghìn ha, bằng 60% tổng diện tích gieo trồng. Trong đó cây ngô thu hoạch khoảng 2,8 nghìn ha, bằng 60,1% tổng diện tích gieo trồng; cây rau các loại thu hoạch khoảng 3,6 nghìn ha; cây khoai lang 1,4 nghìn ha; cây lạc 70 ha và cây đỗ tương 40 ha. Nhìn chung năng suất thu hoạch cây ngô dự tính cao hơn năm trước, còn các cây trồng khác năng suất tương đương vụ Đông năm trước.
b. Chuẩn bị sản xuất vụ Xuân 2019
Vụ Xuân năm 2019, kế hoạch toàn tỉnh sẽ gieo trồng trên 40 nghìn ha cây hàng năm chủ yếu. Trong đó, cây lúa là 28,9 nghìn ha, cây ngô 7,1 nghìn ha, cây rau các loại 4,2 nghìn ha.
Trong tháng 01/2019 thời tiết rét đậm kéo dài ảnh hưởng đến công tác chuẩn bị gieo trồng cây hàng năm vụ xuân. Dự tính đến ngày 30/01/2019 diện tích cày ải, làm đất phục vụ gieo trồng lúa vụ Xuân toàn tỉnh đạt khoảng 70% tổng diện tích gieo trồng; đồng thời các địa phương đang tích cực chuẩn bị vật tư, giống tốt chất lượng cao đảm bảo sản xuất kịp thời vụ.
c. Cây lâu năm
- Cây chè: Theo kế hoạch năm 2019, tỉnh Thái Nguyên dự kiến trồng mới và trồng lại là 750 ha. Bao gồm, chè trồng mới 457 ha, trồng lại 293 ha.  Kế hoạch sản lượng chè búp tươi năm 2019 là 234 nghìn tấn.
Để triển khai thực hiện kế hoạch năm 2019, ngành chức năng đã xây dựng kế hoạch chi tiết như: triển khai đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ về giống, canh tác, phòng trừ sâu bệnh theo hướng an toàn; nhân rộng diện tích sản xuất chè theo quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt; phấn đấu có thêm 400ha chè được chứng nhận VietGAP lần đầu; xây dựng vùng sản xuất chè tập trung, sản xuất an toàn, hữu cơ 860 ha, đồng thời tiếp tục thực hiện các chính sách đầu tư, hỗ trợ sản xuất, chế biến, tiêu thụ chè, hỗ trợ chứng nhận sản xuất chè an toàn…
Thời tiết tháng 01/2019 có mưa, đủ độ ẩm nên cây chè được đốn cành chuẩn bị cho chè vụ Xuân; nhiều vùng chè được tưới nước, chăm sóc nên kéo dài thời gian thu hoạch, năng suất ổn định, giá bán cao hơn.
- Cây ăn quả: Năm 2019 một số địa phương tiếp tục tăng diện tích một số cây ăn quả như: Thanh long, na, cam, bưởi diễn. Từng bước xây dựng vùng sản xuất cây ăn quả tập trung, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, kỹ thuật sản xuất an toàn, đảm bảo chất lượng.
2. Chăn nuôi
Hiện nay trên đàn gia cầm phát triển ổn định không có dịch bệnh xảy ra. Trên đàn lợn bệnh long móng lở mồm (LMLM) đã xuất hiện trên đàn lợn thịt từ đầu tháng 12/2018 và được phát hiện ban đầu ở phường Lương Sơn, thành phố Sông Công sau đó được phát hiện trên các địa phương khác. Tính đến ngày 23/1/2019 toàn tỉnh đã có 8/9 địa phương phát hiện lợn mắc bệnh Lở mồm long móng là: TP Thái Nguyên, Thành phố Sông Công; Thị xã Phổ Yên; huyện Phú Bình, huyện Định Hóa, huyện Võ Nhai và huyện Phú Lương; tổng số lợn mắc bệnh LMLM đã được phát hiện tại 50 hộ chăn nuôi ở 40 xóm trên địa bàn 24 xã/phường với 730 con lợn bị mắc bệnh buộc phải tiêu hủy với trọng lượng khoảng trên 40 tấn lợn hơi.
Nguyên nhân được xác định là do quá trình người dân mua bán, thương lái vận chuyển động vật, sản phẩm động vật bị nhiễm bệnh từ địa phương khác về để chăn nuôi và sử dụng; hoặc sử dụng thức ăn từ phế phẩm của trâu bò, lợn về chăn nuôi đã làm lây lan bệnh lở mồm long móng trên đàn lợn; mặt khác do môi trường nước thải chăn nuôi gây ô nhiễm môi trường, tiềm ẩn mầm dịch bệnh và theo dòng chảy phát tán dịch bệnh. Bên cạnh đó lợn thịt có số lượng đàn đông nên không thuộc diện tiêm phòng bắt buộc nên đàn lợn tại các hộ chăn nuôi chưa được tiêm phòng đầy đủ; chỉ hỗ trợ vắc xin LMLM để tập trung tiêm phòng cho đàn lợn nái và lợn giống.
Ngay từ ngày đầu phát hiện ra ổ bệnh, ngành chức năng đã thành lập các đoàn kiểm tra công tác phòng chống dịch bệnh lở mồm long móng; hướng dẫn tiêu hủy, xử lý ổ dịch, lựa chọn vắc xin phù hợp với chủng vi rút đang lưu hành. Tổng số liều vắc xin đã cấp là khoảng 62,5 nghìn liều và trên 4 nghìn lít hóa chất; 65 nghìn tấn vôi bột để thực hiện phun khử trùng tiêu độc và tiêm phòng bao vây ổ dịch. Đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, phát hiện gia súc mắc bệnh lở mồm long móng và xử lý kịp thời, quyết liệt không để lây lan ra diện rộng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và giảm thiểu thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi.
Do phát sinh bệnh trên đàn lợn nên tác động và gây ảnh hưởng đến tâm lý người chăn nuôi nên giá bán sản phẩm lợn thịt hơi của người chăn nuôi tháng 01/2019 giảm 8,1% so với tháng trước (12/2018); Giá gà ta thịt hơi tăng 2,41% so với tháng trước. Tuy nhiên nếu so với cùng kỳ (so với tháng 01/2018) thì giá lợn thịt hơi hiện nay đã tăng 37% nhưng giá gà ta thịt hơi giảm 7,8%.
Hiện nay số lượng lợn mắc bệnh chưa lớn và ảnh hưởng chưa nhiều đến nguồn cung cấp ra thị trường, nên vẫn đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của dân cư trong dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán Kỷ hợi.
3. Lâm nghiệp
Theo kế hoạch năm 2019 diện tích rừng trồng mới trên địa bàn là 2.550 ha (bao gồm diện tích trồng rừng thay thế 50 ha; rừng sản xuất 2.500 ha), giảm 1.000 ha so với kế hoạch năm trước. Trồng cây phân tán 500 nghìn cây và đảm bảo tỷ lệ che phủ rừng trên 50%.
Ước tính sản lượng gỗ khai thác tháng 01/2019 đạt khoảng 15,7 nghìn m3; củi khai thác tận dụng khoảng 19 nghìn ste. Trong tháng không xảy ra vụ cháy rừng.
Ngành chức năng thực hiện quy chế phối hợp quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy; tăng cường kiểm tra truy quét, ngăn chặn có hiệu quả việc phá rừng và khai thác lâm sản trái phép, đặc biệt khu vực giáp ranh với Bắc Kạn và Lạng Sơn; phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi xâm hại rừng. Năm 2018 xử lý 260 vụ (giảm 28,6%) so với cùng kỳ; tịch thu 412 m3 gỗ quy tròn các loại (giảm 29%) và thu nộp ngân sách Nhà nước 2,32 tỷ đồng (tăng 1%). Đề nghị cơ quan chức năng khởi tố 02 vụ án hình sự.
4. Thủy sản
Năm 2019 phấn đấu thực hiện kế hoạch diện tích mặt nước đưa vào nuôi trồng thủy sản 6.200 ha (gồm diện tích nuôi ở ao hồ nhỏ 2.140 ha; diện tích nuôi tại hồ thủy lợi là 3.900 ha; diện tích nuôi cá ruộng là 160 ha). Nuôi cá lồng 26 nghìn m3 với sản lượng thủy sản thương phẩm là 13,2 nghìn tấn; Sản xuất, cung ứng giống thủy sản khoảng 600 triệu con cá bột; 55 triệu con giống thủy sản các loại.
Hiện nay các địa phương đang thu hoạch vụ cá cuối năm phục vụ Tết Nguyên đán và chuẩn bị công tác nạo vét, vệ sinh ao hồ thả cá vụ mới.
II. Sản xuất công nghiệp
Do là tháng giáp Tết Nguyên đán và là tháng đầu năm Dương lịch nên mức sản xuất các sản phẩm công nghiệp phục vụ tiêu dùng như quần áo, Rượu, bia, sữa và sản phẩm từ sữa, sản xuất và phân phối điện, thu gom rác thải… trên địa bàn tăng cao. Nhưng bên cạnh đó, các ngành chiếm tỷ trọng công nghiệp lớn sản xuất đạt thấp do lượng tồn kho của các đơn vị sản xuất tính đến đầu tháng 01/2018 lớn (xi măng tồn kho 35,3 nghìn tấn, tăng 55%; sắt thép tồn kho 214 nghìn tấn, gấp 2 lần sản lượng sản xuất bình quân 1 tháng và tăng 16% tồn kho cùng kỳ; điện thoại thông minh tồn kho 5,6 triệu cái, tăng 13,3% tồn kho cùng kỳ…), nhu cầu về vật liệu xây dựng giảm; nhịp độ sản xuất các sản phẩm điện thoại thông minh và sản phẩm phụ trợ cho sản xuất điện thoại giảm đã tác động đến chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng 01/2019. 
Chỉ số sản xuất công nghiệp trên địa bàn tháng 01/2019 ước tính giảm 8,7% so với tháng trước nhưng tăng 2,6% so với cùng kỳ. Trong đó, tăng so với cùng kỳ cao nhất là ngành sản xuất, phân phối điện với mức tăng 12,8%; tiếp đến là ngành ngành khai khoáng tăng 5,4%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,4%.
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất trong tháng 01/2019: Nhóm các sản phẩm phục vụ tiêu dùng và sản xuất trong dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán tăng so với tháng trước và tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước như: sản phẩm sữa và các sản phẩm từ sữa 1.130 tấn, tăng 62% cùng kỳ; rượu tăng 155%; Bia hơi tăng 10,1%; sản phẩm may ước đạt 7,5 triệu sản phẩm, tăng 42,3%; thức ăn cho gia súc 14,5 nghìn tấn, tăng 29%; sản phẩm bao bì các loại tăng 14,6%; thùng hộp bằng bìa cứng tăng 123,8%; đồng tinh quặng tăng 40%; khai thác than tăng 10%; điện sản xuất đạt 165 Triệu Kwh, tăng 5% so với tháng trước và tăng 16,6% so với cùng kỳ; điện thương phẩm đạt 385 Triệu Kwh, tăng 2,1% so với tháng trước và tăng 3,5% so với cùng kỳ…
Tuy nhiên, nhóm sản phẩm chiếm tỷ trọng công nghiệp lớn trên địa bàn sản xuất trong tháng 01/2019 đạt mức tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ là: Vonfram và sản phẩm của Vonfram 1,5 nghìn tấn, tăng 2,7% cùng kỳ; máy tính bảng 1,9 triệu cái, tăng 3,7%; Điện thoại thông minh 8,3 triệu cái, giảm 4% so với tháng trước và giảm 8,5% so với cùng kỳ; Mạch điện tử tích hợp 8,2 triệu cái, giảm 23,2%; tai nghe 4 triệu cái, giảm 11,9%; xi măng 167 nghìn tấn, giảm 9,6%; sắt thép 110 nghìn tấn, giảm 8,2%; nước máy giảm 11,1% (do cấp nước cho khu công nghiệp giảm).
III. Thu, chi ngân sách
1. Thu, chi ngân sách
- Thu Ngân sách Nhà nước: Năm 2018  là năm đạt kết quả thu ngân sách cao nhất từ trước đến nay. Tổng thu ngân sách trên địa bàn 2018 ước đạt 15 nghìn tỷ đồng ; trong đó, thu cân đối ngân sách 14,95 nghìn tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 17,4% và vượt 14% dự toán cả năm; thu quản lý qua ngân sách 55,8 tỷ đồng.
Trong tổng thu cân đối, thu nội địa đạt 11,8 nghìn tỷ đồng, tăng 17,7% so với cùng kỳ và bằng 118,9% dự toán cả năm; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 3,16 nghìn tỷ đồng, tăng 16,2% so với cùng kỳ và bằng 98,7% dự toán cả năm.
 Trong thu nội địa, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 3,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 29% tổng thu nội địa, tăng 64,7% so cùng kỳ và bằng 107,5 dự toán năm; thu tiền cấp quyền sử dụng đất đạt 2,5 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 22%, tăng 1,5% so với cùng kỳ và gấp gần 2 lần so với dự toán; thu từ khu vực dịch vụ ngoài quốc doanh ước đạt 1,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 15%, bằng 107,8% so với cùng kỳ và vượt 19,3% dự toán cả năm…
Bên cạnh đó, có 4/14 khoản thu chưa đạt so với dự toán là: thu phí, lệ phí 175,8 tỷ đồng, bằng 87,9% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 396,7 tỷ đồng, bằng 74,8% dự toán; thu từ hoạt động xổ số kiến thiết đạt 11,9 tỷ đồng, bằng 98,8% dự toán cả năm; thu từ doanh nghiệp nhà nước đạt 950,6 tỷ đồng, đạt 94,1% dự toán năm.
- Chi ngân sách địa phương: Ước tính cả năm 2018, tổng chi ngân sách địa phương đạt 13 nghìn tỷ đồng, bằng 89,9% so với cùng kỳ và  bằng 94,3% so với dự toán. Trong đó, chi đầu tư phát triển là 3,6 nghìn tỷ đồng, bằng 87,2% so với cùng kỳ và vượt dự toán 53,5% (do thu năm 2018 tăng cao nên chi cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cao đạt 2,7 nghìn tỷ, gấp 1,8 lần so dự toán). Chi thường xuyên ước đạt 8 nghìn tỷ đồng tăng 3,4% so với cùng kỳ và bằng 101,9% dự toán.
Trong chi thường xuyên, chi sự nghiệp giáo dục đạt 3,2 nghìn tỷ đồng, (chiếm tỷ trọng 39,6% tổng số), tăng 8,3% so với cùng kỳ và bằng 95,1% dự toán cả năm; chi quản lý hành chính 1,66 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 20,7% tổng số), giảm 1% so với cùng kỳ và bằng 110,8% dự toán; chi sự nghiệp kinh tế đạt 923,7 tỷ đồng, tăng 4,9% so với cùng kỳ và bằng 107,9% dự toán; chi sự nghiệp y tế, dân số ước đạt 967,8 tỷ đồng, giảm 2,2% cùng kỳ, bằng 105,9% so dự toán năm…
2. Hoạt động ngân hàng 
Đến thời điểm báo cáo tổng số chi nhánh ngân hàng trên địa bàn là 32 đầu mối (bao gồm 28 đầu mối chi nhánh ngân hàng trực thuộc trụ sở chính tăng 01 chi nhánh so với 31/12/2018, 03 quỹ tín dụng dân dân, 01 tổ chức tài chính vi mô); có 111 phòng giao dịch thuộc các ngân hàng có chi nhánh tại Thái Nguyên; 227 máy rút tiền tự động (ATM) và trên 1,3 nghìn thiết bị chấp nhận thẻ (POS) được lắp đặt tại 1,1 nghìn địa điểm là các nhà hàng, khách sạn, siêu thị.
- Tình hình thực hiện lãi suất
Về lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam tiếp tục ổn định phổ biến ở mức 0,8-1%/năm đối với lãi suất huy động tiền gửi kỳ hạn dưới 1 tháng; từ 4,5-5,3%/năm đối với kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; từ 5,3-8%/năm đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
- Về lãi suất cho vay bằng Việt Nam đồng đối với các lĩnh vực ưu tiên là 6,5%/năm. Lãi suất cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,8%-9%/năm đối với ngắn hạn, từ 9%-11%/năm đối với trung và dài hạn.
- Hoạt động huy động vốn: Nguồn vốn huy động của các Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng (không bao gồm Ngân hàng Phát triển) đến 31/12/2018 đạt 53.989 tỷ đồng, tăng 15,16% so với 31/12/2017. Ước đến 31/01/2018 đạt 54.400 tỷ đồng, tăng 0,76% so với 31/12/2018. 
- Hoạt động tín dụng: Dư nợ cho vay của các Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng đến 31/12/2018 đạt 50.467 tỷ đồng, tăng 9,28% so với 31/12/2017. Ước đến 31/01/2019 đạt 51.000 tỷ đồng, tăng 1,05% so với 31/12/2018.  Ngân hàng Phát triển dư nợ là 4.102 tỷ đồng, giảm 7,46% so với 31/12/2017.
Nợ xấu đến 31/12/2018 là 416 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,83%/tổng dư nợ.
III. Thương mại, giá cả và dịch vụ
1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội
Tháng 01/2019 là tháng giáp Tết Nguyên đán nên hoạt động thương mại rất sôi động. Ngành chức năng đã tổ chức Hội chợ Xuân 2019 với khoảng 150 gian hàng, là cơ hội để các doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở kinh doanh xúc tiến thương mại, trưng bầy, quảng bá sản phẩm, đồng thời giúp người tiêu dùng lựa chọn hàng hóa, mua sắm phục vụ Tết.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng 01 năm 2019 trên địa bàn ước đạt 3.036 tỷ đồng, tăng 13,1% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 156,2 tỷ đồng, tăng 12,8% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 2.865 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 94,4% thị phần bán lẻ), tăng 4,9% so với tháng trước và tăng 13,1% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 15 tỷ đồng, tăng 7,2% so với cùng kỳ.
Nếu phân theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ tháng 01 năm 2019 ước đạt 2.446,5 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 80,6%), tăng 5,2% so với tháng trước và tăng 14,3% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 274,1 tỷ đồng, tăng 3,1% so với tháng trước và tăng 8% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ tiêu dùng còn lại ước đạt 312,4 tỷ đồng, tăng 8,4% so với cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành chỉ chiếm một phần rất nhỏ (đạt 3,5 tỷ đồng, chiếm 0,11%, giảm 3,3% so với tháng trước, nhưng tăng 8,3% so với cùng kỳ).
Trong nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ, tất cả các nhóm ngành hàng hóa, đều tăng so với cùng kỳ năm trước; trong đó, nhóm hàng hóa chiếm tỷ trọng lớn và tăng cao trên 15% so với cùng kỳ là nhóm hàng lương thực, thực phẩm ước đạt 806,2 tỷ đồng (chiếm 33% trong tổng mức bán lẻ), tăng 15,7% so với cùng kỳ; tiếp đến là nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình mức bán lẻ đạt khoảng 280,6 tỷ đồng (chiếm 11,5%), tăng 14,8%; nhóm hàng may mặc ước đạt 206 tỷ đồng, tăng 14,3%; nhóm hàng ô tô và phương tiện đi lại ước đạt 413 tỷ đồng, tăng 13%; nhóm xăng, dầu các loại ước đạt 274,4 tỷ đồng, tăng 12%; nhóm sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy ước đạt khoảng 70 tỷ đồng, tăng 15,6%...
Doanh thu hoạt động dịch vụ trên địa bàn tỉnh tháng 01/2019 ước đạt 312,4 tỷ đồng, tăng 10,4% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực nhà nước ước đạt 6,4 tỷ đồng (chiếm 2%), tăng 9,5% so với cùng kỳ; khu vực ngoài nhà nước ước đạt 298,3 tỷ đồng (chiếm 95,5%), tăng 10,5% cùng kỳ; còn lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chỉ đạt 7,7 tỷ đồng (chiếm 2,5%), tăng 4,9% so với cùng kỳ.
Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành trên địa bàn tỉnh tháng 01 năm 2019 ước đạt 278 tỷ đồng, tăng 8% so với năm cùng kỳ (bao gồm doanh thu dịch vụ lưu trú khoảng 23 tỷ đồng, tăng 7,5% so cùng kỳ; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 250 tỷ đồng tăng 8,1%; dịch vụ lữ hành và hoạt động du lịch khoảng 5 tỷ đồng, tăng 9% so với cùng kỳ).
* Công tác quản lý thị trường: Thực hiện Kế hoạch của tỉnh Thái Nguyên về thực hiện đảm bảo cân đối cung cầu, bình ổn thị trường cuối năm 2018 và dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019 trên địa bàn; ngành chức năng đã thực hiện công tác dự trữ hàng hóa thiết yếu theo tỷ lệ quy định; thực hiện các biện pháp bình ổn thị trường cho các địa bàn dân cư nhất là vùng sâu, vùng xa; đẩy mạnh triển khai các hoạt động thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; tăng cường hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường, chống buôn lậu, vận chuyển hàng cấm, hàng giả, hàng kém chất lượng và gian lận thương mại nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; thường xuyên giám sát thị trường, nắm bắt, theo dõi diễn biến của thị trường và thực hiện tốt công tác cân đối cung cầu hàng hóa, ổn định giá cả các mặt hàng thiết yếu.
2. Xuất, nhập khẩu
a. Xuất khẩu
Tổng giá trị xuất khẩu tháng 01/2019 ước đạt 1.987,3 triệu USD, tăng 12,2% so với tháng trước và tăng 2,3% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 50,2 triệu USD, tăng 79,3% so với cùng kỳ (tăng chủ yếu ở nhóm hàng may mặc và kim loại mầu). Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1.937,1 triệu USD (chiếm tỷ trọng 97,5% tổng giá trị xuất khẩu), tăng 1,2% so với cùng kỳ.
Nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ yếu chiếm tỷ trọng giá trị lớn là Điện thoại các loại và linh kiện xuất khẩu tháng 01/2019 ước đạt 1.910 triệu USD, tăng 0,9% cùng kỳ (bao gồm: điện thoại thông minh 1.047,3 triệu USD, giảm 20,7% so với cùng kỳ; máy tính bảng 350 triệu USD, tăng 34,2%; linh kiện điện tử và sản phẩm điện tử khác ước đạt 513 triệu USD, tăng 64,3%).
Ngoài sản phẩm điện thoại xuất khẩu giảm so cùng kỳ thì hầu hết các sản phẩm khác xuất khẩu trong tháng 01/2019 đều đạt mức tăng từ 15% trở lên so với cùng kỳ như: Sản phẩm may 26,6 triệu USD, tăng 27%; Kim loại màu và tinh quặng kim loại màu 30,1 triệu USD, tăng 36,7%; sản phẩm từ sắt thép 5,8 triệu USD, tăng 39,2%; phụ tùng vận tải 0,7 triệu USD, tăng 72,9%; giấy và các sản phẩm từ giấy 0,2 triệu USD, tăng 49,1% cùng kỳ.
Riêng 2 mặt hàng là chè và chất dẻo xuất khẩu đạt cao. Cụ thể như: Chè các loại xuất khẩu tháng 01/2019 ước đạt 346 tấn với giá trị 556 nghìn USD, cao gấp 3,7 lần về lượng và gấp 4,5 lần về giá trị xuất khẩu; sản phẩm từ chất dẻo ước đạt 8,93 triệu USD, tăng 8,9 triệu USD (gấp 307 lần) so với cùng kỳ.
b. Nhập khẩu
Tổng giá trị nhập khẩu tháng 1/2019 trên địa bàn ước đạt 1.388,7 triệu USD, tăng 3,8% so với tháng trước và tăng 11,8% so với cùng kỳ. Khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 23,2 triệu USD, giảm 24,4% so với tháng trước, nhưng tăng 29% so với cùng kỳ; Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1.365,5 triệu USD, tăng 4,5% so với tháng trước và tăng 11,5% so với cùng kỳ.
Nhóm mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tháng 1/2019 tăng cao so với cùng kỳ là chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 20,5 triệu USD, gấp 166 lần; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 40,7 triệu USD, gấp 6,9 lần; sản phẩm từ sắt thép 6 triệu USD, tăng 53,6% so cùng kỳ; giấy và sản phẩm từ giấy 0,74 triệu USD, tăng 26%; linh kiện điện tử ước đạt 1.258,3 triệu USD, tăng 3,8% so với cùng kỳ; vải các loại 10,2 triệu USD, tăng 4,5%... Nhóm hàng có giá trị nhập khẩu giảm so với cùng kỳ nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc giảm 68,5%.
3. Giá tiêu dùng
Tháng 1/2019 là tháng giápTết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019, hiện nay hoạt động thương mại, dịch vụ trên trên địa bàn tỉnh đang diễn ra ngày một sôi động hơn. Các loại hàng hoá thiết yếu phục vụ Tết đã được nhiều đơn vị sản xuất, kinh doanh chuẩn bị và cung ứng đầy đủ, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Nhìn chung chỉ số giá tiêu dùng ổn định, tăng nhẹ ở nhóm thực phẩm, đồ uống, hàng may mặc, giầy dép và dịch vụ phục vụ cá nhân; tuy nhiên do giá xăng dầu giảm nên tính chung chỉ số giá tiêu dùng tháng 1/2019  chỉ tăng 0,02% so với tháng 12/2018 và tăng 2,6% so với tháng 1/2018 cùng kỳ.
 So với tháng trước, có 8/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng. Trong đó, hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng nhiều nhất với mức tăng 0,66% (nhóm hàng lương thực giảm 0,12%; thực phẩm tăng 0,92%). Trong nhóm thực phẩm, thịt gia cầm tươi sống tăng 3,78%; thịt lợn tăng 0,91%; thịt bò tăng 0,22%; nội tạng động vật tăng 2,8%; rau các loại tăng 1,91%; bánh mứt kẹo tăng 0,68%; quả tươi giảm 0,8%. Hàng may mặc, giày dép và mũ nón tăng 0,48%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,38% (do dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 2,48%); đồ uống và thuốc lá tăng 0,29% (rượu các loại tăng 0,77%; bia tăng 0,26%) còn lại 4/11 nhóm hàng hóa tăng nhẹ trong khoảng từ 0,02% đến 0,08% như Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,05%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03%; giáo dục tăng 0,02%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,08%. Nhóm hàng hóa giảm so với tháng trước như giao thông giảm 2,6% (do giá xăng dầu giảm 7%; giá xe máy giảm 1%); nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,1%.
So với cùng kỳ (tháng 1/2018), chỉ số giá tiêu dùng tháng 1/2019 tăng 2,59%. Có 8/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng. Trong đó, hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng nhiều nhất với mức tăng 5,36% (do thịt gia súc tươi sống tăng 15,73%; thịt chế biến tăng 14,29%; thịt gia cầm tăng 0,43%); nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,82% (dịch vụ hiếu hỉ tăng 6%; dịch vụ phục vụ, chăm sóc cá nhân tăng 2,5%); nhóm giáo dục tăng 3,37% (do giá dịch vụ giáo dục tăng 3,18%, giá văn phòng phẩm tăng 4,23%); nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 3,17% (do giá dịch vụ khám sức khỏe, dịch vụ y tế tăng 4,18%);  còn lại 4/11 nhóm hàng hóa tăng trong khoảng từ 1% đến  gần 2% như: nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,71%; nhóm may mặc tăng 1,45%; nhóm Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,29%. Có 3/11 nhóm hàng hóa giảm so với tháng trước như giao thông giảm 3,13% (xăng dầu giảm 9,64%; vé tàu hỏa tăng 7,4%; giá ô tô tăng 1,5%); văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,2% (do thiết bị văn hóa giảm 2,5%; du lịch trọn gói tăng 1,7%); nhóm bưu chính viễn thông giảm 1,46% (chủ yếu do thiết bị điện thoại di động giảm 8,2%; dịch vụ bưu điện tăng 7%).
Chỉ số giá vàng tháng 1/2019 tăng 2,78% so với tháng trước và tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 1/2019 giảm 0,43% so tháng trước và tăng 2,24% so với cùng kỳ.
4. Vận tải
Vận tải hành khách: Số lượng hành khách vận chuyển tháng 01/2019 ước đạt 1,8 triệu lượt khách với lượng khách luân chuyển là 98,2 triệu hành khách.km, so với tháng trước tăng 6,2% về số lượng hành khách vận chuyển và tăng 7,6% số hành khách luân chuyển, so với cùng kỳ tăng trên 12% về cả số lượng hành khách vận chuyển và số hành khách luân chuyển.
Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 01/2019 ước đạt 3,9 triệu tấn với khoảng 166,5 triệu tấn.km; so với tháng trước tăng 8,7% về khối hàng hóa vận chuyển và tăng 8,2% về khối lượng hàng hóa luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 10,2% khối lượng hàng hóa vận chuyển và tăng 9,4% khối lượng hàng hóa luân chuyển.
Tổng doanh thu vận tải trên địa bàn tháng 01/2019 ước đạt 418,1 tỷ đồng, tăng 8,2% so với tháng trước và tăng 12,4% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 68,1 tỷ đồng, tăng 7,6% so với tháng trước và  tăng 13,1% so cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 324,7 tỷ đồng, tăng 8,2% so với tháng trước và tăng 12,6% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ hỗ trợ ước đạt 25,3 tỷ đồng, tăng 9,6% so với tháng trước và tăng 8% so với cùng kỳ.
B. Một số vấn đề xã hội
1. Công tác hoạt động xã hội
Hưởng ứng phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo - không để ai bị bỏ lại phía sau” và góp phần chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người nghèo trên địa bàn trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019, với phương châm “Nhà nhà đều có Tết, người người đều có Tết”. Thường trực Tỉnh ủy Thái Nguyên đã có chủ trương về tổ chức “Tuần cao điểm Tết vì người nghèo năm 2019” diễn ra từ ngày 16/1/2019 đến ngày 22/01/2019 (tức ngày 11/12/2018 đến ngày 17/12/2018 âm lịch). Đối tượng hỗ trợ như: Các hộ gia đình chính sách, người có công, hộ nghèo, cận nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn toàn tỉnh nhân dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019. Trong đó hướng về cơ sở, tập trung vào 36 xã đặc biệt khó khăn của tỉnh (với 9.013 hộ nghèo và 10.000 hộ cận nghèo) nhằm huy động các nguồn lực xã hội trên tinh thần tự nguyện, tự giác để tổ chức các hoạt động chung tay chăm sóc, giúp đỡ các đối tượng trên.
Ngoài ra còn xây dựng tổng đài tin nhắn vận động cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và các tầng lớp nhân dân nhắn tin ủng hộ người nghèo từ ngày 10/01/2019, mỗi tin nhắn ủng hộ trị giá 30.000 đồng.
Thực hiện “Tuần cao điểm Tết vì người nghèo năm 2019”, các Ban ngành,  đoàn thể và các địa phương, đơn vị của tỉnh và cấp huyện đã đến thăm và tặng quà các địa phương. Kết quả tổng hợp tiến độ đến ngày 22/01/2019 tuần cao điểm Tết vì người nghèo năm 2019 của tỉnh đã nhận được gần 20,1 tỷ đồng từ sự đóng góp, ủng hộ của 120 cơ quan, đơn vị, địa phương, các doanh nghiệp và các nhà hảo tâm sau 2 tuần phát động và triển khai chương trình “Tuần cao điểm Tết vì người nghèo năm 2019”. Nhiều hoạt động ý nghĩa đã được tổ chức trên địa bàn toàn tỉnh, trong đó tập trung chủ yếu ở 542 xóm đặc biệt khó khăn và 76 xã khu vực II và III... Đến thời điểm báo cáo tổng số tiền huy động được là trên 20 tỷ đồng và công tác thực hiện vẫn đang tiếp tục thực hiện.
Ngoài ra, tính đến ngày 23/1/2019 tỉnh Thái Nguyên đã thực hiện trợ giúp thiếu đói nhân dịp Tết Nguyên đán cho 7.656 nhân khẩu với 146 tấn gạo, trị giá 1.446 triệu đồng từ nguồn của địa phương. Thực hiện trợ giúp xã hội cho 26.939 hộ nghèo, cận nghèo, bảo trợ xã hội và 120 đối tượng trong các cơ sở điều dưỡng và bảo trợ xã hội với tổng số tiền là 11.481,7 triệu đồng (bao gồm hỗ trợ quà tết bằng tiền mặt là 8.218,7 triệu đồng; hỗ trợ nhà ở cho 52 hộ với trị giá 1.456 triệu đồng; hỗ trợ bằng hình thức khác cho 3.316 hộ với số tiền là 1.807 triệu đồng).
Với sự chung tay giúp sức, sẻ chia của các cơ quan, đơn vị và cộng đồng  có ý nghĩa rất lớn với người dân trên địa bàn tỉnh trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi.
* Thực hiện chính sách ưu đãi Người có công: Các ngành, các địa phương, các tổ chức đoàn thể trên địa bàn đã triển khai nhiều hoạt động, thực hiện việc chuyển quà tặng của Chủ tịch nước, quà tặng của địa phương, các cơ quan, đơn vị nhân dịp Tết Nguyên Đán cho các đối tượng người có công, gia đình có công với cách mạng. Tỉnh Thái Nguyên đã thực hiện tốt chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với người có công với cách mạng; chi trả đúng, đủ, kịp thời đến tận tay đối tượng hưởng trợ cấp thường xuyên cho trên 23 nghìn người có công và thân nhân của họ; 100% bà mẹ Việt Nam anh hùng được phụng dưỡng; quan tâm cải tạo, nâng cấp các nghĩa trang liệt sỹ, đài tưởng niệm, các nhà bia ghi tên bằng nhiều nguồn vốn khác nhau; tổ chức đoàn đại biểu của tỉnh viếng, dâng hương tại Nghĩa trang liệt sĩ Thái Nguyên - Bắc Kạn thuộc nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn; dâng hương tại Đài tưởng niệm, nghĩa trang liệt sĩ của tỉnh.
Giải quyết đúng, kịp thời chế độ cho thân nhân người có công từ trần hưởng trợ cấp tuất hàng tháng; trợ cấp thờ cúng liệt sỹ, trợ cấp mai táng phí, giải quyết trợ cấp một lần. Năm 2018, giải quyết trợ cấp thờ cúng liệt sỹ 181 trường hợp; trợ cấp mai táng phí 615 trường hợp; Đổi người thờ cúng liệt sỹ: 65 trường hợp; Cấp lại thẻ thương bệnh binh, gia đình liệt sỹ: 71 trường hợp; Kiểm tra xác minh tình hình thân nhân liệt sỹ 04 trường hợp để giải quyết chế độ Mẹ Việt nam anh hùng và Huân chương độc lập; đề nghị hưởng Bảo hiểm y tế cho 686 trường hợp;  tổ chức điều dưỡng cho 798 đối tượng…
* Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em: tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được quan tâm chăm sóc đạt 90%; tỷ lệ xã phường đạt tiêu chuẩn xã/phường phù hợp với trẻ em đạt 93%. Ngành chức năng phối hợp các cấp, các ngành, các tổ chức và doanh nghiệp thăm và tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh nhân dịp Tết nguyên đán. Phối hợp với các tổ chức, các nhà hảo tâm tổ chức khám, chữa bệnh miễn phí cho trẻ em.
Phấn đấu năm 2019 toàn tỉnh có 96,0% xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn phù hợp với trẻ em. Tạo môi trường an toàn, lành mạnh để trẻ em được phát triển toàn diện; ngăn chặn, đẩy lùi các nguy cơ xâm hại trẻ em; 90% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được bảo vệ, chăm sóc; 100% trẻ em dưới 6 tuổi được tiếp cận miễn phí các dịch vụ y tế của nhà nước.
2. Văn hóa, thể thao
Trên địa bàn tỉnh đã có kế hoạch tổ chức nhiều các hoạt động tuyên truyền, biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, triển lãm, thể thao mừng Đảng, mừng xuân, chào mừng các ngày lễ lớn, kỷ niệm, chào mừng kỷ niệm 89 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930- 3/2/2019), mừng xuân Kỷ Hợi- Tết Nguyên đán 2019 và phục vụ nhu cầu, tham quan, vui chơi giải trí. Các hoạt động được tổ chức bằng nhiều hình thức phù hợp, thiết thực, an toàn, tiết kiệm, tạo được không khí vui tươi, phấn khởi cho nhân dân đón tết. Nội dung ca ngợi Đảng, Bác Hồ, quê hương, đất nước, ca ngợi truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; vận động nhân dân tiếp tục giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong dịp đón Xuân vui tết cổ truyền, thực hiện nếp sống văn minh trong hoạt động lễ hội.
Công tác thanh tra, kiểm tra: Trong tháng 01/2019 ngành chức năng tổ chức kiểm tra 01 buổi biểu diễn nghệ thuật, thực hiện quảng cáo của 13 tổ chức, cá nhân trên địa bàn thành phố Thái Nguyên; xử phạt vi phạm hành chính, thu nộp ngân sách nhà nước 10 triệu đồng; xây dựng kế hoạch kiểm tra hoạt động lễ hội.
Hoạt động bảo tàng: Xây dựng kế hoạch và  tổ chức sưu tầm đợt 1/2019 với chủ đề "Sưu tầm tài liệu, hiện vật về đời sống văn hóa và một số nghề thủ công truyền thống của dân tộc Tày, Nùng, Dao, Sán Chay trên địa bàn thành phố Thái Nguyên và các huyện Định Hóa, Phú Lương, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ". Sưu tầm ảnh phục vụ triển lãm “Thành tựu kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên” phục vụ Chương trình gặp mặt, chúc Tết người nước ngoài và các tổ chức, cá nhân nước ngoài nhân dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi; phục vụ 377 lượt khách tham quan (25 lượt khách nước ngoài).
Hoạt động khu di tích lịch sử và sinh thái ATK - Định Hoá: ngành chức năng đã hoàn thành hồ sơ di tích cơ quan Tổng bộ Việt Minh thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Thực hiện tu sửa, tôn tạo nhà lán di tích nơi ở và làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam; sửa chữa đai trưng bày ảnh tư liệu, hiện vật, bản trích tại di tích nơi thành lập Hội nhà Báo Việt Nam; bảo quản tài liệu, đánh số hiện vật. Đón 118 đoàn với  hơn 10,2 nghìn lượt khách; hoàn thành cuốn sách “Du lịch về thủ đô gió ngàn ATK Định Hóa”.
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật, phát hành phim và chiếu bóng: Tháng 1/2019 đã tổ chức 05 buổi biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị, đối tượng chính sách; 102 buổi chiếu phim phục vụ các xã vùng khó khăn, đối tượng chính sách, phục vụ 6.720 lượt người xem.
Hoạt động thư viện: Phối hợp thực hiện 04 cuộc giới thiệu sách trên Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh; chuẩn bị tổ chức Hội báo xuân Kỷ Hợi với chủ đề “Mừng Đảng, mừng Xuân, mừng đất nước đổi mới”. Cấp thẻ và phục vụ trên 3 nghìn lượt bạn đọc, luân chuyển khoảng 6 nghìn lượt sách.
Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở: Xây dựng chương trình nghệ thuật “Mừng Đảng, mừng Xuân mới”; tổ chức 09 buổi tuyên truyền lưu động.  Phục vụ Hội nghị tổng kết công tác năm 2018, triển khai nhiệm vụ năm 2019 và tổng  kết phong trào thi đua yêu nước của Đảng bộ tỉnh; phối hợp với các đơn vị liên quan phục vụ lễ hội tại các huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh; tổ chức chương trình văn hoá trà phục vụ các cá nhân, tổ chức nước ngoài về đón Tết tại Việt Nam; duy trì hoạt động của 15 Câu lạc bộ văn hoá, nghệ thuật.
Lĩnh vực thể thao: Chuẩn bị tổ chức các hoạt động thể thao mừng Đảng, mừng Xuân (cờ tướng, tung còn, chọi gà, bắn súng trường hơi). Hướng dẫn thành lập Câu lạc bộ thể dục thể thao cơ sở và công tác quản lý tổ chức hoạt động thể dục thể thao ngoài công lập; rà soát, kiểm tra, báo cáo  kết quả  hoạt động TDTT quần chúng. Tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo 181 học sinh năng khiếu hệ nội trú, 40 học sinh bán trú.
3. Hoạt động Y tế và dân số
Mạng lưới y tế trên địa bàn đang được sắp xếp nhằm tinh gọn và giảm các đầu mối, phát huy hiệu quả hoạt động và giảm chi phí; cùng với đó là đẩy mạnh phát triển y tế chuyên sâu, tạo điều kiện để người dân được tiếp cận với các dịch vụ y tế cơ bản và cả các dịch vụ có chất lượng cao một cách thuận tiện nhất.
Chỉ số hài lòng về dịch vụ y tế công toàn ngành y tế năm 2018 đạt 83%. Kết quả khảo sát sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ Y tế công cho thấy người dân đã và đang đánh giá tích cực về dịch vụ y tế, chứng minh được nỗ lực cải thiện chất lượng dịch vụ y tế của Ngành y tế Thái Nguyên.
* Công tác phòng chống dịch bệnh và khám chữa bệnh
 - Tình hình dịch bệnh: Năm 2018 trên địa bàn tỉnh không có dịch bệnh lớn xảy ra. Số ca  mắc Sốt xuất huyết giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2017. Rải rác  xuất hiện một số ca Viêm não Nhật Bản B, Viêm màng não do não mô cầu, bệnh do liên cầu lợn ở người; trong đó có 02 ca tử vong do mắc Liên cầu lợn (Định Hóa: 01, Đồng Hỷ: 01). Số trường hợp phải tiêm vắc xin/huyết thanh để phòng và điều trị dự phòng bệnh dại tăng 14,4% so với năm 2017 (2017 có 9.547 người; 2018 có 10.920 người), có 03 ca tử vong do bệnh dại.  Ngành chức năng đã triển khai kịp thời các biện pháp xử lý, giảm thiểu số ca mắc; chỉ đạo tăng cường công tác tuyên truyền cho nhân dân trên địa bàn biết cách phòng bệnh.
- Công tác khám chữa bệnh: Năm 2018 các hoạt động khám chữa bệnh, thực hiện quy chế chuyên môn trong toàn Ngành được duy trì tốt. Quỹ khám chữa bệnh người nghèo tiếp tục được tỉnh quan tâm, chỉ đạo thực hiện. Năm 2018, tỉnh đã bố trí ngân sách hỗ trợ hoạt động của quỹ là 15,99 tỷ đồng.
Năm 2018, tổng số lượt bệnh nhân đến khám chữa bệnh trong toàn tỉnh đạt 2,7 triệu lượt, giảm 273 nghìn lượt so với năm 2017 (năm 2017 là 3 triệu lượt), công tác phòng bệnh đã thực hiện có hiệu quả, sức khỏe người dân nâng lên, nhiều người đã biết tự chăm sóc, bảo vệ sức khỏe; công tác phòng chống bệnh không lây nhiễm, các bệnh mãn tính đã góp phần giảm tần xuất bệnh nhân phải nhập viện khám và điều trị.
Hoạt động khám chữa bệnh tại tuyến xã, phường tiếp tục duy trì thực hiện tốt, trong đó quan tâm khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế cho người nghèo, đối tượng chính sách, trẻ em dưới 6 tuổi; một số trạm y tế đã tích cực ứng dụng y học cổ truyền trong khám chữa bệnh, sử dụng có hiệu quả các phương tiện chẩn đoán như siêu âm, điện tim, xét nghiệm.
Kết quả kiểm tra xã năm 2018 có 101/181 Trạm y tế xã đạt loại tốt (55,8%); 80 trạm đạt loại khá (44,2%); không có Trạm nào đạt dưới 80 điểm.
- Chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm: Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm được duy trì thực hiện tốt. Ngành Y tế đã xây dựng phương án ứng phó khi xẩy ra ngộ độc thực phẩm tập thể trong các dịp lễ, hội. Tổ chức diễn tập phòng chống ngộ độc thực phẩm tập thể tại công ty nước ngoài nơi có đông công nhân làm việc. Tăng cường giám sát nguy cơ gây ô nhiễm thực phẩm.
Trong năm 2018,  trên địa bản  xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể nhỏ với 15 người mắc tại huyện Đồng Hỷ (nguyên nhân do vi sinh vật), không có tử vong.  Tỷ lệ mắc/100.000 dân là 1,22, thấp hơn so với năm 2017 (năm 2017 có 01 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể với 27 người mắc, tỷ lệ mắc/100.000 dân: 2,27).
 Tổng số cơ sở được cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện An toàn thực phẩm năm 2018 là 594 cơ sở (tuyến tỉnh: 88, tuyến huyện: 506), lũy tích là 2.550 cơ sở có Giấy chứng nhận còn hiệu lực. Ký cam kết bảo đảm ATTP: 284 cơ sở, lũy tích 1.470 cơ sở. Tiếp nhận bản tự công bố sản phẩm 236 sản phẩm.
- Chương trình phòng chống HIV/AIDS: Công tác phòng chống HIV/AIDS duy trì tốt các hoạt động. Năm 2018 thực hiện điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone cho 2.354 người; điều trị thuốc kháng vi rút cho 3.640 người lớn, 119 trẻ em nhiễm HIV/AIDS, tăng so với cùng kỳ 2017 (năm 2017 là 3.549 người). Lũy tích số nhiễm HIV/AIDS đến 31/12/2018 là 10.152 người, số chuyển sang AIDS: 6.739 người, số tử vong do AIDS là 3.473 người.
- Chương trình Tiêm chủng mở rộng: Công tác Tiêm chủng mở rộng đảm bảo an toàn. Tỷ lệ trẻ tiêm chủng đầy đủ năm 2018 đạt chỉ tiêu giao (97,5%). Kết quả thực hiện chiến dịch tiêm vắc xin Sởi- Rubella cho trẻ 1 - 5 tuổi tại các huyện/thành đạt  từ 88% - 96 %, các đơn vị chưa đạt trên 95% sẽ thực hiện tiêm bổ sung trong tháng 01/2019.
* Công tác dân số:  Năm 2018 số trẻ sinh ra là con thứ 3  trở lên: 1.624 trẻ (tăng 219 trẻ so với cùng kỳ năm 2017; chiếm 8,7%; tuy nhiên vẫn thấp hơn so với khu vực (14,5%) và cả nước (12,6%). Số cán bộ, đảng viên sinh con thứ 3 trở lên là 88 trường hợp (tăng 10 so với cùng kỳ năm 2017). Tỷ số giới tính khi sinh (trẻ trai/100 trẻ gái) là 111, giảm so với mức 114,5% của năm 2017.
* Xã đạt chuẩn quốc gia về Y tế: Các trạm y tế xã thực hiện chức năng chăm sóc sức khỏe ban đầu, đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng phần mềm trong khám chữa bệnh, thanh toán bảo hiểm y tế; phần mềm báo cáo bệnh truyền nhiễm và tiêm chủng theo chỉ đạo của Bộ Y tế.
Trong năm 2018, đã có thêm 7 xã, thị trấn đạt tiêu chí quốc gia về y tế; Tổng số xã đạt tiêu chí Quốc gia về Y tế đến hết năm 2018 là 166/180 xã đạt tỷ lệ 92,2% (năm 2017 đạt 88,33%). Trong đó toàn bộ 22 xã về đích nông thôn mới năm 2018 đều đạt tiêu chí Quốc gia về Y tế.
4. Tình hình trật tự, an toàn giao thông
Với chủ đề năm An toàn giao thông 2019 là “An toàn giao thông cho hành khách và người đi mô tô, xe máy”, tỉnh Thái Nguyên đặt mục tiêu phấn đấu tiếp tục giảm tai nạn giao thông từ 3 đến 5% trên cả 3 tiêu chí so với năm 2018. Trong tháng 1/2019 trên địa bàn tỉnh đã tổ chức Lễ phát động ra quân hưởng ứng Năm An toàn giao thông 2019, đảm bảo trật tự an toàn giao thông Tết Nguyên đán Kỷ Hợi và lễ hội Xuân với các giải pháp nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tai nạn giao thông; tiếp tục nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong các lĩnh vực quản lý hoạt động vận tải, đào tạo sát hạch và cấp giấy phép lái xe, đăng ký, đăng kiểm chất lượng phương tiện… đổi mới công tác tuyên truyền về nn toàn giao thông và nâng cao hiệu quả dưới nhiều hình thức đến mọi tầng lớp nhân dân.
Theo báo cáo của Ban an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, tính từ 16/12/2018 đến 15/01/2019, xảy ra 10 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 7 người và bị thương 4 người, so với cùng kỳ năm trước số vụ tăng 2 vụ (+25%), số người bị chết giảm 1 người (-12,5%), giảm 3 người bị thương (-42,85%). Trong đó, tai nạn liên quan đến ô tô 5 vụ (chiếm 50%), liên quan đến mô tô là 5 vụ. Giá trị tài sản thiệt hại ước tính 50,5 triệu đồng.
Công tác kiểm tra, xử lý vi phạm an toàn giao thông đường bộ: Trong kỳ, các cơ quan chức năng đã kiểm tra, lập biên bản và xử lý vi phạm 5.236 trường hợp; tước 448 giấy phép lái xe; tạm giữ 218 xe ô tô, 542 xe mô tô; 16 phương tiện khác; số tiền xử phạt 4,5 tỷ đồng
Tình hình an toàn giao thông đường sắt và đường thủy ổn định, không xảy ra tai nạn giao thông. Đã xử lý 07 trường hợp vi phạm an toàn giao thông đường thủy nội địa; thu nộp Kho bạc Nhà nước 525 nghìn đồng.
5. Tình hình cháy nổ
Công tác phòng cháy, chữa cháy đã được cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra và nhắc nhở nhằm hạn chế các vụ cháy nổ xảy ra. Trong tháng 1 năm 2019 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 12 vụ cháy, không có vụ nổ nào; không gây thiệt hại về người; giá trị tài sản thiệt hại ước khoảng 77 triệu đồng, bằng 9,9% so tháng 1 năm 2018 (tháng 1/2018 là 780 triệu đồng).
6. Vi phạm môi trường
Trong tháng 1 năm 2019 trên địa bàn tỉnh ngành chức năng đã kiểm tra và xử lý 10 vụ vi phạm môi trường, với tổng số tiền xử phạt khoảng 35,5 triệu đồng. Nguyên nhân của các vụ xử lý trên là do các cơ sở sản xuất kinh doanh không thực hiện quan trắc giám sát môi trường định kỳ theo đề án bảo vệ môi trường được Sở Tài Nguyên Môi trường xác nhận.
Trên đây là một số tình hình về kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên tháng 01 năm 2019./.

Nguồn tin: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây