Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2019 tỉnh Thái Nguyên

Thứ sáu - 01/03/2019 08:10
I. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
1. Trồng trọt
a. Sản xuất vụ Xuân
Đến thời điểm báo cáo các huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn tỉnh đã cơ bản thu hoạch xong cây trồng vụ Đông và đang triển khai gieo trồng trong khung thời vụ các loại cây hàng năm vụ Xuân.
Vụ Xuân năm 2019 thời tiết ấm, đủ nước, thuận lợi cho công tác gieo cấy. Công tác chuẩn bị được các địa phương tiến hành từ trước Tết Nguyên đán nên bước vào vụ, thời tiết ấm, tiến độ gieo trồng tương đối nhanh so với tiến độ cùng kỳ.
Theo kế hoạch, vụ Xuân 2019 toàn tỉnh gieo trồng 28,92 nghìn ha lúa và 7,1 nghìn ha cây ngô. Dự ước đến hết tháng 02/2019, toàn tỉnh gieo cấy được khoảng 30 nghìn ha lúa (bằng 103,2% tiến độ cùng kỳ, bằng 103,5% kế hoạch) và gieo trồng được khoảng 7,8 nghìn ha cây màu vụ Xuân, nhanh hơn tiến độ cùng kỳ; trong đó, cây ngô 3,5 nghìn ha bằng 49,3% kế hoạch trong vụ và bằng 113,3% tiến độ cùng kỳ; cây rau đậu các loại đạt khoảng 3 nghìn ha, bằng 72% kế hoạch; cây lạc 500 ha, bằng 105,6% cùng kỳ; cây đỗ tương 321 ha, bằng 122,3% tiến độ gieo trồng cùng kỳ ...
Hiện nay các địa phương đang tiếp tục gieo trồng cây màu vụ Xuân và  chăm sóc diện tích lúa mới gieo cấy; điều tiết nguồn nước tưới; ngành chức năng phối hợp chặt chẽ với các địa phương kiểm tra, nắm tình hình diễn biến dịch hại trên đồng ruộng để có các biện pháp phòng trừ hiệu quả.
b. Cây lâu năm
- Cây chè: Năm 2019, kế hoạch trồng mới và trồng lại  cây chè toàn tỉnh là 750 ha, giảm so với mức kế hoạch 776 ha của năm 2018. Hiện nay các địa phương đang triển khai công tác chuẩn bị như: Cắm hom, ươm giống chè, chuẩn bị thực địa...
- Cây ăn quả: Diện tích cây ăn quả được chăm sóc và phát triển bình thường. Dự kiến năm 2019, diện tích trồng mới cây ăn quả tiếp tục tăng và xây dựng vùng sản xuất cây ăn quả hàng hóa tập trung, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, kỹ thuật sản xuất cây ăn quả an toàn chất lượng.
2. Chăn nuôi
Tình hình bệnh long móng lở mồm trên đàn gia súc: Sau khi thực hiện tiêu hủy toàn bộ gia súc mắc bệnh lở mồm long móng và thực hiện tiêm phòng đầy đủ tại các xã có ổ dịch. Tính đến ngày 25/2/2019 trên địa bàn tỉnh tình hình dịch bệnh đã được khống chế; các thôn, xóm, các xã có dịch đã đều qua 21 ngày không phát sinh mắc mới; các địa phương khác đàn gia súc, gia cầm ổn định, chưa phát sinh thêm ổ dịch mới trên đàn vật nuôi.
Diễn biến bệnh long móng lở mồm: xuất hiện trên đàn lợn từ đầu tháng 12/2018 và được phát hiện ban đầu ở phường Lương Sơn, thành phố Sông Công sau đó được phát hiện trên các địa phương khác. Tính đến ngày 25/2/2019 toàn tỉnh đã có 8/9 địa phương phát hiện lợn mắc bệnh Lở mồm long móng đã qua 21 ngày, riêng huyện Đại Từ chưa phát sinh. Tổng số lợn mắc bệnh long móng lở mồm đã được phát hiện tại 65 hộ chăn nuôi ở rải rác trên địa bàn 30 xã/phường/thị trấn của 8/9 đơn vị cấp huyện với 894 con lợn bị mắc bệnh buộc phải tiêu hủy, trọng lượng khoảng trên 47 tấn lợn hơi.
Công tác chống dịch đã đang được cơ quan thú y và chính quyền địa phương tích cực triển khai, khoanh vùng và dập dịch hiệu quả. Tổng số vắc xin, hóa chất đã cấp cho các huyện là 80,8 nghìn liều vắc xin long móng lở mồm và trên 5 nghìn lít hóa chất; các huyện tự mua 15.000 liều vắc xin LMLM, gần 200 tấn vôi bột phục vụ cho công tác chống bênh long móng lở mồm tại các địa phương. Bên cạnh đó ngành chức năng tăng cường công tác kiểm tra, phát hiện gia súc mắc bệnh lở mồm long móng và xử lý kịp thời, quyết liệt không để lây lan ra diện rộng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và giảm thiểu thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi; thực hiện thông tin tuyên truyền tới mọi tầng lớp nhân dân, người chăn nuôi thực hiện nghiêm túc các quy định trong công tác phòng, chống bệnh trên đàn gia súc và nghiêm cấm dấu dịch, giết mổ, bán chạy, vứt xác lợn ốm, chết ra ngoài môi trường. Thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh đã có Chỉ thị chỉ đạo các cấp, các ngành tích cực thực hiện các giải pháp phòng, chống Dịch tả lợn Châu Phi.
Do tháng 02/2019 là Tháng Tết và có 9 ngày nghỉ Tết Nguyên Đán Kỷ Hợi 2019 nên giá bán sản phẩm lợn thịt hơi của người chăn nuôi tháng 02/2019 tăng 3,94% so với tháng trước (1/2019) và tăng 34,7% so cùng kỳ; Giá gà ta thịt hơi tăng 21,5% so với tháng trước và tăng 3,8%so cùng kỳ.
3. Lâm nghiệp
Theo kế hoạch, năm 2019 toàn tỉnh sẽ trồng tập trung 3.720 ha rừng. Trong đó: rừng sản xuất 2.500 ha; rừng thay thế 50 ha; trồng rừng bằng nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách địa phương, nguồn vốn của người dân và các doanh nghiệp là 1.170 ha và trồng cây phân tán 500 nghìn cây.
Trong những ngày đầu xuân năm 2019, các địa phương đã triển khai kế hoạch và phát động Tết trồng cây, phát động phong trào trồng cây vụ Xuân theo các chương trình và trồng rừng theo kế hoạch giao năm 2019.
Sau khi được giao nhiệm vụ, các đơn vị, địa phương đã chuẩn bị mặt bằng, cây giống các điều kiện cần thiết để chuẩn bị triển khai thực hiện Tết trồng cây năm 2019 theo kế hoạch (thị xã Phổ Yên tiến hành Tết trồng cây ngay từ ngày mồng 3 Tết; huyện Đồng Hỷ: Ngày 08 tháng Giêng; Huyện Võ nhai, TP thái Nguyên: ngày 9 tháng Giêng; Huyện Phú Bình: Ngày 10 tháng Giêng; Huyện Phú Lương: Ngày 11 tháng Giêng; Huyện Định Hóa: ngày 12 tháng Giêng).
Kết quả thực hiện Lễ phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” từ ngày 7/02/2019 (tức từ ngày 03 tháng Giêng) đến ngày 16/02/2019 (tức ngày 12 tháng Giêng): Tổng số cây lâm nghiệp ngành chức năng chuẩn bị 629,3 nghìn cây, trong đó, số đã được cấp phát cho các đơn vị là 562,7 nghìn cây. Có 8/9 địa phương tổ chức Lễ phát động “Tết Trồng cây”; ngay trong ngày tổ chức phát động đã trồng được 66,6 nghìn cây xanh, trong đó trồng chủ yếu các loại cây như: cây cảnh, cây bóng mát 0,82 nghìn cây; cây lâm nghiệp 65,78 nghìn cây.
Các địa phương thực hiện rà soát diện tích đất rừng đủ điều kiện đưa vào trồng rừng, chuẩn bị hiện trường, cây giống trồng rừng năm 2019; tăng cường công tác kiểm soát chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn.
Công tác quản lý và bảo vệ rừng: Trong tháng 2/2019 trên địa bàn không có vụ cháy rừng. Công tác quản lý và bảo vệ rừng trước và sau Tết Nguyên Đán được các ngành chức năng chú trọng triển khai; đồng thời tuyên truyền giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng đến người dân; tăng cường công tác kiểm tra, tuần tra các khu vực có nguy cơ cháy rừng cao; duy trì thông tin liên lạc thông suốt và chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, phương tiện phối hợp khi có cháy rừng xảy ra.
Trong tháng 01/2019 đã xử lý 23 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, giảm 30% so với cùng kỳ năm 2018; Tịch thu 19,65m3 quy tròn các loại; tịch thu 4 phương tiện các loại; Thu nộp ngân sách nhà nước 280 triệu đồng.
Tình hình khai thác lâm sản: Dự ước 2 tháng đầu năm 2019 khai thác 26 nghìn m3, tương đương so với cùng kỳ; củi khai thác 30,1 nghìn ste.
4. Thủy sản
 Ngành chức năng đã chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở sản xuất giống nuôi vỗ cá bố mẹ các loại, chăm sóc cá giống phục vụ cho vụ sản xuất năm 2019. Các địa phương tiếp tục chăm sóc, phòng bệnh cho thủy sản; thu hoạch cá thương phẩm, đồng thời nạo vét, vệ sinh ao hồ để thả cá giống cho vụ sản xuất mới.
II. Sản xuất công nghiệp
Tháng 01/2019 chỉ số tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp trên địa bàn tăng 33,4% so với tháng 12/2018 nhưng so với cùng kỳ mức tiêu thụ giảm 14,3%. Sản lượng sản phẩm công nghiệp tồn kho tính đến ngày 01 tháng 2/2019 (thời điểm trước Tết Nguyên đán) của một số sản phẩm chủ yếu như sau: điện thoại thông minh tồn kho 11,4 triệu sản phẩm, gấp 1,86 lần sản lượng sản xuất bình quân 1 tháng; sắt thép các loại tồn 204 nghìn tấn, gấp 2,7 lần khối lượng sản xuất; sản phẩm may tồn 7,3 triệu sản phẩm…
Bước sang tháng 2/2018, là tháng trùng với dịp nghỉ Tết Nguyên đán và mùa lễ hội sau Tết nhưng nhịp độ sản xuất vẫn tăng so với cùng kỳ do các doanh nghiệp đã hoạt động, kinh doanh trở lại ngay từ những ngày đầu xuân.
Ước tính chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tháng 02/2019 giảm 16,4% so với tháng trước nhưng tăng 5,4% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,5%; ngành khai khoáng tăng 3,8%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,3% so với cùng kỳ.
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất tháng 02/2019 nhìn chung đều tăng so với cùng kỳ. Tăng cao nhất là đá khai thác ước đạt 320 nghìn m3, gấp 2,1 lần cùng kỳ; sản phẩm may đạt 6,2 triệu sản phẩm, tăng 73%; mạch điện tử tích hợp đạt 8,2 triệu sản phẩm tăng 55,3%; camera truyền hình đạt 5,7 triệu sản phẩm, tăng 48,1%; gạch xây dựng bằng gốm sứ đạt 3 triệu viên, tăng 40,1%; xi măng 110 nghìn tấn, tăng 17,7%; phụ tùng khác của xe có động cơ tăng 23,1%; Thiết bị và dụng cụ khác trong y khoa tăng 34,5%; điện thoại thông minh 6,3 triệu sản phẩm, tăng 7,2% cùng kỳ, trong đó, tăng chủ yếu ở nhóm điện thoại có giá trị dưới 3 triệu (tăng 29,1% so cùng kỳ; nhóm điện thoại có giá từ 6 triệu trở lên tăng 2,2%)... Ngoài ra,  một số sản phẩm dự ước sản xuất thấp hơn so với cùng kỳ như: sắt thép các loại đạt 76 nghìn tấn, giảm 22,9%; máy tính bảng đạt 1 triệu sản phẩm, giảm 48,6%; khai thác than đạt 80,7 nghìn tấn, giảm 7,2%; vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 1,3 nghìn tấn, giảm 9%...
Tính chung 2 tháng đầu năm 2019 chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 3,8% so với cùng kỳ năm 2018; trong đó, nhóm ngành khai khoáng tăng 5,2%; nhóm ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5%; nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,8% (tăng cao nhất là sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 87,9% và sản xuất trang phục tăng 73,1%); còn nhóm cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 7,6% so với cùng kỳ.
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu 2 tháng đầu năm đạt sản lượng tăng so với cùng kỳ năm 2018 là: Sản phẩm may 15,4 triệu sản phẩm, tăng 73%; camera truyền hình đạt 13,6 triệu sản phẩm, cao gấp 2 lần; đá khai thác đạt 681,4 nghìn m3, tăng 54,8%; đồng tinh quặng (Cu>20%) đạt 8 nghìn tấn, tăng 29,6%; phụ tùng khác của xe có động cơ đạt 7,6 triệu sản phẩm, tăng 12,4%...; nhóm sản phẩm dự ước sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ là: gạch xây dựng bằng gốm, sứ đạt 7,6 triệu viên, giảm 5,2%; xi măng đạt 246,7%, giảm 11,4%; sắt thép các loại đạt 165,3 nghìn tấn, giảm 24,3%. Riêng điện thoại thông minh 2 tháng 2019 sản xuất ước đạt 15,3 triệu sản phẩm, giảm 2,2% so với cùng kỳ (chủ yếu do sản lượng sản xuất trong tháng 1/2019 giảm). Cơ cấu sản phẩm điện thoại sản xuất 2 tháng như sau: nhóm điện thoại có giá trị dưới 3 triệu đạt 9,3 triệu sản phẩm (chiếm 61% tổng số), tăng 14,5% so cùng kỳ; nhóm điện thoại có giá từ 6 triệu trở lên đạt 3 triệu cái tăng 2,8% cùng kỳ và nhóm điện thoại thông minh có giá từ 3 đến dưới 6 triệu đồng đạt 2,9 triệu sản phẩm, giảm 35,6%; máy tính bảng ước đạt 2,6 triệu sản phẩm, giảm 13,6% cùng kỳ.
III. Thu, chi ngân sách
1. Thu Ngân sách
Tổng thu trong cân đối ngân sách trên địa bàn tháng 01 năm 2019 đạt 1.300 tỷ đồng, giảm 26,2% so với cùng kỳ và bằng 8,7% dự toán cả năm (tháng 1/2018 đạt 13,4% dự toán). Trong đó, thu nội địa đạt 1.098 tỷ đồng, giảm 29,9% so với cùng kỳ và bằng 9,4% dự toán cả năm; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 185,7 tỷ đồng, giảm 4,9% so với cùng kỳ và bằng 5,5% dự toán cả năm.
Có 8/14 khoản thu đạt cao hơn so với cùng kỳ như: Thu từ Doanh nghiệp nhà nước đạt 146,4 tỷ đồng, cao gấp 2,2 lần so cùng kỳ; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 128,4 tỷ đồng, cao gấp 1,8 lần; thu cấp quyền sử dụng đất đạt 216 tỷ đồng, cao gấp 1,9 lần; thuế sử dụng đất phi Nông nghiệp đạt 174 triệu đồng, tăng 20,8%; lệ phí trước bạ đạt 66,5 tỷ đồng, tăng 16,5%; thu phí lệ phí đạt 30,3 tỷ đồng, tăng 5,8%; thu cấp quyền khai thác khoáng sản đạt 1,9 tỷ đồng; cao gấp 1,7 lần và thu khác ngân sách xã đạt 79 triệu đồng gấp 5 lần so cùng kỳ.
Các khoản thu đạt thấp so với tháng 1/2018 như: Thu từ khu vực dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 270 tỷ đồng, chiếm 24,6% thu nội địa và chỉ bằng 33,5% cùng kỳ; thuế thu nhập cá nhân đạt 179,6 tỷ đồng, giảm 34,5%; thu tiền cho thuê đất đạt 12,1 tỷ đồng, bằng 34% cùng kỳ; thuế bảo vệ môi trường đạt gần 30 tỷ, giảm 52,1%...
2. Chi ngân sách
Tổng chi ngân sách địa phương tháng 01/2019 đạt 1.118 tỷ đồng, bằng 7,5% dự toán cả năm. Trong đó, chi đầu tư phát triển là 274 tỷ đồng, gấp 4,8 lần so với cùng kỳ và bằng 8,5% dự toán (năm 2018 bằng 2,4% dự toán); chi thường xuyên đạt 826,2 tỷ đồng (chiếm 73,8% trong tổng chi cân đối ngân sách địa phương) bằng 10% so dự toán cả năm.
Trong chi thường xuyên, chị sự nghiệp giáo dục, đào tạo và dạy nghề đạt 372,8 tỷ đồng (chiếm 45,1% tổng số), bằng 10,3% dự toán năm; chi quản lý hành chính đạt 231 tỷ đồng (chiếm 27,9%), bằng 14,5% dự toán; chi đảm bảo xã hội đạt 45,4 tỷ đồng, bằng 12,4% dự toán cả năm…
Tính đến thời điểm trước Tết Nguyên đán, ngành chức năng tỉnh và các huyện, thành phố, thị xã đã đảm bảo cấp đầy đủ, kịp thời kinh phí cho các cơ quan, đơn vị để chi trả lương và các khoản có tính chất lương tháng 01, tháng 02 cho cán bộ công chức, viên chức, các đối tượng hưởng lương từ ngân sách  và các đối tượng chính sách xã hội, các khoản chi đột xuất các khoản chi hỗ trợ người nghèo trước Tết nguyên đán năm 2019.
IV. Thương mại, giá cả và dịch vụ
1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội
Tháng 02/2019 trùng với Tết Nguyên đán Kỷ Hợi và mùa lễ hội sau Tết, do vậy nhu cầu mua sắm của dân cư trên địa bàn tăng cao so với cùng kỳ. Các mặt hàng tiêu thụ mạnh nhất chủ yếu là thực phẩm tươi sống, thực phẩm chế biến, quần áo may sẵn, giày dép, đồ dùng gia đình, bánh mứt, trái cây và rượu bia các loại.
Nhìn chung thị trường hàng hóa, dịch vụ trước, trong và sau Tết ổn định, hàng hóa phong phú, đa dạng, mẫu mã đẹp, chất lượng tốt với giá cả hợp lý đáp ứng nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng, nguồn cung hàng hóa đa dạng nên không xảy ra tình trạng khan hàng, sốt giá.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng 02 năm 2019 trên địa bàn ước đạt 2.930 tỷ đồng, giảm 3,5% so với tháng trước và tăng 9,8% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 159,9 tỷ đồng, tăng 15,7% cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 2.755,8 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 94,1% thị phần bán lẻ), tăng 9,5% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 14,2 tỷ đồng, tăng 6,4% so với cùng kỳ.
Nếu phân theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ tháng 02 năm 2019 ước đạt 2.400 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 81,9%), tăng 10,2% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 262,9 tỷ đồng, tăng 7,8% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ tiêu dùng còn lại ước đạt 263,3 tỷ đồng, tăng 8,6% cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành chỉ chiếm một phần rất nhỏ (đạt khoảng 4,6 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,16% trong tổng mức), tăng 8,4% so với cùng kỳ.
Doanh thu hoạt động dịch vụ trên địa bàn tỉnh tháng 02/2019 ước đạt 263,3 tỷ đồng, tăng 8,6% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực nhà nước ước đạt 6,3 tỷ đồng (chiếm 2,4%), tăng 9,2% so với cùng kỳ; khu vực ngoài nhà nước ước đạt 249,4 tỷ đồng (chiếm 94,7%), tăng 8,6% cùng kỳ; còn lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chỉ đạt 7,5 tỷ đồng (chiếm 2,8%), tăng 5,6% so với cùng kỳ.
Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành trên địa bàn tỉnh tháng 02 năm 2019 ước đạt 267,5 tỷ đồng, tăng 7,8% so với năm cùng kỳ.
Tính chung 2 tháng đầu năm 2019 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn ước đạt gần 6 nghìn tỷ đồng, tăng 12,3% so với cùng kỳ, trong đó: khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 315,5 tỷ đồng, tăng 14,1% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 5.620 tỷ đồng, (chiếm tỷ trọng 94,2% thị phần bán lẻ), tăng 12,2% cùng kỳ; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 29,2 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ.
Nếu phân theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ ước đạt 4.890 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 82%), tăng 13,2% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống doanh thu ước đạt 537,1 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành chỉ chiếm rất nhỏ đạt 9,4 tỷ đồng, tăng 8,7% và nhóm dịch vụ tiêu dùng khác ước đạt 529,3 tỷ đồng, tăng 8,5% cùng kỳ.
Trong cơ cấu doanh thu bán lẻ, tất cả các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng 2 tháng đầu năm 2019 đều tăng. Nhóm mặt hàng đạt doanh thu bán lẻ lớn nhất là nhóm lương thực, thực phẩm đạt 1.642 tỷ đồng (chiếm 33,6% doanh thu bán lẻ), tăng 14,3% so với cùng kỳ; tiếp đến là nhóm xăng, dầu các loại ước đạt 557,5 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 11,4%), tăng 13,5%; nhóm đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 557,7 tỷ đồng, tăng 14,8% cùng kỳ; nhóm ô tô các loại đạt 512,9 tỷ đồng, tăng 15,3%; nhóm hàng may mặc đạt 394,9 tỷ đồng, tăng 12%...
2. Xuất, nhập khẩu
a. Xuất khẩu
Tổng giá trị xuất khẩu tháng 02/2019 ước đạt 2.097,9 triệu USD, tăng 12,5% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 53 triệu USD, cao gấp 3,2 lần so với cùng kỳ (tăng chủ yếu ở nhóm hàng may mặc; sản phẩm từ chất dẻo; chè các loại; giấy và các sản phẩm từ giấy). Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 2.045 triệu USD (chiếm tỷ trọng 97,5% tổng giá trị xuất khẩu), tăng 10,6% so với cùng kỳ.
Trong nhóm các mặt hàng xuất khẩu, nhóm mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu tăng từ 50% trở lên so với cùng kỳ là: sản phẩm từ chất dẻo 8,9 triệu USD (là mặt hàng xuất khẩu mới, cùng kỳ chưa xuất khẩu); sản phẩm may đạt 29,7 triệu USD, cao gấp 2,6 lần; chè các loại đạt 0,6 triệu USD, cao gấp 9 lần; giấy và các sản phẩm từ giấy đạt 0,3 triệu USD, gấp 3,4 lần; sản phẩm từ sắt thép đạt 7,5 triệu USD, gấp 2,5 lần; kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 30,1 triệu USD, gấp 2,1 lần; phụ tùng vận tải đạt 0,6 triệu USD, tăng 55,5% so với cùng kỳ...
Nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ yếu chiếm tỷ trọng giá trị lớn là Điện thoại các loại và sản phẩm điện tử khác, linh kiện xuất khẩu tháng 02/2019 ước đạt 2.016,2 triệu USD (chiếm tỷ trọng 96,1%), tăng 9,9% cùng kỳ (bao gồm: điện thoại thông minh 1.250 triệu USD, tăng 3,4% so với cùng kỳ; máy tính bảng 279,3 triệu USD, tăng 7,2%; linh kiện điện tử và sản phẩm điện tử khác ước đạt 486,8 triệu USD, tăng 33,5%).
Tính chung 2 tháng đầu năm 2019 giá trị hàng hóa xuất khẩu ước đạt khoảng 4,2 tỷ USD, tăng 10,2% so với cùng kỳ. Hầu hết tất cả các mặt hàng xuất khẩu đều tăng, trong đó tăng chủ yếu ở các mặt hàng như: sản phẩm may đạt 59,4 triệu USD, tăng 83,2%; phụ tùng vận tải đạt 1,4 triệu USD, tăng 66,6%; kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 60 triệu USD, tăng 65,1% cùng kỳ; sản phẩm từ sắt thép đạt 15,4 triệu USD, gấp 2,1 lần; chè các loại đạt 0,3 nghìn tấn với giá trị 1,1 triệu USD, đạt gấp 2,1 lần về lượng và gấp 5,9 lần về giá trị; sản phẩm từ chất dẻo 17,9 triệu USD.
Riêng nhóm điện thoại các loại, sản phẩm điện tử khác và linh kiện xuất khẩu tính chung 2 tháng đầu năm 2019 ước đạt 4,03 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 96%), tăng 8,2% cùng kỳ (bao gồm: điện thoại thông minh 2,5 tỷ USD, giảm 1,2% cùng kỳ; máy tính bảng 558,7 triệu USD, tăng 7,2%; linh kiện điện tử và sản phẩm điện tử khác ước đạt 974 triệu USD, tăng 43,8%).
b. Nhập khẩu
Tổng giá trị nhập khẩu tháng 2/2019 trên địa bàn ước đạt 1.354,5 triệu USD, tăng 0,1% so với tháng trước và tăng 10,6% so với cùng kỳ. Khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 29,6 triệu USD, tăng 5,3% so với tháng trước và cao gấp 2,3 lần so với cùng kỳ (do nhập nguyên liệu may mặc, sản phẩm từ sắt thép phục vụ sản xuất tăng); Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1.324,9 triệu USD, tăng 9,4% so với cùng kỳ.
Trong nhóm mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tháng 2/2019 tất cả các mặt hàng đều tăng và tăng cao so với cùng kỳ như: sản phẩm từ sắt thép đạt 4,1 triệu USD, cao gấp 25 lần; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 33,4 triệu USD, cao gấp 6,6 lần; nguyên, phụ liệu dệt may đạt 3,2 triệu USD, gấp 2,9 lần; giấy các loại đạt 0,6 triệu USD, tăng 81,7%; vải các loại đạt 16,7 triệu USD, tăng 66,5%; nguyên liệu và linh kiện điện tử đạt 1.276,2 triệu USD (chiếm tỷ trọng 94,2% tổng giá trị nhập khẩu), tăng 6,8%; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 9,8 triệu USD, tăng 6,6%.
Tính chung 2 tháng đầu năm 2019, tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn ước đạt 2.708 triệu USD, tăng 9,8% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước ước đạt 57,8 triệu USD, tăng 85%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 2.650,1 triệu USD, tăng 8,8% so với cùng kỳ.
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu 2 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ là: máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 66,8 triệu USD, gấp 6,1 lần; sản phẩm từ sắt thép đạt 8,2 triệu USD, gấp 2 lần; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 18,8 triệu USD, gấp 2 lần; vải các loại đạt 33,5 triệu USD, tăng 68,8%;  nguyên liệu và linh kiện điện tử đạt 2.553 triệu USD (chiếm tỷ trọng 94,3% tổng giá trị nhập khẩu), tăng 6% cùng kỳ... Nhóm hàng có giá trị nhập khẩu giảm so với cùng kỳ là nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc giảm 36,5%.
3. Giá tiêu dùng
Tháng 2/2019 là tháng trùng với Tết Nguyên đán, nhưng giá các loại hàng hóa và dịch vụ cơ bản ổn định, chỉ tăng nhẹ và tăng 0,89% so với tháng trước; trong đó, nhóm lương thực tăng 0,1% (chủ yếu là mặt hàng gạo nếp tăng 2,02%; ngô, khoai lang với tăng trên 4%); nhóm thực phẩm tăng 2,84% (chủ yếu tăng giá các mặt hàng như: thịt gia súc, thịt gia cầm, rau, quả tươi); Riêng bánh mứt kẹo năm nay giá cả ổn định không tăng so với tháng trước; Nhóm Đồ uống và thuốc lá giảm 0,19% so tháng trước. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 2/2019 tăng 0,91% so với tháng 12/2018 và tăng 2,78% so với  cùng kỳ. Bình quân 2 tháng 2019 tăng 2,69% so với bình quân cùng kỳ.
So với tháng trước, có 4/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng Trong đó, tăng nhiều nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,22% do tháng 2/2019 là tháng trùng vào tháng Tết nên nhu cầu về thực phẩm cao hơn ngày thường, thực phẩm tăng 2,84% (do thịt lợn tăng 4,16%, thịt bò tăng 2,48%, thịt gà tăng 2,17%, dầu mỡ tăng 1,23%, thủy sản tươi sống tăng 1,23%, rau tươi  tăng 3,33%; quả tươi, chế biến tăng 11,32%; còn các loại bánh mứt kẹo ổn định không tăng); Nhóm Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,64% (do điện và dịch vụ điện sử dụng tăng cao, tăng 2,11%; ga và các loại chất đốt tăng 3,53%); còn lại nhóm giáo dục và nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng nhẹ trong khoảng từ 0,01% đến 0,02%. Có 7/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ giảm trong khoảng 0,05% đến 0,34% như: nhóm giao thông giảm 0,34% (so giá nhiên liệu giảm 0,14%); nhóm  văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,28% (do hoa, cây cảnh giảm 0,13%; ti vi giảm 1,5%); nhóm thiết bị và đồ dùng giảm 0,14% (do thiết bị và đồ dùng gia đình giảm như máy giặt giảm 1,22%; đồ điện giảm 0,73%...); nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,19% so với tháng trước (do rượu bia giảm 0,34% và đặc biệt rượu giảm 0,67%)…
So với cùng kỳ (tháng 02/2018), chỉ số giá tiêu dùng tháng 02/2019 tăng 2,78%.  Có 8/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có chỉ số giá tăng, trong đó nhóm chỉ số giá tăng cao nhất là  hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,03% (do nhóm thực phẩm tăng 7,17% như thịt gia súc tăng 18,21%, dầu mỡ tăng 10,84%); nhóm giáo dục tăng 3,34% (do nhóm văn phòng phẩm tăng 4,05%, dịch vụ giáo dục tăng 3,18%); nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 3,14% (do thuốc các loại tăng 0,59%; dụng cụ y tế tăng 0,38%; dịch vụ khám sức khỏe tăng 4,18%); Nhóm nhà ở, điện nước tăng 2,59% (do nước sinh hoạt và dịch vụ nước tăng 4,48%, nhà ở tăng 3,11%); còn lại các nhóm tăng trong khoảng từ 0,06% đến 1,77% như nhóm may mặc, giày dép tăng 1,77%, nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,5%; nhóm thiết bị và đồ dùng tăng 0,85%, nhóm thuốc là và đồ uống tăng 0,06%. Còn lại 3/11 nhóm có chỉ số giảm như:  nhóm giao thông giảm 4,02% (do giá nhiên liệu giảm 10,4%);  nhóm bưu chính viễn thông giảm 1,46% (do nhóm thiết bị điện thoại giảm 8,2%; nhóm văn hóa giải trí giảm 1,35% (do nhóm văn hóa giảm 1,94%; giải trí giảm 10,68%)
So với tháng 12/2018, chỉ số giá tiêu dùng tăng 0,9%. Có 5/11 nhóm có chỉ số giá tăng. Trong đó, tăng nhiều nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,9% (do nhóm thực phẩm tăng 3,79%); nhóm nhà ở, điện nước tăng 1,68% (do nhà ở tăng 1,22%,  điện và dịch vụ điện tăng 2,1%); còn lại 03/11 nhóm tăng nhẹ trong khoảng từ 0,03% đến 0,4% như  nhóm đồ uống và thuốc là tăng 0,1%, nhóm giáo dục tăng 0,03%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,4%. Nhóm Thuốc và dịch vụ y tế có chỉ số giá tương đương tháng trước. Còn lại 5/11 nhóm hàng hóa có chỉ số  giá giảm nhẹ trong khoảng từ 0,06% đến 0,87% như: nhóm may mặc giảm 0,03%; nhóm thiết bị và đồ dùng giảm 0,06%; nhóm giao thông giảm 0,87% (do giá nhiên liệu xăng dầu giảm 7%); nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,15 (do giá thiết bị điện thoại giảm 0.58%); nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,33% (do dịch vụ giải trí giảm 0,69%, hoa tươi giảm 2,04%).
Chỉ số giá vàng: chỉ số giá vàng tháng 2/2019 tăng 1,6% so với tháng trước và  giảm 0,14%% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá vàng bình quân 2 tháng đầu năm 2019 tăng nhẹ, tăng 0,23% so với cùng kỳ.
Chỉ số giá Đô la Mỹ: Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 2/2019 giảm 0,05% so tháng trước và tăng 2,22% so với cùng kỳ. Chỉ số giá Đô la Mỹ bình quân 2 tháng đầu năm 2019 tăng 2,23% so với cùng kỳ.
* Tình hình thị trường giá cả và cung cầu hàng hóa trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi tỉnh Thái Nguyên.
Giá cả hàng hoá trên thị trường Thái Nguyên tương đối ổn định vào những ngày trước, trong và sau Tết Nguyên đán; tuy sức mua hàng hoá tăng cao trong những ngày giáp Tết nhưng nhìn chung giá cả năm nay biến động không nhiều, đặc biệt là những mặt hàng phục vụ Tết như: bánh kẹo tương đương tháng trước; rượu, bia thuốc lá  còn giảm so với tháng trước.
Thị trường hàng hoá, dịch vụ Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019 trên địa bàn tỉnh không xảy ra tình trạng đầu cơ, găm giữ hàng hoá, khan hiếm hàng hoá, tăng giá quá mức. Do nguồn cung hầu như dồi dào nên giá cả hàng hóa ngày 30 Tết ổn định.
         Sau Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019, nhiều siêu thị, cửa hàng, chợ dân sinh trên địa bàn tỉnh đã mở cửa phục vụ nhu cầu của người dân, giá cả các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu tương đối ổn định và không tăng so với cùng kỳ năm trước. Do nhu cầu tiêu thụ các loại rau xanh tăng mạnh, nhưng do thời tiết nắng ấm, rau xanh sinh trưởng, phát triển tốt, nguồn cung dồi dào nên giá các loại rau chỉ tăng nhẹ so với những ngày trước Tết.
4. Hoạt động vận tải
Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019 trùng vào tháng 02/2018 nên nhu cầu đi lại của người dân tăng cao, số lượng hành khách lưu thông tăng hơn so với ngày thường. Để đảm bảo trật tự, an toàn giao thông cho người dân đi lại trước, trong và sau Tết, các ngành chức năng của tỉnh đã tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, cương quyết xử lý nghiêm các vi phạm về trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh.
Vận tải hành khách: Số lượng hành khách vận chuyển tháng 02/2019 ước đạt 1,9 triệu lượt khách với khối lượng luân chuyển là 109,3 triệu hành khách.km, so với tháng trước tăng 13,7% về số lượng hành khách vận chuyển và tăng 15,7% số hành khách luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 13% về số lượng hành khách vận chuyển và số hành khách luân chuyển. Tính chung 2 tháng đầu năm 2019 số lượng hành khách vận chuyển là 3,6 triệu người, tăng 9,9% so với cùng kỳ và khối lượng luân chuyển là 203,8 triệu hành khách, tăng 10,9% so cùng kỳ; trong đó, vận tải đường bộ 3,5 triệu hành khách, tăng 9,9%; vận tải đường thủy 17 nghìn hành khách, tăng 6,3%.
Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 02/2019 ước đạt 3,3 triệu tấn với khoảng 136,6 triệu tấn.km; so với tháng trước giảm 17,8% về số hàng hóa vận chuyển và giảm 18,2% số lượng hàng hóa luân chuyển; So với cùng kỳ tăng 5,7% số hàng hóa vận chuyển và tăng 6,6% số hàng hóa luân chuyển. Tính chung vận tải hành hóa 2 tháng đầu năm 2019 ước đạt 7,4 triệu tấn, tăng 10,1% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển hàng hóa là 303,5 triệu tấn.km, tăng 8,3% so cùng kỳ.
Doanh thu vận tải trên địa bàn tháng 02/2019 ước đạt 361,7 tỷ đồng, giảm 12,8% so với tháng trước và tăng 11,6% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 75,9 tỷ đồng, tăng 15,7% so với tháng trước và tăng 15% so cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 265,7 tỷ đồng, giảm 18,2% so với tháng trước và tăng 10,8% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 20,1 tỷ đồng, giảm 17,3% so với tháng trước và tăng 9,9% so với cùng kỳ.
Tính chung 2 tháng đầu năm 2018, doanh thu vận tải trên địa bàn ước đạt 776,2 tỷ đồng, trong đó, doanh thu vận tải hàng hóa chiếm tỷ trọng cao nhất (76%) và đạt 590,3 tỷ đồng, tăng 11,8% so cùng kỳ; doanh thu vận tải hành khách đạt 141,6 tỷ đồng, tăng 12,1%; doanh thu từ dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 44,3 tỷ đồng, tăng 6,4%.
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Tình hình thực hiện chính sách xã hội, thăm, tặng quà Tết
* Thực hiện chính sách ưu đãi Người có công: Các ngành, các địa phương, các tổ chức đoàn thể trên địa bàn đã triển khai nhiều hoạt động, thực hiện việc chuyển quà tặng của Chủ tịch nước, quà tặng của địa phương, các cơ quan, đơn vị nhân dịp Tết Nguyên Đán cho các đối tượng người có công, gia đình có công với cách mạng. Tỉnh Thái Nguyên đã thực hiện tốt chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với người có công với cách mạng; chi trả đúng, đủ, kịp thời đến tận tay đối tượng hưởng trợ cấp thường xuyên cho trên 23 nghìn người có công và thân nhân của họ; 100% bà mẹ Việt Nam anh hùng được phụng dưỡng; quan tâm cải tạo, nâng cấp các nghĩa trang liệt sỹ, đài tưởng niệm, các nhà bia ghi tên bằng nhiều nguồn vốn khác nhau; tổ chức lễ viếng, đặt vòng hoa tại Đài Tưởng niệm, đền thờ các anh hùng liệt sỹ của tỉnh nhân dịp Tết Nguyên Đán...
* Thực hiện hỗ trợ người nghèo, các đối tượng bảo trợ xã hội, hỗ trợ đột xuất nhân dịp tết Nguyên đán Kỷ Hợi:
Hưởng ứng phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo - không để ai bị bỏ lại phía sau” và góp phần chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người nghèo trên địa bàn trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019, với phương châm “Nhà nhà đều có Tết, người người đều có Tết” Địa phương đã phát động phong trào Tết vì người nghèo. Các địa phương, các cơ quan, đơn vị đã tặng quà hỗ trợ các đối tượng như Hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, đối tượng trợ giúp xã hội , người cao tuổi … nhân dịp Tết nguyên đán Kỷ Hợi với tổng số tiền là 29,6 tỷ đồng. Bao gồm:
+ Thăm và tặng quà cho đối tượng trợ giúp đột xuất 3.311 hộ với 7.656 khẩu, tổng số tiền trợ giúp 1,4 tỷ đồng bằng nguồn ngân sách địa phương.
+ Theo báo cáo của các ngành, các địa phương trong dịp Tết nguyên đán Kỷ Hợi năm 2019, toàn tỉnh đã thực hiện thăm tặng, giúp đỡ các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn (hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đối tượng bảo trợ xã hội tại các cơ sở bảo trợ xã hội và các đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng) là 23.358 suất quà, trị giá 28,2 tỷ đồng, trong đó:  Hộ nghèo, hộ cận nghèo: 22.816 suất, trị giá 27,7 tỷ đồng.  Đối tượng bảo trợ xã hội: 314 suất, trị giá 92,95 triệu đồng. Đối tượng trong các cơ sở trợ giúp xã hội: 60 suất, trị giá 225 triệu đồng. Đối tượng khác (người cao tuổi…): 168 suất, trị giá 102,5 triệu đồng.
Riêng Chương trình “Tuần cao điểm Tết vì người nghèo năm 2019”, với vai trò là cầu nối để đưa các nguồn hỗ trợ đến các địa phương. Từ ngày 16/01/2019 đến 22/01/2019 các đơn vị, tổ chức các hoạt động trao, tặng quà đối với các gia đình chính sách, người có công, hộ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, ốm đau, hoạn nạn... tổ chức trao, tặng quà tại nhà. Một số địa phương đã lồng ghép các hoạt động như: Tổ chức khám chữa bệnh cho bệnh nhân nghèo, có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn; các hoạt động văn hoá, văn nghệ tạo không khí vui tươi, phấn khởi, đầm ấm trong nhân dân. Chương trình thăm, tặng quà được thực hiện dân chủ, công khai, đúng đối tượng, góp phần cổ vũ, động viên các hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn vươn lên thoát nghèo, tạo không khí vui tươi, phấn khởi đón tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019. Chương trình “Tuần cao điểm Tết vì người nghèo năm 2019” đã phát huy được sức mạnh của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội trong việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội, chăm lo các gia đình chính sách, người có công, các hộ nghèo, hộ có có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn toàn tỉnh.
Tổng kinh phí ủng hộ, hỗ trợ trong Chương trình “Tuần cao điểm Tết vì người nghèo năm 2019” là 27,7 tỷ đồng. Trong đó, có 22.816 suất quà (tiền mặt, bánh kẹo, đường, sữa...), tặng 93 nhà tình nghĩa, 145 xe đạp cho học sinh nghèo học giỏi, 8 tivi, 484 chăn và áo ấm, 10 máy lọc nước, trên 450 lượt khám chữa bệnh.
2. Hoạt động Y tế
Trong tháng 02, ngành chức năng chỉ đạo về khám chữa bệnh, phòng chống dịch bệnh và các lĩnh vực khác; đảm bảo công tác y tế, công tác An toàn vệ sinh thực phẩm trong dịp tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019. Chỉ đạo tăng cường giám sát, phòng chống bệnh sởi và cúm, quản lý sử dụng tốt vắc xin trong tiêm chủng mở rộng.
Ngoài ra, ngành chức năng chỉ đạo các đơn vị đảm bảo công tác thường trực, khám, cấp cứu dịp Tết nguyên đán. Cử cán bộ thường trực tết nguyên đán và báo cáo số liệu kịp thời cho cơ quan chức năng.
Trong 9 ngày Tết (Từ ngày 28/12/2018 đến hết ngày 6 tháng Giêng năm 2019) trên địa bàn không có dịch bệnh xảy ra, không có vụ ngộ độc thực phẩm tập thể nào xảy ra, các đơn vị hoàn thành nhiệm vụ khám, cấp cứu cho bệnh nhân và chăm sóc sức khỏe cho người dân đến khám, chữa bệnh.
Công tác khám chữa bệnh: Tổng số khám cấp cứu, tai nạn trong 9 ngày Tết Kỷ hợi  là 4.830 người tăng 1.469 người, tăng 43,7% so với cùng kỳ (Tết Mậu Tuất 2018).
Trong đó, khám chữa bệnh cho bệnh nhân do tai nạn giao thông 436 trường hợp, tăng 10,6%;  do nổ pháo có 2 trường hợp, tương đương năm trước; do ngộ độc thức ăn/rối loạn tiêu hóa 30 trường hợp, tăng 2 trường hợp (chia ra: ngộ độc do rượu bia 3 trường hợp, ngộ độc thực phẩm 2 trường hợp,  còn lại 25 trường hợp do nguyên nhân khác); tai nạn do chất nổ khác 02 trường hợp, tương đương cùng kỳ; tai nạn do đánh nhau 46 trường hợp (cùng kỳ 39 trường hợp), trong đó đánh nhau do rượu bia là 0 trường hợp (2018 là 27 trường hợp); khám cấp cứu khác 4.012 trường hợp, tăng 1.266 trường hợp, tăng gấp 1,4 lần.
3. Giáo dục
- Công tác phổ cập giáo dục: Ngành chức năng duy trì nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục ở cả 3 cấp học. Có 9/9 đơn vị cấp huyện giữ vững và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; 180/180 xã (phường, thị trấn) đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở.
 Năm học 2018-2019, ngành giáo dục có những chỉ đạo hoạt động trải nghiệm và nghiên cứu khoa học kỹ thuật được quan tâm, nhiều trường THCS, THPT đã tổ chức cho học sinh tham gia trải nghiệm, nghiên cứu khoa học tại các cơ sở sản xuất, các khoa của các trường Đại học trên địa bàn. Cuộc thi Khoa học kỹ thuật có 32 trường THPT và 9 phòng GDĐT tham gia với 152 dự án. Sau thẩm định có 98 dự án đủ điều kiện tham gia ở cấp tỉnh. Kết quả: 69 dự án đoạt giải, trong đó có 3 giải Nhất, 18 dự án đoạt giải Nhì, 20 dự án đoạt giải giải Ba, 28 dự án đoạt giải Khuyến khích.
- Kết quả thi chọn học sinh giỏi Quốc gia THPT năm 2019, tỉnh Thái Nguyên đạt 49 giải trong kỳ thi này.  Trong tổng số 49 giải của đội tuyển, có 7 giải Nhì, 24 giải Ba, và 18 giải Khuyến khích. So với cuộc thi chọn học sinh giỏi THPT Quốc gia năm 2018, kỳ thi năm nay số lượng giải của đội tuyển Thái Nguyên giảm từ 51 giải xuống còn 49 giải. 
   - Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia được các địa phương quan tâm chỉ đạo, đầu tư hiệu quả, đạt kết quả cao.
  Thực hiện đề án xây dựng hệ thống trường đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 2016-2020, tính đến thời điểm đầu tháng 02/2019 toàn tỉnh có 562/680 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 82,65%, tăng 19 trường so với cùng kỳ năm trước, vượt 2,65% so với chỉ tiêu Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh đến năm 2020: 80%). Trong đó, Mầm non 185/233 trường, tỷ lệ 79,4%; Tiểu học 215/224 trường đạt tỷ lệ 95,98%; THCS có 144/191 trường đạt tỷ lệ 75,39%; THPT có 18/32 trường đạt tỷ lệ 56,25%.
4. Hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin tuyên truyền
Trong tháng 02/2019 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã diễn ra nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, mừng Đảng, mừng Xuân, tạo nên không khí vui tươi, phấn khởi trong những ngày đầu xuân Kỷ Hợi 2019 như: Tổ chức  sôi nổi các hoạt động kỷ niệm 89 năm ngày thành lập Đảng (03/02/1930 - 03/02/2019), mừng xuân Kỷ Hợi 2019; tổ chức tuyên truyền, biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, luân chuyển sách phục vụ nhân dân đặc biệt là đồng bào vùng sâu,vùng xa, các đối tượng chính sách đảm bảo kế hoạch đề ra; tiếp tục thực hiện công tác giới thiệu, quảng bá du lịch Thái Nguyên trên các phương tiện truyền thông. Tổ chức Chương trình Nghệ thuật đặc biệt Mừng Đảng, Mừng Xuân 2019 tại Quảng trường Võ Nguyên Giáp vào 21h00’ ngày 04/02/2019 (Tức 30 Tết Âm lịch).
Tổ chức bắn pháo hoa tại 5 điểm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nhân dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi. Trong đó 2 điểm ở Thành phố Thái Nguyên (Quảng trường Võ Nguyên Giáp và Nhà văn hóa Công Ty Gang Thép) và 3 điểm ở 3 địa phương là Thành phố Sông Công, Thị xã Phổ Yên, huyện Định Hóa vào đúng thời khắc giao thừa bước sang năm mới tạo khí thế vui tươi phấn khởi cho nhân dân trên địa bàn tỉnh mừng Đảng, mừng xuân, quyết tâm thi đua thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu kinh tế xã hội năm 2019.
Hoạt động Khu di tích lịch sử và sinh thái ATK-Định Hoá: Tổ chức trưng bày triển lãm ảnh "Nơi khởi phát chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ" hướng tới kỷ niệm 65 năm chiến thắng Điện Biên Phủ gắn với lễ hội Lồng Tồng.Tu sửa, tôn tạo di tích (nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ở và làm việc tại đồi Khau Tý; nơi thành lập Việt Nam giải phóng quân). Hoàn thiện trưng bày tài liệu ảnh, hiện vật tại di tích Hội Nhà báo Việt Nam; đón tiếp, phục vụ dâng hương tại Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, tham quan quần thể di tích Quốc gia đặc biệt ATK; phục vụ 201 đoàn khách trong và ngoài nước với hơn 110.810 lượt khách.
Hoạt động bảo tàng:  Tổ chức sưu tầm đợt  I/2019 với chủ đề "Sưu tầm tài liệu, hiện vật về đời sống văn hóa và một số nghề thủ công truyền thống của dân tộc Tày, Nùng, Dao, Sán Chay trên địa bàn thành phố Thái Nguyên và các huyện Định Hóa, Phú Lương, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ". Trưng bày triển lãm “Thành tựu kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên”. Phối hợp tổ chức Lễ hội Trà xuân Tân Cương và Hội báo xuân của tỉnh; phục vụ 2.750 lượt khách tham quan (trong đó có 55 lượt khách nước ngoài và việt kiều).
  Hoạt động biểu diễn nghệ thuật, phát hành phim và chiếu bóng: Tổ chức 07 buổi biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị, đối tượng chính sách, công nhân các khu công nghiệp trong chương trình “Hát cho công nhân tôi nghe”; 78 buổi chiếu phim phục vụ các xã vùng khó khăn, đối tượng chính sách; phục vụ 5.070 lượt người xem.        
  Hoạt động thư viện: Cấp 31 thẻ, phục vụ 3.010 lượt bạn đọc, luân chuyển 5.118 lượt sách, báo. Phối hợp tổ chức Hội báo xuân Kỷ Hợi với chủ đề “Mừng Đảng, mừng Xuân, mừng đất nước đổi mới”; thực hiện 04 cuộc giới thiệu sách trên Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh.
Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở: Ngành chức năng khảo sát, xây dựng điểm  mô hình mẫu hình hoạt động văn hoá văn ghệ, nhà văn hoá. Chuẩn bị nội dung tham gia Liên hoan tuyên tuyền kỷ niệm 65 năm chiến thắng Điện Biên Phủ. Phối hợp phục vụ lễ hội tại các huyện, thành phố, thị xã; Tổ chức 25 buổi tuyên truyền tại cơ sở.
 Hoạt động thể thao: Tổ chức các hoạt động thể thao Mừng Đảng, Mừng Xuân (cờ tướng, tung còn, chọi gà, bắn súng trường hơi). Chuẩn bị các điều kiện (kế hoạch, phân công nhiệm vụ, điều lệ...), tổ chức và phối hợp tổ chức (giải Taekwondo học sinh 3 khu vực toàn quốc; giải Việt dã Tiền phong cùng “Sacombank chạy vì sức khỏe cộng đồng tỉnh Thái Nguyên năm 2019”; giải thể thao truyền thống  ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch);
Duy trì công tác quản lý, huấn luyện, kiểm tra việc tập luyện của các đội tuyển.Tham gia lễ hội bơi chải thuyền rồng Hà Nội mở rộng, đạt giải Nhì toàn đoàn (xã hội hoá). .
5. An toàn giao thông
Để đảm bảo trật tự, an toàn giao thông trong mùa lễ hội đầu xuân, ngành chức năng đã tăng cường đảm bảo trật tự an toàn giao thông tại các nơi tổ chức lễ hội; các điểm nút giao thông trọng yếu và trên các tuyến Quốc lộ nhằm đảm bảo giao thông được thông suốt không xảy ra ùn tắc giao thông, phục vụ việc vận tải hành khách, hàng hóa, đi lại và vui chơi của nhân dân trong dịp tết Nguyên đán Kỷ Hợi và các lễ hội đầu xuân 2019, cơ quan chức năng đã mở đợt cao điểm tuần tra kiểm soát, đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên địa bàn. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến các quy định của pháp luật về trật tự an toàn giao thông. Xử lý nghiêm các hành vi, vi phạm sử dụng phương tiện giao thông chở hàng hóa cấm, chở quá khổ, quá tải, nồng độ cồn và không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông. Chỉ đạo các đơn vị doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành khách, hàng hóa, tăng cường phương tiện phục vụ nhân dân, học sinh đị lại trước, trong và sau dịp Tết Nguyên đán, giảm bớt ùn tắc tại các bến tàu, bến xe.
Theo báo cáo của Ban an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, tính từ 16/01/2019 đến 15/02/2019, trên địa bàn xảy ra 6 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 1 người và bị thương 4 người, so với cùng kỳ năm trước số vụ giảm 3 vụ (-33,33%), số người bị thương giảm 4 người (-50,0%). 
Tính chung 2 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn đã xảy ra 16 vụ tai nạn giao thông, làm chết 8 người và bị thương 8 người. So với cùng kỳ năm 2018 số vụ tai nạn giảm 1 vụ (-5,88%); số người chết giảm 1 người (-11,11%); người bị thương giảm 7 người (-46,67%). Riêng Thành phố Thái Nguyên xảy ra 10 vụ (chiếm 62,5% tổng số), có 02 người chết và 6 người bị thương; huyện Phú Lương xảy ra 02 vụ, (giảm 1 vụ, - 33,33%), tuy nhiên làm chết 03 người, tăng 200% và không có người bị thương.
Trong tháng 2/2019 các cơ quan chức năng đã kiểm tra, lập biên bản và xử lý vi phạm 3.653 trường hợp; tước 326 giấy phép lái xe; tạm giữ 215 xe ô tô, 257 xe môt tô; 18 phương tiện khác; số tiền xử phạt 3,4 tỷ đồng (vi phạm đường bộ). Về đường thủy, xử lý 6 trường hợp vi phạm, thu nộp kho bạc nhà nước 450 nghìn đồng; về đường sắt không có vụ vi phạm nào.
* Tính riêng tai nạn giao thông đường bộ trong 9 ngày Tết Nguyên đán Kỷ Hợi (từ 02/02/2019 đến 10/02/2019 tức ngày 28/12/2019 đến 6/01/2019 Âm lịch). Trên địa bàn không có vụ tai nạn giao thông nào. So với kỳ nghỉ tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018 (7 ngày) giảm cả 3 tiêu chí: giảm 04 vụ, không có người chết và giảm 5 người bị thương.
 Nhằm chủ động phòng ngừa, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019, lực lượng chức năng đã đồng loạt ra quân, tổng kiểm soát trên các tuyến Quốc lộ: 3, 17, 37 và Quốc lộ 1B đối với các loại hình vận tải: xe taxi, xe khách, xe khách thành phố, xe bus chạy tuyến cố định, các xe khách hợp đồng;  xe tải, ô tô sơ mi rơ mooc, ô tô kéo sơ mi rơ mooc, ô tô vận tải contener, ô tô xi téc chở xăng dầu, hóa chất, hàng nguy hiểm...
Qua kiểm tra từ ngày 02-2-2019 đến 18-2-2019 (tức từ ngày 28 đến ngày 14 Tết), đã phát hiện 1.319 trường hợp vi phạm; xử lý 1.007 trường hợp; tạm giữ 23 ô tô, 3 mô tô; tước Giấy phép lái xe có thời hạn 22 trường hợp; thu nộp Ngân sách Nhà nước gần 600 triệu đồng. Các lỗi thường gặp như: chở quá số người quy định, chạy quá tốc độ, không đóng cửa lên xuống khi đang chạy, để hàng hóa trong khoang chở hành khách, đón trả khách không đúng nơi quy định...Đặc biệt, lực lượng chức năng đã phát hiện 27 trường hợp vi phạm nồng độ cồn và 4 lái xe dương tính với ma túy.
6. Tình hình cháy nổ
Các ngành chức năng của Tỉnh đã tiến hành kiểm tra phòng cháy chữa cháy tại các cơ quan đơn vị trên địa bàn toàn tỉnh; qua kiểm tra đã nhắc nhở những thiếu sót trong phòng cháy chữa cháy và lập biên bản xử lý các trường hợp vi phạm nhằm hạn chế các vụ cháy nổ xảy ra.
Trong tháng 2 năm 2019 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 8 vụ cháy, không có vụ nổ nào, trong đó có 07 vụ cháy xảy ra tại Thành phố Thái Nguyên và 1 vụ tại Thành phố Sông Công. Không có người bị chết và bị thương do cháy. So với cùng kỳ năm trước số vụ cháy nổ giảm 11 vụ giá trị thiệt hại ước khoảng 619 triệu đồng, giảm 213 triệu đồng. Tính lũy kế 2 tháng 2019 trên địa bàn xảy ra 20 vụ cháy với giá trị thiệt hại khoảng 969 triệu đồng, giảm 643 triệu đồng so với cùng kỳ và giảm 1 vụ so cùng kỳ.
7. Vi phạm môi trường
Trong tháng 2 năm 2019 trên địa bàn tỉnh ngành chức năng đã kiểm tra và xử lý 6 vụ vi phạm môi trường, với tổng số tiền xử phạt khoảng 100,7 triệu đồng.
Tính chung 2 tháng đầu năm 2019, các ngành chức năng đã kiểm tra và xử lý 16 vụ vi phạm môi trường, với tổng số tiền thu và nộp vào ngân sách nhà nước là 136,25 triệu đồng. Nguyên nhân của các vụ xử lý trên là do các cơ sở sản xuất kinh doanh không thực hiện đúng một trong các nội dung của đề án bảo vệ môi trường, không lập báo cáo quản lý chất thải nguy hại theo định kỳ, không thực hiện giám sát môi trường định kỳ…
8. Thiệt hại do thiên tai
Đêm ngày 17 rạng sáng ngày 18/02/2019 xảy ra mưa, dông lốc trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên, Tp Sông Công, huyện Phú Bình, huyện Định Hóa và Thị xã Phổ Yên gây thiệt hại về người và tài sản. Theo thống kê ngành chức năng có 03 người bị thương nhẹ (01 người ở Tp Thái Nguyên, 02 người Tp Sông Công); có 1.681 hộ gia đình bị tốc mái (thị xã Phổ Yến 66 hộ; Tp Thái Nguyên 502 hộ, huyện Định Hóa 03 hộ, Tp sông Công 1.110 hộ); 3.060 m2 mái tôn, Prô xi măng bị lật, đổ, vỡ thuộc huyện Phú Bình; 03 cơ sở chăn nuôi bị ảnh hưởng, chết 1.330 con gà; khu sản xuất rau an toàn thuộc Hợp Tác Xã Xuân Đám xã Đồng Liên của TP Thái Nguyên bị tốc mái nhà lưới 7.000m2; đổ 50m kênh cấp 2 Núi Cốc xã Tiên phong, thị xã Phổ Yên; 02 nhà văn hóa bị tốc mái (Trung tâm văn hóa cộng đồng xã Đồng Liên, 01 nhà văn hóa phường Lương sơn, Tp Sông công); 16 điểm trường bị ảnh hưởng, chủ yếu tốc mái và hư hỏng các công trình phụ trợ; Bệnh viện Gang Thép bị tốc khoảng 500m2 mái tôn chống nóng của khoa khám bệnh, hỏng 03 ô tô do bị mái tôn chống nóng tầng 3 của khoa khám bệnh rơi vào; 05 xe máy hư hỏng do sập mái nhà để xe; gãy đổ 21 cây xanh trong bệnh viện, vỡ kính nhà khoa ngoại, hỏng cửa hành lang; Cháy 01 trạm biến áp, 01 hệ thống cắt điện, 01 cầu giao, 03 cột điện, gẫy 01 cột điện hạ thế; 2.835 tường rào bị đổ; 60 cây xanh đô thị Tp Thái Nguyên; 05 ki ốt chợ tạm Dốc Hanh, Trung Thành, Tp Thái Nguyên…
Ước tổng thiệt hại về tài sản khoảng 13,8 tỷ đồng. Trong đó, TP Thái Nguyên khoảng 3,2 tỷ đồng; Tp Sông công khoảng 9,8 tỷ đồng; huyện Phú Bình khoảng 0,7 tỷ đồng; huyện Định Hóa khoảng 0,1 tỷ đồng.
Ngành chức năng đã phối hợp với địa phương khắc phục thiệt hại, xử lý sự cố, đánh giá thiệt hại, huy động lực lượng tại chỗ để tích cực triển khai, trợ giúp nhân dân ổn định đời sống và sản xuất
Trên đây là một số tình hình về kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên tháng 02 năm 2019./.

Nguồn tin: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
CHUYÊN MỤC
dieutradanso2019

hoc tap lam theo HCM

tong cuc thong ke

luat thong ke 1

cong thong tin thai nguyen


Dieu tra DN 2018

anh minh hoa 1
 
anh tuyen dung
Thống kê website
  • Đang truy cập64
  • Hôm nay
  • Tháng hiện tại
  • Tổng lượt truy cập
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây