Báo cáo tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu 6 tháng đầu năm 2019 tỉnh Thái Nguyên

Thứ bảy - 29/06/2019 20:41
Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh trong Sáu tháng đầu năm 2019 vẫn duy trì mức tăng so với cùng kỳ trên hầu hết các ngành, lĩnh vực. Trong đó, sản xuất công nghiệp và giá trị xuất khẩu tăng cao trong quý II, góp phần thúc đẩy và đóng góp tích cực vào kết quả sản xuất tính chung 6 tháng; bên cạnh đó mặt bằng lãi suất tín dụng thuận lợi cho sản xuất; các chính sách xã hội được quan tâm, thực hiện đầy đủ, công tác an sinh xã hội, chăm lo đời sống nhân dân tiếp tục được bảo đảm… Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, ngành chăn nuôi gặp khó khăn do dịch bệnh trên đàn lợn vẫn diễn biến phức tạp; sản xuất vụ Đông Xuân giảm so cùng kỳ… là những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sản xuất nông nghiệp trên địa bàn.    
Trên cơ sở kết quả thực hiện 5 tháng và ước tính số liệu tháng 6, Cục Thống kê Thái Nguyên báo cáo dự ước tình hình kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm 2019 như sau:
1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) trên địa bàn ước đạt 8,28%, trong đó, khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 9,85%; nông lâm nghiệp thủy sản tăng 3,33% và khu vực dịch vụ và thuế sản phẩm tăng 6,18%.
2. Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010) trên địa bàn ước đạt 342,7 nghìn tỷ đồng, tăng 10,2% so cùng kỳ, bằng 46,1% kế hoạch cả năm. Trong đó, công nghiệp địa phương đạt 13.767 tỷ đồng, tăng 27,5% cùng kỳ và bằng 48,5% kế hoạch cả năm.
3. Giá trị xuất khẩu trên địa bàn ước đạt 13,9 tỷ USD, tăng 12% so với 6 tháng đầu năm 2018 và bằng 50,4% kế  hoạch cả năm. Trong đó, giá trị xuất khẩu địa phương 232,8 triệu USD, tăng 31,1% so cùng kỳ, bằng 38,8% kế hoạch cả năm; xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 13,67 tỷ  USD, tăng 11,7% so cùng kỳ và bằng 50,7% kế hoạch cả năm.
4. Tổng thu ngân sách trên địa bàn ước đạt 7.570,7 tỷ đồng, tăng 8,6% cùng kỳ và bằng 50,5% dự toán cả năm; trong đó thu nội địa 5.942,7 tỷ đồng, tăng 6,7% cùng kỳ và bằng 51% so với dự toán cả năm.
5. Giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản 6 tháng đầu năm 2019 (theo giá so sánh năm 2010) ước đạt 7.008 tỷ đồng, tăng 3,34% so cùng kỳ và bằng 51,7% kế hoạch cả năm; trong đó, ngành nông nghiệp giá trị sản xuất đạt 6.564,4 tỷ đồng, tăng 3,14% (ngành trồng trọt tăng 1,5%; ngành chăn nuôi tăng 4%; riêng chăn nuôi lợn giá trị sản xuất giảm 2,85%; chăn nuôi gia cầm tăng 10,3%) so với 6 tháng đầu năm 2018.
Sản lượng lương thực có hạt vụ Đông Xuân 2019 ước đạt 226,4 nghìn tấn, bằng 51,8% kế hoạch cả năm, giảm 0,9% (tương ứng giảm 2 nghìn tấn) so với sản lượng vụ Đông Xuân năm 2018.
Diện tích trồng rừng mới tập trung trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 5,5 nghìn ha, trong đó, địa phương trồng rừng mới tập trung theo chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững là 2.554 ha, bằng 100,2% kế hoạch. Diện tích chè trồng mới và trồng lại dự kiến sẽ trồng đại trà vào vụ Thu.
Tình hình cụ thể về kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2019:
A. KINH TẾ
I. Tăng trưởng kinh tế và cơ cấu kinh tế
Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) 6 tháng đầu năm 2019 ước tính tăng 8,28% so với 6 tháng đầu năm 2018; trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,33%, đóng góp 0,3 điểm phần trăm vào tốc độ tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,85%, đóng góp 6,35 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ và thuế sản phẩm tăng 6,18%, đóng góp 1,63 điểm phần trăm vào tốc độ tăng trưởng chung.
Trong khu vực vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành nông nghiệp tăng trưởng 3,33% so với cùng kỳ năm trước (thấp hơn mức tăng của 6 tháng đầu năm 2018), do chăn nuôi Quý I sản xuất tăng, sang Quý II/2018 dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chăn nuôi đạt thấp; ngành lâm nghiệp tăng trưởng 4,8% chủ yếu do khai thác gỗ tăng và ngành thủy sản tăng trưởng 8% do sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng.
Khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng GRDP toàn tỉnh. Sáu tháng đầu năm 2019, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng trưởng 9,76% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 5,85 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt tăng trưởng cao nhất với mức tăng 10,24% và đóng góp lớn nhất vào mức tăng trưởng chung với 5,77 điểm phần trăm. Ngành xây dựng 6 tháng đầu năm tăng trưởng 11%, cao hơn mức tăng cùng kỳ và đóng góp 0,5 điểm phần trăm vào mức tăng chung.
Trong khu vực dịch vụ, hoạt động thương mại bán buôn và bán lẻ tăng trưởng 9% so với cùng kỳ năm trước, là ngành dịch vụ có đóng góp cao nhất vào mức tăng trưởng chung; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,26%; hoạt động thông tin và truyền thông tăng 7,89%; Riêng nhóm  dịch vụ xã hội (hoạt động chủ yếu từ nguồn ngân sách) tăng trưởng đạt thấp hơn so với nhóm dịch vụ kinh tế, đạt mức tăng 4,1% cùng kỳ.
Về cơ cấu kinh tế: Do ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao hơn nên ngày càng chiếm tỷ trọng cao, trong khi đó tốc độ tăng trưởng trong khu vực nông, lâm nghiệp và khu vực dịch vụ có tốc độ tăng thấp hơn nên cơ cấu kinh tế khu vực Nông lâm nghiệp, thủy sản và khu vực dịch vụ ngày càng giảm dần. Sáu tháng đầu năm 2019, cơ cấu Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh chuyển dịch theo hướng tích cực. Tỷ trọng khu vực công nghiệp xây dựng chiếm 59,9%, khu vực dịch vụ và thuế sản phẩm chiếm 29,8% và khu vực nông lâm nghiệp thủy sản chỉ còn 10,3%. So với bình quân chung cả nước, khu vực công nghiệp xây dựng của tỉnh cao hơn trên 25 điểm phần trăm; cơ cấu khu vực nông lâm thủy sản thấp hơn 4 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ của tỉnh tỷ trọng thấp hơn so với cả nước.
II. Kết quả sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản và thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới.
1. Giá trị sản xuất Nông lâm nghiệp, thủy sản
Giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản 6 tháng đầu năm 2019 (theo giá so sánh năm 2010) ước đạt 7.008 tỷ đồng, tăng 3,34% so cùng kỳ và bằng 51,7% kế hoạch cả năm; trong đó, ngành nông nghiệp giá trị sản xuất đạt 6.564,4 tỷ đồng, tăng 3,14% (ngành trồng trọt tăng 1,5%; ngành chăn nuôi tăng 4%; riêng chăn nuôi lợn giá trị sản xuất giảm 2,85%; chăn nuôi gia cầm tăng 10,3%) so với 6 tháng đầu năm 2018.
Với kết quả 6 tháng đầu năm như trên, để hoàn thành mục tiêu kế hoạch cả năm là tăng 4% thì giá trị sản xuất nông lâm thủy sản 6 tháng cuối năm 2019 phải đạt 6.540 tỷ đồng, tăng 4,63% so với cùng kỳ; trong đó ngành nông nghiệp phải đạt 6.050 tỷ đồng, tăng 4,32%.
Trong khi ngành chăn nuôi đang gặp khó khăn do dịch bệnh chưa được khống chế, ngăn chặn; bên cạnh đó ngành trồng trọt chưa có sự bứt phá, nâng cao sản lượng sản phẩm trồng trọt ứng dụng công nghệ cao, trong khi diện tích gieo trồng giảm dần do hiệu quả kinh tế thấp hơn các ngành khác nên nhiệm vụ để đạt được mục tiêu giá trị sản xuất nông nghiệp 6 tháng cuối năm là rất nặng nề, cần có giải pháp tăng sản lượng trồng trọt và thúc đẩy sản xuất, tăng sản lượng chăn nuôi gia cầm để bù đắp phần giảm của chăn nuôi lợn do dịch tả lợn Châu phi; đồng thời gia tăng sản lượng khai thác, chế biến gỗ đến kỳ thu hoạch đối với ngành Lâm nghiệp.
2. Sản xuất nông nghiệp
- Kết quả sản xuất vụ Đông Xuân: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông 2018-2019 đạt 63,7 nghìn ha, so vụ Đông Xuân năm trước giảm 1,1% (tương ứng giảm 731 ha); trong đó, vụ Xuân gieo trồng đạt 50 nghìn ha, giảm 0,8% so vụ Xuân 2018 (tương đương giảm 387 ha); vụ Đông đạt 13,78 nghìn ha, giảm 2,4% cùng kỳ (tương ứng giảm 344 ha).
 Diện tích gieo trồng vụ Đông Xuân 2019 giảm hầu hết ở các nhóm cây trồng so với vụ Đông Xuân 2018, cây lương thực có hạt đạt 42 nghìn ha (chiếm 66% tổng diện tích gieo trồng trong vụ), giảm 1% so vụ Đông Xuân năm trước và bằng 103,6% kế hoạch (chia ra: cây lúa đạt gần 30 nghìn ha, giảm 0,5% so cùng kỳ, bằng 103,5% so kế hoạch; cây ngô đạt 12,1 nghìn ha, bằng 103,7% kế hoạch, giảm 2,1%  so cùng kỳ); cây lấy củ có chất bột đạt 5,6 nghìn ha, giảm 9,8% (bao gồm cây khoai lang, khoai tây... tương ứng giảm 611 ha); cây công nghiệp hàng năm đạt 3,3 nghìn ha, giảm 4,3% (trong đó cây đỗ tương đạt 457 ha, giảm 8,6% (-43 ha) so cùng kỳ; cây lạc đạt 2,8 nghìn ha,  giảm 3,3%, tương ứng giảm 98 ha so cùng kỳ; cây rau, đậu các loại và hoa đạt 11,4 nghìn ha, tăng 3,9% và tương ứng tăng 425 ha; trong đó, Cây rau các loại diện tích đạt 10,3 nghìn ha, tăng 4,2% (tương ứng tăng 418 ha) so với vụ Đông Xuân năm trước nhưng mới bằng 96,2% kế hoạch trong vụ.
Sản lượng lương thực có hạt: Hiện nay có một số địa phương đang thu hoạch lúa vụ Xuân. Nếu từ nay đến cuối vụ thời tiết diễn biến bình thường,  năng suất lúa bình quân ước đạt 57 tạ/ha (tương đương cùng kỳ), bằng 103,9% kế hoạch; cây ngô năng suất ước đạt 46,2 tạ/ha, bằng 103,2% kế hoạch.
Với dự ước năng suất như trên, sản lượng lương thực có hạt vụ Đông Xuân năm 2019 đạt 226,4 nghìn tấn, giảm 0,9% so cùng kỳ (tương đương giảm 2 nghìn tấn), bằng 107,5% kế hoạch trong vụ và đạt 51,8% kế hoạch cả năm. Trong đó, sản lượng lúa là 170,3 nghìn tấn, giảm 0,5% so cùng kỳ (tương đương giảm 883 tấn), bằng 107,6% kế hoạch trong vụ; sản lượng ngô đạt 56 nghìn tấn, giảm 2% (tương ứng giảm 1,1 tấn) so với cùng kỳ và bằng 107% kế hoạch trong vụ.
- Cây lâu năm: Tổng diện tích cây chè hiện có đạt 22 nghìn ha, tăng 1,72% so cùng kỳ. Dự ước sản lượng chè thu hoạch 6 tháng đầu năm 2019 là 99,3 nghìn tấn, tăng 2,9% so cùng kỳ.
Công tác trồng mới chè: Hiện nay các địa phương đang triển khai đăng ký nhu cầu trồng mới và trồng thay thế chè năm 2019. Tính đến cuối tháng 5/2019, kết quả đăng ký trồng chè năm 2019 được 750 ha, bằng 100% kế hoạch.
Ngành chức năng tiếp tục hướng dẫn các hộ nông dân chăm sóc cây chè mới trồng, hướng dẫn các vườn ươm chè giống chăm sóc đảm bảo số lượng, chất lượng và sản xuất chè giống năm 2019. Duy trì công tác triển khai tập huấn về kỹ thuật trồng, chăm sóc và sản xuất chè theo quy trình VietGap
Cây ăn quả: Tổng diện tích cây ăn quả toàn tỉnh khoảng 16 nghìn ha, giảm 6,6% so với cùng kỳ; giảm chủ yếu diện tích cây vải, cây ăn quả khác hiệu quả thấp. Dự kiến năm 2019 diện tích cây ăn quả trồng mới tiếp tục tăng ở một số cây như: Thanh long, nhãn, bưởi, chuối, ổi, mít...
3. Chăn nuôi
Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc: Năm 2019 chăn nuôi gặp khó khăn do phát sinh bệnh Lở mồm long móng và đặc biệt là Dịch tả lợn Châu phi.
Bệnh Lở mồm long móng (LMLM) xuất hiện trên địa bàn tỉnh từ đầu tháng 12/2018 ở phường Lương Sơn, TP Sông Công, sau đó phát sinh thêm ở 8/9 địa phương khác (riêng huyện Đại Từ chưa có lợn mắc bệnh); tổng số có 65 hộ thuộc 30 xã có lợn mắc bệnh buộc tiêu hủy là 894 con với tổng khối lượng tiêu hủy 47,3 tấn. Từ tháng 3/2019 đến nay dịch bệnh LMLM đã được khống chế.
  • Tình hình bệnh Dịch tả lợn Châu phi: Tính lũy kế từ ngày 5/3/2019 khi mới phát sinh ổ dịch đến ngày 21/4/2019, trên địa bàn tỉnh có 03 địa phương là huyện Phú Bình, Thị xã Phổ Yên và Thành phố Sông Công có lợn dương tính với Dịch tả lợn Châu Phi. Từ cuối tháng 4 đến nay bệnh Dịch tả lợn Châu phi đã lây lan mạnh, toàn bộ 9/9 huyện, thành phố, thị xã đã xuất hiện Dịch tả lợn. Lũy kế đến thời điểm ngày 19/6/2019, tổng số lợn mắc bệnh, nghi mắc bệnh dịch tả lợn Châu Phi buộc tiêu hủy là 68.264 con (chiếm khoảng 10% tổng đàn lợn của tỉnh), trọng lượng 4.073 tấn của 6.680 hộ thuộc 1.338 thôn, xóm, 156 xã, 09 huyện, thành phố, thị xã.
Tính đến thời điểm 18/6/2019 trên địa bàn tỉnh có 04 xã, phường của 04 huyện đã qua 30 ngày không có lợn mắc bệnh, chết, tiêu hủy: Úc Kỳ (từ ngày 04/5), huyện Phú Bình; Phượng Tiến (30/4), huyện Định Hóa; Yên Lãng (16/5) huyện Đại Từ; Quang Trung (18/5) TP Thái Nguyên.
Ngành chức năng đã triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh; kiểm tra hoạt động buôn bán, vận chuyển động vật, sản phẩm động vật tại các chợ trên địa bàn quản lý; tăng cường công tác giám sát, lấy mẫu bệnh phẩm xét nghiệm xác minh dịch; Đến nay còn duy trì hoạt động của 122 chốt (05 chốt tỉnh, 61 chốt huyện, 56 chốt xã). Riêng đối với Chốt kiểm dịch cấp xã, thời gian duy trì ngắn, có thay đổi liên tục theo diễn biến của dịch bệnh; triển khai khử trùng tiêu độc với tổng số hoá chất đã cấp 38,4 nghìn lít cho công tác phòng chống dịch tả lợn Châu phi; Thực hiện công tác tuyên truyền, tiếp tục duy trì công tác phòng, chống dịch bệnh Dịch tả lợn Châu phi; các địa phương có chốt kiểm dịch đảm bảo lực lượng, phương tiện kiểm soát chặt chẽ các phương tiện vận chuyển động vật, sản phẩm động vật qua chốt; tăng cường phun thuốc khử trùng tiêu độc, hạn chế lây lan dịch bệnh sang các khu vực lân cận.
Bệnh dịch tả lợn châu Phi lây lan rất nhanh trong tháng 6/2019, trong đó riêng lợn đã tiêu hủy trong 20 ngày đầu của tháng 6 là 30 nghìn con, cao hơn số lợn phải tiêu hủy cộng dồn từ khi có dịch đến cuối tháng 5/2019. Nguyên nhân là do tháng 6 dịch bệnh đã lây nhiễm vào các cơ sở chăn nuôi lợn có quy mô đàn lớn. Vì vậy, các địa phương cần tăng cường chốt kiểm dịch, tổ chức tuyên truyền và phát động tổng vệ sinh khử trùng, tiêu độc thường xuyên ở cấp độ cao trên địa bàn toàn tỉnh.
- Kết quả tiêm phòng vắc xin đợt I năm 2019: Vắc xin LMLM trâu, bò, lợn: 162.825 liều/170.000 liều đạt 95,77% kế hoạch năm. Vắc xin Dại chó: 123.910 liều/155.000 liều đạt 79,94 % kế hoạch năm.
- Theo kết quả chăn nuôi thời điểm 1/4/2019. Tổng đàn trâu đạt 51,5 nghìn con, giảm 11,5% so cùng kỳ; tổng đàn bò đạt 42,4 nghìn con, giảm 6,5%; đàn lợn đạt 676 nghìn con, giảm 0,25%; đàn gia cầm đạt 13,3 triệu con, tăng 16,3% (trong đó, đàn gà đạt 11,5 triệu con, tăng 11,8% so cùng kỳ).
Sản Lượng thịt hơi xuất chuồng: Dự ước sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 73,7 nghìn tấn, giảm 0,3% so cùng kỳ. Trong đó, thịt trâu hơi xuất chuồng khoảng 1,9 nghìn tấn, thịt bò hơi xuất chuồng khoảng 1,5 nghìn tấn; thịt lợn hơi xuất chuồng đạt khoảng 50 nghìn tấn, giảm 3,5% so cùng kỳ; thịt gia cầm hơi xuất chuồng đạt 20,1 nghìn  tấn, tăng 7,6% so cùng kỳ.
  • Giá bán sản phẩm chăn nuôi: Do bệnh Dịch tả lợn Châu phi lây lan nhanh trên 9/9 huyện, thành phố, thị xã nên thị trường tiêu thụ lợn bị ảnh hưởng, công tác tái đàn hạn chế, do vậy, hiện nay giá lợn giống giảm 18% so với tháng trước, giá gà giống bình quân tương đương tháng trước; giá thịt lợn hơi giảm mạnh trong tháng 4, tháng 5 và tiếp tục giảm sâu cuối tháng 5. Tuy nhiên, tính đến thời điểm 21/6/2019 trên địa bàn toàn tỉnh giá lợn hơi đã tăng mạnh trở lại khoảng 40 nghìn đ/kg.
4. Lâm nghiệp
Công tác trồng rừng: các đơn vị, địa phương chủ động phối hợp rà soát thiết kế diện tích rừng đủ điều kiện đưa vào trồng rừng. Dự ước diện tích rừng trồng mới tập trung toàn tỉnh đạt 5,52 nghìn ha (rừng sản xuất 5,27 ha, rừng phòng hộ 247 ha), trong đó theo Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững được 2.554 ha, đạt 100% kế hoạch; trồng cây phân tán được 562,7 nghìn cây, đạt 100% kế hoạch năm.
Tình hình khai thác lâm sản: Ước tính 6 tháng đầu năm 2019, sản lượng gỗ khai thác đạt 79,5 nghìn m3, tăng 11,3% so với cùng kỳ, củi khai thác ước đạt 84 nghìn ste, tăng 2,5%.
Công tác quản lý và bảo vệ rừng: Trong 5 tháng đầu năm trên địa bàn không xảy ra cháy rừng. Tính hết tháng 5/2019 ngành chức năng đã phát hiện và xử lý 80 vụ vi phạm Luật Bảo về và phát triển rừng (giảm 35% so với cùng kỳ năm 2018); tịch thu 146 m3 gỗ quy tròn, 02 phương tiện các loại; thu nộp Ngân sách Nhà nước 511 triệu đồng.
Thực hiện tuyên truyền 5 chuyên mục Quản lý bảo vệ rừng; tổ chức 02 lớp huấn luyện quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ năm 2019 và 03 lớp tập huấn về công tác Quản lý bảo vệ rừng; tổ chức 83 buổi tuyên truyền Luật Lâm nghiệp và các Nghị định, Thông tư mới được ban hành với 4.075 lượt người tham gia. Hoàn thành thực hiện tuyên truyền Luật Lâm nghiệp cấp huyện và đang triển khai đến cấp xã.
5. Thủy sản
Các địa phương tiếp tục chăm sóc, phòng bệnh cho thủy sản và tiêu thụ cá giống cung cấp cho thả cá năm 2019. Hoạt động nuôi trồng thủy sản đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhiều diện tích đã được chuyển sang nuôi thâm canh và bán thâm canh với các đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao
Dự ước 6 tháng đầu năm 2019 sản xuất cá bột đạt hơn 370 triệu con, cá giống các loại 30 triệu con. Sản lượng sản phẩm thủy sản ước đạt 5.332 tấn, tăng 9,6% so cùng kỳ; trong đó, so cùng kỳ sản lượng nuôi ước đạt 5.259 tấn, tăng 9,6%, sản lượng khai thác ước đạt 73 tấn, tăng 9%.
  6. Tiến độ thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
Tính đến đầu năm 2019, toàn tỉnh có 91 xã đạt 19 tiêu chí, chiếm tỷ lệ 63,6% tổng số xã. Trong đó, có 88 xã đạt chuẩn nông thôn mới (bao gồm cả 04 xã đã chuyển thành phường, thị trấn), đạt 61,5% (mục tiêu đến năm 2020 có 100 số xã đạt tiêu chí).
Trên địa bàn tỉnh còn lại 52 xã chưa đạt 19 tiêu chí. Cụ thể như sau: Đạt 18 tiêu chí có 11 xã; đạt 17 tiêu chí có 07 xã; đạt 16 tiêu chí có 01 xã; đạt 15 tiêu chí có 06 xã; đạt từ 10-14 tiêu chí có 42 xã; đạt 6-10 tiêu chí có 05 xã là Xã Bình Thành, xã Phú Tiến (huyện Định Hóa); xã Thần Sa, xã Sảng Mộc, xã Vũ Chấn (huyện Võ Nhai).
Năm 2019 tỉnh Thái Nguyên đặt ra mục tiêu xây dựng 13 xã đạt chuẩn Nông thôn mới; tiếp tục xây dựng 09 xã nông thôn mới kiểu mẫu giai đoạn 2016-2020; 09 xóm nông thôn mới kiểu mẫu; duy trì, nâng cao chất lượng tiêu chí đối với những xã đã công nhận đạt chuẩn nông thôn mới theo tiêu chí xã nâng cao và xã nông thôn mới kiểu mẫu; tăng số tiêu chí đạt chuẩn với các xã còn lại... ngành chức năng thực hiện thẩm tra hồ sơ trình Trung ương thẩm định và công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2019 đối với Thị xã Phổ Yên.
III. Sản xuất công nghiệp
Quý I/2019 sản xuất công nghiệp trên địa bàn gặp khó khăn, chỉ đạt mức tăng bình quân 6,5% cùng kỳ; bước sang Quý II/2019 tình hình tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp tăng cao đã thúc đẩy nhịp độ sản xuất ngành công nghiệp Quý II tăng khoảng 13% cùng kỳ; đóng góp tích cực vào tốc độ tăng chung 6 tháng đầu năm.
Dự ước, giá trị sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2019 (theo giá so sánh năm 2010) đạt 342,7 nghìn tỷ đồng, tăng 10,2% so với cùng kỳ và bằng 46,1% kế hoạch cả năm (6 tháng 2018 đạt 48,2% kế hoạch). Trong đó, công nghiệp địa phương 13,8 nghìn tỷ đồng, tăng 27,5% so với cùng kỳ và bằng 48,5% kế hoạch cả năm; công nghiệp Nhà nước Trung ương 10,2 nghìn tỷ đồng, tăng 10% so với cùng kỳ và bằng 56,3% kế hoạch cả năm; công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 318,8 nghìn tỷ đồng, tăng 9,6% so với cùng kỳ và bằng 45,7% kế hoạch cả năm.
Trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn, ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước đạt 340,5 nghìn tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 99,3%), tăng 10,3% so với cùng kỳ; ngành sản xuất, phân phối điện 1.243 tỷ đồng, tăng 7,8%; ngành công nghiệp khai khoáng 638,7 tỷ đồng, giảm 3,2%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải 342,3 tỷ đồng, giảm 10,1% cùng kỳ.
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu dự ước sản xuất 6 tháng đầu năm 2019 tăng từ 9% trở lên so với cùng kỳ và đạt trên 40% kế hoạch là: điện thoại thông minh đạt 49,6 triệu sản phẩm, tăng 9% cùng kỳ và bằng 51,1% kế hoạch; camera truyền hình đạt 40,5 triệu sản phẩm, tăng 74,8% so với cùng kỳ, bằng 60,6% kế hoạch; mạch điện tử tích hợp đạt 50,3 triệu sản phẩm, tăng 40,7%, bằng 55,6% kế hoạch; sản phẩm may đạt 42,8 triệu sản phẩm, tăng 31,3%, bằng 59,5% kế hoạch; xi măng đạt 1,1 triệu tấn, tăng 10,6% bằng 46,5% kế hoạch; điện thương phẩm đạt 2.394 triệu Kwh, tăng 7,2%, bằng 46,6% kế hoạch...
Nhóm các sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ nhưng đạt trên 40% kế hoạch cả năm như: than khai thác đạt 785 nghìn tấn, giảm 2,7%, bằng 48,8% kế hoạch; sắt thép các loại đạt 685 nghìn tấn, giảm 7,6%, bằng 43%; nước máy thương phẩm đạt 14,9 triệu m3, giảm 10,9%, bằng 42,7%; vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 8 nghìn tấn, giảm 11,9%, bằng 40,5% kế hoạch... Bên cạnh đó, nhóm các sản phẩm công nghiệp đạt thấp hơn 40% kế hoạch như: máy tính bảng đạt 9,6 triệu sản phẩm, giảm 3,2% và bằng 37,4% kế hoạch; gạch xây dựng đạt 109 triệu viên, tăng 3,8% cùng kỳ và bằng 38,9% kế hoạch; tai nghe khác đạt 18,1 triệu sản phẩm, giảm 24,9% cùng kỳ và bằng 17,6% kế hoạch...
Như vậy, với dự ước giá trị sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2019 như trên thì để đạt được mục tiêu kế hoạch công nghiệp cả năm thì nhiệm vụ  giá trị sản xuất công nghiệp 6 tháng cuối năm 2019 phải đạt trên 400 nghìn tỷ đồng, tăng bình quân 11,7% so với cùng kỳ và tăng 17% so với 6 tháng đầu năm 2019. Trong đó, công nghiệp Địa phương phải đạt 14,6 nghìn tỷ đồng, tăng 2% so cùng kỳ; công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải đạt 378,6 nghìn tỷ đồng, tăng 12,4% so cùng kỳ và tăng 18,8% so với mức sản xuất của 6 tháng đầu năm 2019.
Để đạt được mục tiêu sản xuất công nghiệp cả năm thì nhiệm vụ sản xuất công nghiệp 6 tháng cuối năm 2019 là rất nặng nề; đặc biệt là đối với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Trong khi đó số lượng lao động sản xuất công nghiệp của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đang có xu hướng giảm dần so với cùng kỳ (tại thời điểm báo cáo số lao động đã giảm khoảng 7,5 nghìn lao động so với thời điểm cùng kỳ); theo kết quả khảo sát một số doanh nghiệp lớn, 6 tháng cuối năm số lao động khu vực FDI có khả năng tiếp tục giảm khoảng 8 nghìn lao động; ảnh hưởng lớn đến sản xuất cũng như kết quả sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh 2019.  
Theo số liệu của cơ quan chức năng, tổng số lao động đang làm việc trong các Khu công nghiệp, đến nay có trên 105 nghìn người (trong đó có 733 lao động nước ngoài), so với cùng kỳ năm 2018, lao động giảm 4,7% do một số doanh nghiệp đã dần thay thế máy móc, thiết bị hiện đại sử dụng ít lao động.
IV. Đầu tư và xây dựng
1. Đầu tư
Tổng vốn đầu tư trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 22,1 nghìn tỷ đồng, giảm 12,6% so với cùng kỳ và giảm chủ yếu ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài do các doanh nghiệp lớn đã hoàn thành đầu tư, đi vào sản xuất ổn định. Trong tổng số vốn đầu tư của khu vực kinh tế trong nước 6 tháng đầu năm ước đạt 10,8 nghìn tỷ đồng, tăng 11,7% so với cùng kỳ (bao gồm: vốn nhà nước quản lý đạt 2.433,8 tỷ đồng (chiếm 11%), tăng 12,8%; vốn đầu tư của khu vực ngoài nhà nước (doanh nghiệp, cá thể và hộ dân cư) ước đạt 8,3 nghìn tỷ đồng, tăng 18,4% so với cùng kỳ). Riêng khu vực FDI vốn đầu tư ước đạt 11,4 nghìn tỷ đồng (chiếm 51,4% tổng mức đầu tư 6 tháng đầu năm trên địa bàn), giảm 29,5% so với cùng kỳ.
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài: Tính từ đầu năm đến ngày 28/5/2019 trên địa bàn tỉnh có 4 dự án (đều là dự án sản xuất công nghiệp chế biến chế tạo) được cấp giấy chứng nhận đầu tư mới với tổng vốn đầu tư đăng ký là 16,5 triệu USD; so với thời điểm cùng kỳ số dự án đăng ký mới giảm 1 và vốn đăng ký giảm 26,7%. Trong tổng số 4 dự án FDI được cấp phép mới có 3 dự án tại KCN Điềm Thụy với tổng vốn đăng ký là 4,5 Triệu USD. Ngoài ra có 8 dự án FDI điều chỉnh tăng vốn với tổng vốn đăng ký 44,753 triệu USD
Tính lũy kế đến thời điểm báo cáo, trên địa bàn tỉnh hiện có 132 dự án FDI được cấp phép đăng ký và còn hiệu lực. Tổng vốn đăng ký đạt gần 7,7 tỷ USD (tương đương khoảng 177 nghìn tỷ đồng). Trong đó tổng số dự án trong các Khu công nghiệp lũy kế đến thời điểm báo cáo là 98 dự án, vốn đăng ký là 7,58 tỷ USD.
2. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Tính từ đầu năm đến ngày 26/5/2019 toàn tỉnh cấp mới đăng ký kinh doanh cho 298 doanh nghiệp với số vốn đăng ký là 2.097 tỷ đồng. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 7 tỷ đồng. So với cùng kỳ 2018 số doanh nghiệp cấp mới giảm 8% và số vốn đăng ký đạt tương đương cùng kỳ.
Trong tổng số doanh nghiệp đăng ký mới, thành phố Thái Nguyên có số doanh nghiệp đăng ký mới nhiều nhất với 170 doanh nghiệp (chiếm 57%); tiếp đến là thị xã Phổ Yên 45 doanh nghiệp; Sông Công 24 doanh nghiệp; Đại Từ 23 doanh nghiệp và Võ Nhai 01 doanh nghiệp…
Tuy nhiên, trong 5 tháng đầu năm 2019 trên địa bàn tỉnh có 186 doanh nghiệp, chi nhánh tạm ngừng hoạt động (gồm 176 doanh nghiệp và 10 chi nhánh doanh nghiệp); có 233 doanh nghiệp, chi nhánh đóng mã số thuế (gồm 188 doanh nghiệp và 45 chi nhánh doanh nghiệp đóng mã số thuế). So với cùng kỳ, số doanh nghiệp đóng mã số thuế giảm 58 doanh nghiệp và số doanh nghiệp xin tạm ngừng hoạt động tăng 72 doanh nghiệp và chi nhánh doanh nghiệp. Như vậy, từ đầu năm đến nay số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và đóng mã số thuế lớn hơn số doanh nghiệp thành lập mới.
3. Xây dựng
Giá trị sản xuất xây dựng 6 tháng đầu năm 2019 do các đơn vị thường trú trên địa bàn ước đạt 9,9 nghìn tỷ đồng, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực các đơn vị xây dựng có vốn trong nước đạt 9 nghìn tỷ đồng, chiếm 90,7%, tăng 6,6% so với cùng kỳ (khối doanh nghiệp thực hiện 4,6 nghìn tỷ đồng, tăng 10,2% cùng kỳ và loại hình xây dựng khác, bao gồm cả cá thể, hộ dân cư, xây dựng cấp xã thực hiện 4,4 nghìn tỷ đồng, tăng 3,1% cùng kỳ); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 915 tỷ đồng, cao gấp 2,6 lần cùng kỳ.
Kết quả triển khai các dự án giao thông trọng điểm 6 tháng đầu năm 2019: Giai đoạn 2016 – 2020 có 03 dự án giao thông được đưa vào danh mục các dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh bao gồm: Dự án đường Hồ Chí Minh đoạn qua địa bàn tỉnh; dự án đường vành đai V đoạn qua địa bàn tỉnh và dự án nâng cấp đường Quốc lộ 1B đoạn Km100 – Km144+700. Đến thời điểm báo cáo 2/3 dự án đã, đang triển khai đáp ứng yêu cầu. Cụ thể:
Dự án đường Hồ Chí Minh đoạn qua địa bàn tỉnh giai đoạn I (Chợ Mới – Chợ Chu) dài 17,44 km đã đưa vào khai thác, sử dụng trong quý IV năm 2018. Giai đoạn II của dự án đầu tư đoạn Chợ Chu – Ngã ba Trung Sơn dài 29,74 km chưa triển khai thực hiện.
Dự án đường Vành đai V vùng thủ đô Hà Nội đoạn đi trùng đại lộ Đông Tây do Ban QLDA đầu tư xây dựng các công trình giao thông tỉnh thực hiện.  Dự án có chiều dài hơn 9km, tổng mức đầu từ gần 970 tỷ đồng. Dự án gồm 10 gói thầu, trong đó có 6 gói thầu thực hiện các hạng mục xây lắp, 4 gói thầu xây dựng khu tái định cư. Tổng diện tích đất cần phải thu hồi để thực hiện dự án là gần 20ha với hơn 500 hộ dân bị ảnh hưởng và 374 ngôi mộ phải di dời. Dự án được triển khai từ tháng 10 năm 2018, đến nay đã tiến hành giải phóng được 19/20ha (cơ bản là mặt bằng sạch), di dời được 368 ngôi mộ, thực hiện các gói thầu tái định cư đạt 50% khối lượng. Theo kế hoạch dự án sẽ hoàn thành trong tháng 6/2020.
Dự án nâng cấp đường Quốc lộ 1B đoạn Km100 – Km144+700: đã được ngành chức năng lập dự án đầu tư từ năm 2013 tuy nhiên chưa thực hiện.
Tỉnh Thái Nguyên đang tiếp tục mời gọi đầu tư đầu tư theo hình thức đối tác công tư PPP đối với các dự án giao thông trên địa bàn tỉnh như: Đầu tư xây dựng tuyến đường tỉnh ĐT.266 (Km0- Km5); Dự án Cải tạo, nâng cấp ĐT.261; Dự án Cải tạo, nâng cấp ĐT.262; Dự án đường Vành đai I tỉnh Thái Nguyên; Các dự án đầu tư hạ tầng du lịch Hồ Núi Cốc – Di tích lịch sử đặc biệt ATK Định Hoá, Thái Nguyên (Phần hạ tầng giao thông); Dự án đầu tư xây dựng đường vành đai V Hà Nội, đoạn nối từ cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên với đoạn đường nối cao tốc Hà Nội - Lào Cai ...
V. Hoạt động tài chính, ngân hàng
1. Thu, chi ngân sách
* Thu ngân sách nhà nước
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Sáu tháng đầu năm 2019 ước  đạt 7.570,7 tỷ đồng, tăng 8,6% so cùng kỳ và bằng 50,5% kế hoạch. Trong đó, thu trong cân đối ngân sách nhà nước ước đạt 7.542,7 tỷ đồng, tăng 8,5% so với cùng kỳ và bằng 50,3% so với dự toán cả năm; Thu quản lý qua ngân sách đạt 28 tỷ đồng.
Trong tổng thu cân đối, thu nội địa ước đạt 5.942,7 tỷ đồng, tăng 6,7% so với cùng kỳ và bằng 51% so với dự toán cả năm; thu hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 1.600 tỷ đồng, tăng 15,4% so với cùng kỳ và bằng 47,8% so với dự toán cả năm 2019.
Trong thu nội địa, có 8/14 khoản thu tăng so với cùng kỳ, trong đó thu từ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 2.202,6 tỷ đồng, tăng 36% và bằng 52,6% kế hoạch; thu từ doanh nghiệp nhà nước trung ương và địa phương ước đạt 590 tỷ đồng, tăng 21%; thu tiền cấp quyền sử dụng đất đạt 815 tỷ đồng, tăng 3,1%; thu phí, lệ phí đạt 94,8 tỷ đồng, tăng 2%; thu từ hoạt động xổ số kiến thiết đạt 7 tỷ đồng, tăng 20,5%. Các khoản thu đạt thấp hơn so với 6 tháng 2018 như: thu từ khu vực dịch vụ ngoài quốc doanh ước đạt 762 tỷ đồng, giảm 28,5%; thu khác ngân sách đạt 86,8 tỷ đồng, giảm 19,8%; thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đạt 9,5 tỷ đồng, giảm 20,3%; thuế thu nhập cá nhân ước đạt 610 tỷ đồng, giảm 3,3%; thu tiền cho thuê đất đạt 170 tỷ đồng, giảm 19,9%...
* Chi ngân sách địa phương
 Tổng chi ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh Sáu tháng đầu năm 2019 ước đạt 5.612 tỷ đồng, tăng 15,3% so với cùng kỳ và bằng 37,7% dự toán cả năm, trong đó chi cân đối ngân sách địa phương ước đạt 5.196,8 tỷ đồng tăng 17,1% so cùng kỳ và bằng 38,1% dự toán cả năm; chi chương trình mục tiêu quốc gia 415,6 tỷ đồng, giảm 3,6% so cùng kỳ, bằng 33,5% dự toán cả năm.
Trong chi cân đối ngân sách địa phương, chi đầu tư phát triển ước đạt 1.346 tỷ đồng, tăng 125,3% so cùng kỳ, bằng 41,8% dự toán cả năm; chi thường xuyên đạt 3.851 tỷ đồng, tăng 14,5% so cùng kỳ và bằng 46,4% dự toán năm.
Trong tổng chi thường xuyên có 9/11 khoản chi tăng so cùng kỳ như: chi lớn nhất là chi sự nghiệp giáo dục đào tạo và dạy nghề đạt 1.530,1 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 39,7%), tăng 17,7% so cùng kỳ, bằng 42,2% dự toán cả năm; chi quản lý hành chính đạt 803,4 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 20,8%), tăng 6,3% so cùng kỳ, bằng 50,6% dự toán năm; chi sự nghiệp kinh tế đạt 435,2 tỷ đồng, tăng 27% và bằng 49,3 dự toán năm; chi sự nghiệp phát thanh truyền hình đạt  46,4 tỷ đồng, gấp 2 lần so cùng kỳ... Có 2/11 khoản chi giảm so cùng kỳ như: chi sự nghiệp y tế đạt 384,4 tỷ đồng bằng 93,5% cùng kỳ và bằng 44,9% dự toán; chi đảm bảo xã hội đạt 185,7 tỷ đồng, bằng 89,5% cùng kỳ và bằng 50,8% dự toán.
2. Ngân hàng
Tính đến thời điểm đầu tháng 6/2019 tổng số chi nhánh ngân hàng trên địa bàn là 33 đầu mối, bao gồm: 29 chi nhánh ngân hàng trực thuộc trụ sở chính; 03 quỹ tín dụng nhân dân, 01 tổ chức tài chính vi mô. (10 chi nhánh ngân hàng ở huyện/thành phố/thị xã; 111 phòng giao dịch).      
- Tình hình thực hiện lãi suất: Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay bằng đồng Việt Nam tương đối ổn định và tăng nhẹ so với năm 2018.
Lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam phổ biến ở mức 0,5-1%/năm đối với lãi suất huy động tiền gửi kỳ hạn dưới 1 tháng; từ 4,5-5,5%/năm đối với kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; từ 5,5-8,8%/năm đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Lãi suất cho vay bằng Việt Nam đồng đối với các lĩnh vực ưu tiên là 6,5%/năm. Lãi suất cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,8%-9%/năm đối với ngắn hạn, từ 9%-11%/năm đối với trung và dài hạn.
- Hoạt động huy động vốn: Nguồn vốn huy động của các Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng trên địa bàn đến thời điểm này 24/5/2019 đạt 58.188 tỷ đồng, tăng 7,78% so với 31/12/2018. Ước đến 30/6/2019 đạt 58.900 tỷ đồng, tăng 9,65% so với 31/12/2018.
- Dư nợ cho vay của các Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng (chưa bao gồm ngân hàng Phát triển)  đến 24/5/2019 đạt 51.161 tỷ đồng, tăng 1,37% so với 31/12/2018. Ước đến 30/6/2019 đạt 51.600 tỷ đồng, tăng 2,24% so với 31/12/2018. Dư nợ cho vay ngân hàng Phát triển thực hiện chính sách tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu đạt 4.096 tỷ đồng, giảm 8,71% so với 31/12/2018.
Nợ xấu đến 24/5/2019 là 475 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,93%/tổng dư nợ.
Chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp và Cho vay đối với ngành chăn nuôi lợn và thiệt hại do dịch tả lợn Châu Phi
- Chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp: tính đến thời điểm báo cáo, các ngân hàng trên địa bàn đã tổ chức được đã tổ chức được 5 hội nghị đối thoại/kết nối với số tiền cam kết hỗ trợ là 4.735 tỷ đồng cho 202 doanh nghiệp, dư nợ là 3.481 tỷ đồng.
- Dư nợ cho vay đối với ngành chăn nuôi lợn đến hết tháng 4/2019 là 1.872 tỷ đồng, trong đó các ngân hàng trên địa bàn đã thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ với dư nợ 12 tỷ đồng nhằm tháo gỡ khó khăn cho người chăn nuôi lợn khi xảy ra dịch tả lợn Châu Phi.
VI. Thương mại, dịch vụ, giá cả
1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 18.055 tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ và bằng 50,4% kế hoạch. Trong đó, khu vực nhà nước ước đạt 974,4 tỷ đồng, tăng 15,5% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 16.987 tỷ đồng, tăng 12,8% so với cùng kỳ; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 94,1 tỷ đồng, tăng 8,8% so với cùng kỳ.
Nếu chia theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ 6 tháng đầu năm ước đạt 14.349 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 79,5%), tăng 13,8% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống doanh thu ước đạt 1.710 tỷ đồng, tăng 10,3% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ tiêu dùng ước đạt 1.950 tỷ đồng, tăng 8,9% so với cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành ước đạt 46,4 tỷ đồng, tăng 34,8% so với cùng kỳ.
Trong cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm 2019, tất cả các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng đều tăng trên 10%. Trong đó, nhóm mặt hàng đạt doanh thu bán lẻ lớn nhất là nhóm lương thực, thực phẩm đạt 4.718,4 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 32,9% tổng doanh thu bán lẻ, tăng 14,2%; tiếp đến nhóm xăng dầu các loại đạt 1.723 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 12%, tăng 15,03%; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 1.635,8 tỷ đồng; chiếm tỷ trọng 11,4%, tăng 14,45%; nhóm ô tô các loại đạt 1.510 tỷ đồng, tăng 15% so với cùng kỳ; nhóm hàng may mặc đạt 1.102 tỷ đồng, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm trước...
2. Xuất nhập khẩu:
* Xuất khẩu:
Do xuất khẩu nhóm mặt hàng điện tử từ tháng 3/2019 đến nay đạt cao nên tính chung 6 tháng đầu năm 2019, tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn ước đạt 13,9 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước và bằng 50,4% kế hoạch cả năm. Trong đó, xuất khẩu do địa phương quản lý tăng cao, ước đạt 232,8 triệu USD, tăng 31,2% so với cùng kỳ nhưng mới đạt 38,8% kế hoạch cả năm (xuất khẩu địa phương tăng cao một phần là do có sự chuyển đổi hình thức sở hữu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài về khu vực vốn trong nước); xuất khẩu của các đơn vị nhà nước Trung ương đạt 4,3 triệu USD, tăng 19% so với cùng kỳ; xuất khẩu của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt khoảng 13,7 tỷ USD, tăng 11,7% so với cùng kỳ, bằng 50,7% kế hoạch cả năm.
Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu 6 tháng đầu năm 2019 chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn là nhóm điện thoại, máy tính bảng và sản phẩm điện tử khác xuất khẩu tính chung 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 13,5 tỷ USD (chiếm 97,1% tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn), tăng 11,7% so cùng kỳ và bằng 55,2% kế hoạch cả năm (Bao gồm: điện thoại thông minh xuất khẩu 45,4 triệu sản phẩm, đạt giá trị xuất khẩu 10,13 tỷ USD, tăng 7% về lượng nhưng tăng 19,5% về giá trị xuất khẩu cùng kỳ; máy tính bảng 8,8 triệu sản phẩm, đạt giá trị xuất khẩu 1,4 tỷ USD, giảm 8,6% về lượng nhưng tăng 3% về giá trị xuất khẩu; sản phẩm điện tử khác và linh kiện, phụ tùng đạt 1,9 tỷ USD, giảm 12,7% cùng kỳ và bằng 60,7% kế hoạch. Năm 2019 do giá xuất khẩu bình quân trên 1 sản phẩm điện thoại và máy tính bảng tăng nên tốc độ tăng về giá trị xuất khẩu cao hơn tốc độ tăng về lượng xuất khẩu).
Ngoài nhóm sản phẩm điện tử, viễn thông; mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn đứng thứ hai là sản phẩm may, 6 tháng đầu năm xuất khẩu đạt cao, dự ước đạt 158,5 triệu USD, tăng 26,8% cùng kỳ; đứng thứ 3 tỷ trọng giá trị xuất khẩu là nhóm kim loại màu và tinh quặng kim loại màu, xuất khẩu ước đạt 140 triệu USD, giảm 7% cùng kỳ (chủ yếu do xuất khẩu Vonfram giảm) nhưng bằng 77,7% kế hoạch cả năm (riêng các sản phẩm khoáng Flourit xuất khẩu đạt cao tăng 35% cùng kỳ).
Nhóm mặt hàng xuất khẩu khác tăng cao so cùng kỳ như: phụ tùng vận tải đạt 3,9 triệu USD, tăng 88,2%; sản phẩm từ sắt thép đạt 42,2 triệu USD, tăng 56,9% và bằng 81,1% kế hoạch; sản phẩm từ chất dẻo đạt 41,8 triệu USD, tăng 27,6%. Nhóm sản phẩm giá trị xuất khẩu đạt thấp hoặc giảm so cùng kỳ là: giấy và các sản phẩm từ giấy xuất khẩu đạt 1 triệu USD, giảm 29,2% so cùng kỳ.
Riêng mặt hàng chè, xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2019 đạt khoảng 1 nghìn tấn với giá trị xuất khẩu khoảng 1,7 triệu USD, tuy tăng cao (tăng 70%) so cùng kỳ nhưng mới đạt 20% kế hoạch về số lượng xuất khẩu cả năm (kế hoạch 2019 là xuất khẩu 5.000 tấn chè khô các loại).
Hình thức và thị trường xuất khẩu: Hình thức xuất khẩu trên địa bàn trong 6 tháng đầu năm 2019 toàn bộ là xuất khẩu trực tiếp. Thị trường xuất khẩu lớn nhất là Châu Âu chiếm tỷ trọng 35,3%; đứng thứ hai là thị trường Châu Á chiếm tỷ trọng 31,6% tổng giá trị xuất khẩu (tập trung chủ yếu ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á các nước như: Hàn Quốc 1,6 tỷ USD; Thái Lan 520 triệu USD; Nhật Bản 160 triệu USD; Malaixia 152 triệu USD...). Ngoài ra, Châu Mỹ chiếm 24,3% tổng giá trị xuất khẩu, trong đó nước Mỹ chiếm chủ yếu với giá trị xuất khẩu là 2,5 tỷ USD…
Với dự ước 6 tháng đầu năm 2019 như trên, để đạt được mục tiêu kế hoạch xuất khẩu cả năm thì nhiệm vụ 6 tháng cuối năm phải đạt giá trị xuất khẩu 13,7 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ (bình quân mỗi tháng xuất khẩu phải đạt 2,28 tỷ USD, tương đương giá trị xuất khẩu cao như bình quân 1 tháng của 6 tháng đầu năm 2019). Trong đó, xuất khẩu địa phương nhiệm vụ rất nặng nề, phải đạt 367 triệu USD, tăng 50,5% cùng kỳ (tức là bình quân mỗi tháng trong 6 tháng cuối năm phải xuất khẩu được 61 triệu USD/1 tháng; trong khi 6 tháng đầu năm 2019, bình quân 1 tháng chỉ xuất khẩu được khoảng 38,8 triệu USD).
b. Nhập khẩu
Giá trị hàng hóa nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt gần 8 tỷ USD, tăng 13% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước ước đạt 147 triệu USD (chiếm 1,9% tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn), tăng 5,5% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 7,8 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 98,1% tổng giá trị nhập khẩu), tăng 13,1% so với cùng kỳ.
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu 6 tháng đầu năm 2019 phục vụ sản xuất ước tính tăng trên 20% so với cùng kỳ là: máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 68,3 triệu USD, cao gấp 2,7 lần; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 84,8 triệu USD, tăng 88,7%; vải các loại nhập khẩu 80,4 triệu USD, tăng 22%. Nhóm các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tăng dưới 20% so với cùng kỳ là giấy các loại đạt 3 triệu USD, tăng 19,4%; nguyên liệu và linh kiện điện tử đạt 7,6 tỷ USD, tăng 12,4%; nguyên phụ liệu dệt may đạt 7,6 triệu USD, tăng 4,9%.
Nhóm mặt hàng nhập khẩu giảm so cùng kỳ là: nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 16,3 triệu USD, giảm 2,9%; sắt thép các loại đạt 11,6 triệu USD, giảm 13,2%; sản phẩm từ sắt thép đạt 19,4 triệu USD, giảm 51,2%.
Hình thức và thị trường nhập khẩu: Nguồn nguyên liệu và hàng hóa nhập khẩu trên địa bàn trong 6 tháng đầu năm 2019 toàn bộ được nhập khẩu theo hình thức trực tiếp và chủ yếu nhập khẩu từ thị trường Châu Á với 7,4 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 93,5% tổng giá trị nhập khẩu); trong đó chủ yếu ở các nước là Trung Quốc đạt 3 tỷ USD (chiếm 37,8%), Hàn Quốc 2,7 tỷ USD (chiếm 34,8%) và Nhật Bản đạt 667 triệu USD (chiếm 8,4%)…
3. Giá cả
* Chỉ số giá tiêu dùng: Do ảnh hưởng tăng giá của nhóm xăng dầu, nhóm điện, nước, gas và nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống nên chỉ số giá tiêu dùng hàng tháng của năm 2019 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có xu hướng tăng dần so với tháng trước. Trong 6 tháng đầu năm có 4 tháng chỉ số giá tiêu dùng tăng so với tháng trước với mức tăng bình quân 0,33%/1 tháng và có 2 tháng chỉ số giá giảm so với tháng trước là tháng 3 và tháng 6/2019 với mức giảm bình quân là 0,29%/tháng.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 6/2019 giảm 0,15% so với tháng trước; tăng 1,17% so với cùng kỳ và tăng 0,72% so với tháng 12 năm trước. Bình quân 6 tháng năm 2019 chỉ số giá tiêu dùng chung tăng 2,31% so với cùng kỳ.
Tính riêng Quý II/2019, bình quân chỉ số giá tăng 2,13% so với bình quân Quý II/2018 và tăng hầu hết ở các nhóm hàng hóa, dịch vụ; trong đó tăng nhiều nhất là nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 3,95%; tiếp đến là nhóm giáo dục tăng 3,45%.
So sánh diễn biến chỉ số giá tiêu dùng hàng tháng trong 6 tháng đầu năm 2019 so với tháng trước (%) của tỉnh Thái Nguyên với tỉnh lân cận và bình quân chung cả nước:
 
  Tháng 1 Tháng   2 Tháng   3 Tháng 4 Tháng 5 Tháng    6
Cả nước 100,1 100,08 99,79 100,31 100,47  
Thái Nguyên 100,02 100,89 99,57 100,37 100,02 99,85
Bắc Giang 100,07 100,87 99,71 100,26 99,6 99,79
 
bieu do
 Nhìn chung mức tăng giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2019 của tỉnh Thái Nguyên theo xu hướng chung của cả nước. Trong đó, chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống của Thái Nguyên mức tăng thấp hơn bình quân chung cả nước nhưng cao hơn của tỉnh Bắc Giang.
Chỉ số giá vàng tháng 6/2019 tăng 2,18%  so với tháng trước và tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân quý II năm 2019, chỉ số giá vàng tăng 0,54% so với cùng kỳ. Bình quân 6 tháng 2019 chỉ số giá vàng tăng 0,02% so với cùng kỳ.
Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 6/2019 tăng 0,32% so tháng trước và tăng 2,59% so với cùng kỳ. Bình quân quý II năm 2019 tăng 2,28% so bình quân quý II/2018. Bình quân 6 tháng 2019 Chỉ số giá Đô la Mỹ tăng 2,23% so với bình quân cùng kỳ.
* Chỉ số giá sản xuất: Tính chung chỉ số giá sản xuất Nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng 6/2019 giảm 3,15% so với tháng trước và giảm 4,2% so cùng kỳ năm trước. Trong đó sản phẩm cây hàng năm giảm, sản phẩm cây lâu năm tăng 5,4% so với tháng trước và tăng 15,5% so với cùng kỳ (do giá chè búp tươi và nhãn vải tăng); riêng sản phẩm chăn nuôi lợn giảm 18,3% so với tháng trước và giảm 30% cùng kỳ. Chỉ số sản xuất công nghiệp tương đương tháng trước và giảm 0,48% cùng kỳ, trong đó sản phẩm khai khoáng tăng 1,74%; sản xuất phân phối điện tăng 1,32%; sản phẩm công nghiệp chế biến chế tạo giảm 0,54% cùng kỳ.  
Chỉ số giá sản xuất Nông, lâm nghiệp và thủy sản Quý II/2019 giảm 1,67% so với quý trước nhưng tăng 4,02% so với cùng kỳ; trong đó sản phẩm chăn nuôi giảm 5,28% (riêng chăn nuôi lợn chỉ số giá quý II/2019 giảm 10%) so với quý trước nhưng tăng 8,8% cùng kỳ. Sản phẩm gỗ tăng 0,4% so với quý trước và tăng 1,13% so với cùng kỳ. Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 0,48% so với quý trước và tăng 0,23% cùng kỳ.
4. Vận tải
- Vận tải hành khách: Tính chung 6 tháng đầu năm 2019 số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 10,4 triệu lượt hành khách với số lượng hành khách luân chuyển là 598,8 triệu lượt hành khách.km; so với cùng kỳ tăng 9,4% về số hành khách vận chuyển và tăng 9% về số lượt hành khách luân chuyển; toàn bộ hoạt động vận tải hiện nay đều do kinh tế ngoài nhà nước thực hiện. Trong đó, vận tải hành khách bằng đường thủy khoảng 60,8 nghìn lượt hành khách với số lượng luân chuyển là 12,3nghìn lượt khách.km; vận tải đường bộ 10,4 triệu lượt hành khách với số lượng luân chuyển là 598,8 triệu hành khách.km, tăng 9,4% về số lượng hành khách vận chuyển và tăng 9% về số lượng hành khách luân chuyển so cùng kỳ.
- Vận tải hàng hóa: Tính chung 6 tháng đầu năm, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 21 triệu tấn và khối lượng luân chuyển hàng hóa hóa đạt 840,9 triệu tấn.km, tăng 9% so cùng kỳ về khối lượng vận chuyển và tăng 8,9% về khối lượng luân chuyển.
Tổng doanh thu vận tải trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 2.204 tỷ đồng, tăng 11,6% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.635,5 tỷ đồng (chiếm 74,2% tổng số), tăng 11,5% so với cùng kỳ; vận tải hành khách ước đạt 425,7 tỷ đồng, tăng  12% và doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 143 tỷ đồng, tăng 11,7% so với cùng kỳ.
B. MỘT SỐ TÌNH HÌNH XÃ HỘI
1. Tình hình dân số, lao động việc làm
- Công tác dân số: Năm 2019 là năm thứ tư thực hiện giai đoạn 2 của Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản (2011-2020). Ngành chức năng triển khai công tác truyền thông về công tác dân số, KHHGĐ; tổ chức ký cam kết thực hiện công tác DS-KHHGĐ đến năm 2020 trên địa bàn, nhằm giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh và giảm chỉ tiêu sinh con thứ 3 trở lên.
Trong 5 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn tỉnh có 6.248 trẻ mới sinh; trong đó trẻ nam có 3.306 (chiếm 52,9% tổng số trẻ sinh ra). Tỷ số giới tính khi sinh là 112,3 trẻ nam/100 trẻ nữ. Số trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên là 686 trẻ, chiếm 11% tổng số trẻ sinh. Công tác tuyên truyền sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, kế hoạch hóa gia đình tiếp tục duy trì tốt. Dự ước 6 tháng đầu năm, tổng số trẻ em sinh ra là 7.325 trẻ (giảm so với cùng kỳ năm 2018), trong đó số trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên là 726 (chiếm 9,9 % tổng số trẻ được sinh).
- Lao động việc làm: Ngành chức năng  tổ chức Ngày hội việc làm 2019, tham gia ngày hội có 34 đơn vị, doanh nghiệp và các trường nghề tham gia, với nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp là 45.830 người (bao gồm tuyển dụng lao động làm việc trong nước 34.530 người, xuất khẩu lao động và du học 8.300 người, tuyển sinh học nghề 3.000 người). Kết quả tại Ngày hội việc làm các doanh nghiệp, trường nghề đã tuyển dụng được 1.140 người, trong đó lao động làm việc trong nước 864 người, xuất khẩu lao động và du học 196 người, tuyển sinh học nghề 80 người.
Ngành chức năng phối hợp các đơn vị tổ chức Lễ phát động hưởng ứng Tháng an toàn vệ sinh lao động năm 2019, với sự tham gia của người làm công tác An toàn vệ sinh lao động ở trên 140 doanh nghiệp đại diện cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh; Tổ chức hội nghị đối thoại an toàn vệ sinh lao động thu hút trên 300 đại biểu tham dự; Tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho 05 thân nhân gia đình người lao động bị chết do tai nạn lao động.
Hướng dẫn 14 lao động gia hạn hồ sơ đăng ký dự tuyển đi làm việc tại Hàn Quốc. Tiếp nhận 188 hồ sơ của người lao động đăng ký kỳ thi tiếng Hàn theo Chương trình EPS.
2. Đời sống dân cư; tình hình thực hiện các chế độ, chính sách ưu đãi cho người có công; công tác giảm nghèo, bảo trợ xã hội và chăm sóc trẻ em
Đời sống dân cư: Các chính sách hỗ trợ phát triển và an sinh xã hội được triển khai thực hiện góp phần cải thiện đời sống dân cư trên địa bàn từ khu vực thành thị đến nông thôn. Tuy nhiên trong sản xuất nông nghiệp sản xuất còn gặp khó khăn do trong 6 tháng đầu năm 2019 phát sinh Dịch tả lợn Châu phi và bệnh long móng lở mồm trên đàn gia súc, đã ảnh hưởng đến một bộ phận dân cư trên địa bàn; Hiện nay, dịch tả lợn Châu phi vẫn đang diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến tâm lý người tiêu dùng và thiệt hại về kinh tế cho sản xuất và tiêu dùng.
Thực hiện chính sách ưu đãi Người có công: Giải quyết chế độ thờ cúng liệt sĩ cho 110 trường hợp, giải quyết chế độ mai táng phí cho thân nhân người có công 99 trường hợp, giải quyết chế độ trợ cấp tuất hàng tháng cho 27 trường hợp, điều chỉnh thờ cúng liệt sĩ cho 6 trường hợp; Ngành chức năng phối hợp Ban chỉ đạo 515 thực hiện tìm kiếm, quy tập một liệt sĩ trên địa bàn theo Kế hoạch của Ban chỉ đạo tỉnh.
Trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019, toàn tỉnh đã thăm và tặng, chuyển quà cho người có công với cách mạng với tổng số quà 64.271 suất, trị giá 8.709 triệu đồng (trong đó: Quà của Chủ Tịch nước: 21.286 suất trị giá 4.430 triệu đồng; Quà từ ngân sách tỉnh: 7.979 suất, trị giá 3.709 triệu đồng; Quà từ ngân sách cấp huyện, cấp xã: 32.177 suất, trị giá 9.592 triệu đồng; Quà từ kinh phí xã hội hóa: 2.829 suất, trị giá 978 triệu đồng).
Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững: Tỉnh Thái Nguyên đã thực hiện tốt các chính sách giảm nghèo chung của Quốc gia theo Nghị quyết của Chính phủ. Các chính sách thường xuyên hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo như: y tế, giáo dục, nhà ở, tín dụng ưu đãi, trợ giúp pháp lý… đã được các địa phương xây dựng kế hoạch và tích cực tổ chức triển khai thực hiện ngay từ đầu năm. Các địa phương, đơn vị tổ chức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tự lực cho người nghèo, cộng đồng và xã hội về giảm nghèo.
Nhân dịp Tết nguyên đán Kỷ Hợi năm 2019, toàn tỉnh đã thực hiện thăm, tặng quà, giúp đỡ các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn (hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đối tượng bảo trợ xã hội tại các cơ sở bảo trợ xã hội và các đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng) là 23.358 suất quà, trị giá 28.218,75 triệu đồng.
Công tác Bảo vệ, chăm sóc trẻ em: Tổ chức Lễ phát động Tháng hành động vì trẻ em tỉnh Thái Nguyên năm 2019. Thực hiện phóng sự về công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em và an toàn giao thông cho trẻ em. Hội thảo chia sẻ về những rủi ro, dễ bị tổn thương trên đường tới trường và từ trường về nhà của trẻ em…
Ngành chức năng phối hợp với nhiều đơn vị thăm, tặng quà cho các em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của tỉnh; hỗ trợ trong chương trình Chia sẻ yêu thương cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt thuộc huyện Định Hóa, Võ Nhai, thành phố Sông Công và thành phố Thái Nguyên; tổ chức khám sàng lọc cho 111 trẻ em bị khuyết tật hệ vận động, chỉ định phẫu thuật 34 trẻ em…
3. Hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin tuyên truyền
Sáu tháng đầu năm 2019, các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao chào mừng các sự kiện chính trị, ngày lễ, kỷ niệm  được tổ chức hiệu quả, sôi nổi, rộng khắp. Các hoạt động như: kỷ niệm 89 năm ngày thành lập Đảng (03/02/1930-03/02/2019), mừng xuân Kỷ Hợi 2019, Ngày thể thao Việt Nam (27/3), Quốc tế hạnh phúc (20/3); Tổ chức tuyên truyền, biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, luân chuyển sách... phục vụ nhân dân đặc biệt là đồng bào vùng sâu,vùng xa, các đối tượng chính sách; tiếp tục thực hiện công tác giới thiệu, quảng bá du lịch Thái Nguyên trên các phương tiện truyền thông. Hoạt động lễ hội được tổ chức trang trọng, an toàn, tiết kiệm, phát huy được các giá trị truyền thống và đúng quy định của Nhà nước.
Hoạt động bảo tàng: Tổ chức sưu tầm đợt I,II năm 2019. Trưng bày triển lãm “Thành tựu kinh tế-xã hội tỉnh Thái Nguyên”; phối hợp tổ chức lễ hội “Hương sắc trà xuân- Vùng chè đặc sản Tân Cương”; tổ chức các cuộc triển lãm và hội thảo... phục vụ trên 7 nghìn lượt khách tham quan, trong đó có gần 100 lượt khách nước ngoài.
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật, phát hành phim và chiếu bóng: Tổ chức 556 buổi chiếu phim phục vụ các xã vùng khó khăn, đối tượng chính sách, nhiệm vụ chính trị; phục vụ 36 nghìn lượt người xem.
Hoạt động thư viện: Cấp 303 thẻ, phục vụ 19.341 lượt bạn đọc, luân chuyển 32.773 lượt sách, báo. Tổ  chức và phối hợp tổ chức Hội báo xuân; ngày hội sách và văn hoá đọc tỉnh Thái Nguyên; tuyên truyền giới thiệu sách, báo chí tại Lễ hội thơ Nguyên Tiêu... Chuẩn bị tổ chức triển lãm ảnh và giới thiệu tài liệu với chủ đề 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở: Tổ chức chương trình nghệ thuật các ngày lễ; tham gia Liên hoan tuyên tuyền kỷ niệm 65 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, đạt 3 giải A và 3 giải B; tổ chức  trên 50 buổi tuyên truyền Văn hóa cơ sở, 6 buổi văn hóa trà; triển khai xây dựng 05 điểm mô hình, mẫu hình hoạt động văn hóa văn nghệ, nhà văn hóa; duy trì hoạt động của 15 câu lạc bộ văn hoá, nghệ thuật theo sở thích. Tổ chức 60 buổi biểu diễn nghệ thuật (10 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị, 50 buổi  phục vụ vùng đặc biệt khó khăn và các dối tượng chính sách); chuẩn bị tham gia Liên hoan sân khấu chèo chuyên nghiệp toàn quốc.
Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, chung tay xây dựng Nông thôn mới: In và phát hành các ấn phẩm tuyên truyền cho phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” năm 2019; thực hiện 6 chuyên mục truyền hình phong trào; đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật về thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số, miền núi; các chỉ tiêu của mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới...; xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước; chiến lược công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh. Năm 2019 toàn tỉnh có 96% gia đình đăng ký danh hiệu Gia đình văn hóa; có 2.768 trong tổng số 3.008 (chiếm 92%) xóm, tổ dân phố đăng ký văn hóa; 1.628/1.669 (97,54%) cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đăng ký đạt chuẩn văn hóa.
Hoạt động thể thao: Tổ chức các hoạt động thể thao dịp lễ, tết; tổ chức chạy Olympic vì sức khoẻ toàn dân; giải chạy tập thể, Việt dã; đăng cai tổ chức  giải Vô địch cầu lông đồng đội toàn quốc năm 2019; tổ chức các giải cấp  tỉnh, ngành…
Thể thao thành tích cao: Duy trì công tác quản lý, huấn luyện, kiểm tra  việc tập luyện của các đội tuyển. Tham gia thi đấu 11/29 giải theo kế hoạch, đạt 51 huy chương (12HCV, 13HCB, 26HCĐ), trong đó có 01 Huy chương vàng, 02 Huy chương Đồng tại giải Cúp Canoeing nữ vô địch thế giới tổ chức tại Hungary;  02 cờ nhì toàn đoàn, đội tuyển bóng đá nữ thi đấu giải cúp quốc gia xếp thứ 3 toàn quốc (chương trình xã hội hóa); có 12 vận động viên kiện tướng, 29 vận động viên cấp I quốc gia, cung cấp 13 vận động viên cho đội tuyển quốc gia.
4. Công tác y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng chống dịch bệnh
Trong 6 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn tỉnh không có dịch lớn xảy ra, không có tử vong do dịch. Không có các vụ ngộ độc thực phẩm. Hệ thống giám sát và báo cáo dịch bệnh truyền nhiễm thực hiện; đẩy mạnh phát triển y tế chuyên sâu, tạo điều kiện để người dân được tiếp cận với các dịch vụ y tế cơ bản và các dịch vụ có chất lượng cao một cách thuận tiện nhất.
Công tác phòng chống dịch bệnh và khám chữa bệnh: Trên địa bàn tỉnh không có dịch bệnh nguy hiểm xẩy ra, không có tử vong do dịch, các bệnh truyền nhiễm không có diễn biến đặc biệt. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 20/6/2019 có 71 ca sốt phát ban dạng Sởi/Rubella, 93 ca Quai bị, 13 ca Sốt xuất huyết, 6 ca Ho gà, 47 ca Tay chân miệng, 01 ca Viêm não Nhật bản B và 02 ca tử vong do bệnh Dại. Ngành chức năng đã chỉ đạo các đơn vị liên quan phối hợp với địa phương giám sát và thực hiện nghiêm các biện pháp tuyên truyền và phòng chống bệnh dại.
Công tác khám, chữa bệnh và phòng bệnh: Trong 6 tháng đầu năm, các hoạt động khám chữa bệnh, thực hiện quy chế chuyên môn tại các bệnh viện được duy trì; chất lượng khám chữa bệnh tại các bệnh viện tiếp tục được chú trọng, tinh thần thái độ phục vụ tại các bệnh viện ngày một tốt hơn; trong  6 tháng đầu năm đã  giải quyết kịp thời các phản ánh của nhân dân vào đường dây nóng của ngành Y tế; Lũy kế từ đầu năm đã thẩm định cho phép 35 trạm y tế cấp xã được tổ chức khám, quản lý và điều trị ngoại trú bệnh Tăng huyết áp, nâng tổng số lên 107 trạm y tế cấp xã  (đạt 59,4% tổng số xã/phường/thị trấn) được quản lý và điều trị ngoại trú bệnh tăng huyết áp, góp phần thuận lợi cho các đối tượng người cao tuổi trong khám chữa bệnh.
Vận động và tổ chức hoạt động hiến máu tình nguyện năm 2019:  Kết quả có 350 tình nguyện viên tham gia, thu được 260 đơn vị máu đủ tiêu chuẩn.
Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong 6 tháng đầu năm, không có vụ ngộ độc thực phẩm tập thể xẩy ra. ngành chức năng tăng cường các biện pháp bảo đảm an toàn thực phẩm trên địa bàn  khi có Dịch Bệnh tả Lợn Châu Phi; Thực hiện giám sát tại 30 bếp ăn bán trú thuộc các trường mầm non trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, lấy 30 mẫu thực phẩm chín ăn ngay kiểm nghiệm các chỉ tiêu vi sinh vật, hóa học;  thực hiện Kế hoạch giám sát nguy cơ gây ô nhiễm thực phẩm tại 07 cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, nhà hàng ăn uống trong Khách sạn. Tiến hành lấy mẫu thực phẩm xét nghiệm vi sinh, tất cả 7/7 mẫu đều đạt tiêu chuẩn.
Công tác quản lý hành nghề y dược: Duy trì việc thẩm định đủ điều kiện cấp phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh cho các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân. Thẩm định hồ sơ cấp mới, cấp lại, thay đổi bổ sung chứng chỉ hành nghề y, dược, cơ sở đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm; cấp phép hoạt động phòng khám tư nhân.
Tình hình lây nhiễm HIV/AIDS: Ngành chức năng triển khai các hoạt động phòng chống HIV/AIDS; điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone; rà soát thông tin bệnh nhân cần xét nghiệm lại tình trạng nhiễm HIV tại 10 cơ sở điều trị trong tỉnh tiếp tục duy trì tốt. Tính đến 31/5/2019, lũy tích số người nhiễm HIV/AIDS là 10.219 người; số chuyển sang AIDS là 6.757 người; số tử vong do AIDS là 3.498 người.
5. Giáo dục phổ thông
 Ngành chức năng đã tổ chức triển khai, thực hiện khung kế hoạch thời gian năm học 2018-2019 theo quy định.
Công tác tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2019-2020: Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 trên địa bàn có 28 Hội đồng coi thi. Số thí sinh đăng ký toàn tỉnh có 12.975 thí sinh dự thi tuyển vào lớp 10, giảm 14,7% số học sinh so với năm học 2018-2019 (15.219 thí sinh). Hiện nay, ngành chức năng đã chính thức công bố kết quả chấm thi kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2019-2020. Theo kết quả chấm, toàn tỉnh có gần 1.000 bài thi đạt điểm 9 và điểm 10, trong đó môn Ngữ văn có 16 bài, môn Toán có 434 bài và môn Tiếng Anh có 519 bài; tuy nhiên có 54 bài thi bị điểm liệt. Trên địa bàn, các trường THPT đã công bố điểm chuẩn xét tuyển vào lớp 10 theo chỉ tiêu được giao năm học 2019 - 2020.    
Tình hình thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia năm học 2018- 2019: toàn tỉnh có 14.404 hồ sơ đăng ký dự thi (chia ra có 5.098 chỉ thi tốt nghiệp; 8.899 Thi tốt nghiệp và tuyển sinh; 407 chỉ thi tuyển sinh), giảm 101 hồ sơ so với năm học 2017-2018. Trên địa bàn toàn tỉnh có 31 điểm thi với 610 phòng thi. Công tác chuẩn bị diễn ra hết sức khẩn trương và tích cực để có một kỳ thi an toàn.
Thực hiện đề án xây dựng hệ thống trường đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 2016-2020: tính đến thời điểm tháng 6/2019 toàn tỉnh có 556/680 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 82%, vượt mục tiêu trước 1 năm (Nghị quyết đặt ra đến năm 2020 là đạt 80%, về trước 2 năm so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đã đề ra). Trong đó, Mầm non 186/235 trường, tỷ lệ 79,1%; Tiểu học 208/220 trường đạt tỷ lệ 94,5%; Trung học cơ sở có 144/191 trường đạt tỷ lệ 75,39%; Trung học phổ thông có 18/32 trường đạt tỷ lệ 56,25%.
6. Tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội
Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh Thái Nguyên, từ 15/5/2019 đến 14/6/2019 trên địa bàn xảy ra 18 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 6 người chết và 22 người bị thương. Tai nạn liên quan đến ô tô 07 vụ (38,89%); liên quan đến mô tô 11 vụ (61,11%). Thiệt hại tài sản ước tính khoảng 103,5 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn tăng 2 vụ (+12,5%); số người chết tương đương và số người bị thương tăng 12 người (+120%). Tình hình an toàn giao thông đường sắt, đường thủy ổn định, không xảy ra tai nạn giao thông.
Tính riêng theo quý, Quý 2/2019 có 44 vụ tai nạn giao thông, số người chết là 14 người và số người bị thương là 45 người. Quý 2/2019 có số vụ, số người bị thương do tai nạn giao thông cao so với các quý 1/2019; Tuy nhiên  so với quý 2/2018 giảm 13,7% về số vụ tai nạn; giảm 12,5% về số người chết nhưng số người bị thương lại tăng 32,3%; quý I/2019 so với cùng kỳ có 26 vụ tai nạn (+13%), 14 người bị chết (+27,2%) và 12 người bị thương (36,8%).
Sáu tháng đầu năm 2019, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 70 vụ tai nạn giao thông, làm chết 28 người và 57 người bị thương. So với cùng kỳ năm 2018 số vụ tai nạn giảm 4 vụ (-5,4%), số người bị chết giảm 1 người (-3,44%) và số người bị thương giảm 1 người (1,72%). Trong đó, địa bàn xảy ra nhiều vụ tai nạn nhất là thành phố Thái Nguyên với 36 vụ (chiếm 51% tổng số), làm 4 người chết (chiếm 14%) và 34 người bị thương (chiếm 59,6%).
Tháng 6/2018 đã kiểm tra lập biên bản xử lý vi phạm 5.224 trường hợp; tước 519 giấy phép lái xe; tạm giữ 307 xe ô tô, 650 xe mô tô; 11 phương tiện khác. Số tiền xử phạt 5,6 tỷ đồng.
7. Vi phạm môi trường
Sáu tháng đầu năm 2019, các ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra và xử lý 25 vụ vi phạm môi trường, nguyên nhân của các vụ xử lý trên là do các cơ sở sản xuất kinh doanh không thực hiện quan trắc giám sát môi trường theo đề án bảo vệ môi trường được Sở Tài Nguyên Môi trường xác nhận. Tổng số tiền thu và nộp vào ngân sách nhà nước là 463 triệu đồng.
8. Phòng chống cháy nổ
Các ngành chức năng của tỉnh đã tiến hành kiểm tra định kỳ công tác phòng cháy, chữa cháy tại các cơ quan đơn vị trên địa bàn tỉnh; qua kiểm tra đã nhắc nhở những thiếu sót trong phòng cháy chữa cháy và lập biên bản xử lý các trường hợp vi phạm nhằm hạn chế các vụ cháy nổ xảy ra.
Quý II/2019 có số vụ cháy là 34, tăng 5 vụ so với quý I/2019 (29 vụ) và giảm 8 vụ so với cùng kỳ (giảm 19%), 01 người bị chết. Lũy tích 6 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 63 vụ cháy, có  01 người bị chết. Ước tính tổng giá trị thiệt hại khoảng 5,6 tỷ đồng (giảm 39,3% so cùng kỳ).
9. Thiệt hại do thiên tai
Tính từ đầu năm đến ngày 16/6/2019 toàn tỉnh đã xảy ra 06 đợt thiên tai mưa, giông lốc, làm 7 người bị thương (TP Thái Nguyên 04 người, TP Sông Công 03 người). Tổng thiệt hại 06 đợt thiên tai ước tính về tài sản khoảng trên 65,35 tỷ đồng. Ngành chức năng đã phối hợp với địa phương khắc phục xử lý sự cố, đánh giá thiệt hại, huy động lực lượng tại chỗ để tích cực triển khai, trợ giúp nhân dân ổn định đời sống và sản xuất.
Năm 2019, thời tiết được dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp; để chủ động phòng, chống và ứng phó với diễn biến bất thường của thời tiết, ngành chức năng đã phân công nhiệm vụ cụ thể, đôn đốc, kiểm tra các ngành, địa phương lập và thực hiện các phương án, kế hoạch về công tác phòng, chống thiên tai. Bên canh đó, Ngành chức năng phối hợp với các địa phương kiểm tra, phát hiện, có biện pháp sửa chữa, khắc phục kịp thời các công trình đê điều, thủy lợi; triển khai các phương án bảo vệ đê điều, hồ, đập; phòng tránh mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất đá, đặc biệt là đối với các công trình đang thi công.
C. KHÁI QUÁT LẠI VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
1. Một số kết quả nổi bật
Trong 6 tháng đầu năm, các cấp, các ngành đã tích cực triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp đề ra trong các nghị quyết, văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2019 và thực hiện quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư phát triển, cải thiện môi trường đầu tư tạo bước đột phá trong thu hút đầu tư.
Kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh đạt được kết quả tích cực. Tăng trưởng kinh tế tiếp tục được duy trì ở mức cao (8,28%); cơ cấu tổng sản phẩm chuyển dịch theo hướng tích cực; giá trị sản xuất công nghiệp xuất khẩu tăng trên 10%; Thu ngân sách nhà nước trong cân đối ước đạt trên 50% dự toán năm, tăng 8,6% so với cùng kỳ; giá cả thị trường nhìn chung ổn định, cung cầu hàng hóa được đảm bảo, đời sống dân cư ổn định. Đây là kết quả của sự chỉ đạo tập trung, quyết liệt của các cấp ủy đảng, chính quyền và sự nỗ lực của các cấp, các ngành và nhân dân trên địa bàn tỉnh.
2. Khó khăn, hạn chế
Tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm duy trì ở mức cao, tuy nhiên ngoài yếu tố tăng trưởng từ các dự án thuộc khu vực FDI và các dự án lớn trên địa bàn thuộc lĩnh vực công nghiệp, khu vực dịch vụ tăng trưởng còn thấp, mức độ liên kết, phối hợp giữa các doanh nghiệp trong nước với khu vực đầu tư nước ngoài còn hạn chế. Tốc độ tăng công nghiệp chế biến, chế tạo có xu hướng thấp dần so với tốc độ tăng cùng kỳ nên để đạt được mục tiêu kế hoạch cả năm 2019 cần phải có giải pháp tích cực; bên cạnh đó tình hình bệnh dịch tả lợn Châu Phi có diễn biến phức tạp, chưa được khống chế, kiểm soát chặt chẽ ảnh hưởng đến kết quả sản xuất nông nghiệp và khó khăn cho người chăn nuôi.
Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công đạt thấp (30,1% kế hoạch năm). Một số dự án, công trình trọng điểm còn vướng mắc về quy trình thủ tục đầu tư, chưa bảo đảm được nguồn vốn đối ứng cho dự án nên chậm triển khai thực hiện. Tiến độ triển khai một số công trình, đề án, dự án trọng điểm trên địa bàn còn phát sinh vướng mắc, chưa được giải quyết kịp thời; công tác quản lý nhà nước về đất đai, xây dựng, giải phóng mặt bằng ở một số địa phương còn hạn chế; kết quả triển khai các dự án sau Hội nghị xúc tiến đầu tư còn chậm, chưa có nhiều dự án hoàn thành các thủ tục pháp lý và khởi công thực hiện… làm giảm hiệu quả đầu tư.
3. Đề xuất giải pháp
Hiện nay ngành chăn nuôi đang gặp khó khăn do dịch bệnh chưa được khống chế, ngăn chặn; bên cạnh đó ngành trồng trọt chưa có sự bứt phá, nâng cao sản lượng sản phẩm trồng trọt ứng dụng công nghệ cao, trong khi diện tích gieo trồng giảm dần do hiệu quả kinh tế thấp hơn các ngành khác nên nhiệm vụ để đạt được mục tiêu giá trị sản xuất nông nghiệp 6 tháng cuối năm là rất nặng nề, cần có giải pháp tăng sản lượng trồng trọt và thúc đẩy sản xuất, tăng sản lượng chăn nuôi gia cầm để bù đắp phần giảm của chăn nuôi lợn do dịch tả lợn Châu phi; đồng thời gia tăng sản lượng khai thác, chế biến gỗ đến kỳ thu hoạch đối với ngành Lâm nghiệp.Tiếp tục thực hiện quyết liệt, đồng bộ, triệt để các biện pháp phòng, chống, khống chế bệnh dịch tả lợn Châu Phi.
Thực hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng để triển khai các dự án đầu tư theo tiến độ, đảm bảo hiệu quả. Chủ động, tích cực hoàn thiện các thủ tục, cơ sở pháp lý làm căn cứ để đẩy nhanh tiến độ các dự án, công trình trọng điểm nhằm phát huy tác dụng hiệu quả vốn đầu tư.
Triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp về phát triển giáo dục, đào tạo, y tế, các lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường, phòng chống thiên tai; thực hiện tốt công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống. Tăng cường công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ.
Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, triển khai có hiệu quả các chương trình giảm nghèo bền vững, hỗ trợ hộ nghèo, cận nghèo. Quan tâm thực hiện các chính sách đối với người có công, các đối tượng chính sách xã hội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
Trên đây là một số tình hình chủ yếu về kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên 6 tháng đầu năm 2019./.

Nguồn tin: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây