Tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm 2017

Chủ nhật - 25/02/2018 08:22
BÁO CÁO
Tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm 2017 tỉnh Thái Nguyên
 
 A. KINH TẾ
I. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản và thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
1. Trồng trọt
* Cây hàng năm
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm (bao gồm cả cây sắn) vụ Mùa đạt 54,6 nghìn ha, giảm 1,6% (-867 ha) so với vụ Mùa năm 2016 và bằng 111% kế hoạch, trong đó giảm ở hầu hết các loại cây trồng, riêng chỉ có cây rau, đậu các loại; cây lạc các loại có diện tích tăng so cùng kỳ.
- Cây lúa: Hiện nay các địa phương đang tập trung thu hoạch lúa Mùa sớm và tiếp tục chăm sóc, phòng chống sâu bệnh gây hại cho cây lúa vụ Mùa muộn. Tổng diện tích gieo cấy lúa vụ Mùa 2017 đạt 40,8 nghìn ha, giảm 1,3% (giảm 547 ha) so với cùng kỳ và bằng 103,8% kế hoạch. Có 8/9 địa phương  hoàn thành vượt mức kế hoạch gieo cấy, riêng huyện Đại Từ diện tích lúa giảm 51 ha và bằng 99,2% kế hoạch, chủ yếu do chuyển đổi cơ cấu cây trồng (chuyển 1 phần diện tích đất lúa sang trồng cây mầu). So với cùng kỳ, vụ Mùa 2017 có 2/9 huyện diện tích gieo cấy lúa tăng so với cùng kỳ là huyện Định Hóa và huyện Đồng Hỷ, có 7/9 huyện, thành phố giảm so với cùng kỳ, trong đó, giảm nhiều nhất là huyện Võ Nhai giảm 5,2% (tương ứng giảm 170 ha); huyện Đại Từ giảm 3,4% (tương ứng giảm 231 ha).
Vụ mùa năm diện tích lúa lai đạt 7.462 ha, chiếm 18,3% diên tích gieo trồng. Trong đó, huyện Phú Bình có diện tích lúa lai nhiều nhất là 1.529 ha, chiếm 20,3% diện tích gieo cấy, tiếp đến là Thị xã Phổ Yên 1.450 ha; huyện có diện tích lúa lai thấp nhất là huyện Định Hóa 123 ha, chiếm 2,6% diện tích gieo cấy.... bên cạnh đó, diện tích lúa thuần lai gieo cấy đạt 6.460 ha, chiếm 15,8% tổng diện tích gieo cấy lúa.
Tình hình sâu bệnh trên cây lúa: Tính đến 20/9/2017 diện tích nhiễm sâu, bệnh khoảng 4,3 nghìn ha rải rác ở các địa phương, trong đó, bệnh khô vằn diện tích bị nhiễm khoảng 3,5 nghìn ha; rầy nâu, rầy lưng trắng diện tích nhiễm 279 ha; sâu đục thân với diện tích nhiễm khoảng 200 ha; sâu cuốn lá nhỏ khoảng 302 ha, chuột, bọ xít... Ngành chức năng và các địa phương chủ động theo dõi diễn biến của các đối tượng gây hại để chủ động các biện pháp phòng trừ kịp thời, đảm bảo năng suất cây trồng.
Hiện nay một số địa phương đã thu hoạch trà lúa mùa sớm. Nhìn chung vụ mùa năm nay cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt, khả năng năng suất sẽ tương đương hoặc cao hơn so với cùng kỳ năm trước.
- Cây hàng năm khác: Tổng diện tích cây hàng năm vụ Mùa 2017  đạt 13,8 nghìn ha, giảm 2,3% so cùng kỳ. Vụ mùa năm nay chỉ có cây rau đạt kế hoạch và tăng so với cùng kỳ, còn lại các cây khác đều chưa đạt kế hoạch giao. Trong đó, chiếm tỷ trọng cao là cây ngô với diện tích 4,9 nghìn ha, giảm 5% (-259 ha) so cùng kỳ và bằng 98,4% kế hoạch; tiếp đến là cây rau các loại 3,2 nghìn ha, tăng 13,2% cùng kỳ và bằng 106,5% kế hoạch; còn các cây hàng năm khác diện tích nhỏ lẻ đều đạt thấp so cùng kỳ và kế hoạch; riêng cây lạc diện tích đạt 611 ha, tăng 1,2% so cùng kỳ.
* Cây lâu năm
- Cây chè: Dự ước đến 30/9/2017 các địa phương trồng mới và trồng lại chè được 992 ha, bằng 99,2% so kế hoạch năm; trong đó chủ yếu là chè trồng lại là 782 ha (trồng thay thế diện tích chè già cỗi và giống cũ) và chè trồng mới là 210 ha, bằng 101,5% kế hoạch cả năm.
 Tình hình sâu bệnh trên cây chè: Tính đến ngày 20/9/2017 diện tích bị nhiễm bệnh nhẹ khoảng 1,6 nghìn ha, trong đó rầy các loại 610 ha, bọ cánh tơ khoảng 485 ha, bọ xít muỗi khoảng 384 ha...
Tiếp tục triển khai thực hiện 44 mô hình sản xuất chè trong đó có 32 mô hình sản xuất chè chứng nhận VietGAP với diện tích 326,3 ha, 06 mô hình tưới tiết kiệm với diện tích 17,6 ha, 02 mô hình sử dụng tôn sao chè bằng GAS và 04 mô hình thâm canh chè với diện tích 11 ha bằng nguồn hỗ trợ của tỉnh, và các huyện, thành phố, thị xã.
- Cây ăn quả: Dự ước diện tích cây ăn quả toàn tỉnh khoảng 17 nghìn ha, tăng 2% so năm 2016. Trong đó cây vải, nhãn có diện tích khoảng 4,5 nghìn ha, chiếm 27% trong tổng diện tích cây ăn quả. Trong 9 tháng đầu năm một số  huyện trên địa bàn toàn tỉnh đã nhân rộng một số mô hình trồng cây ăn quả có chất lượng cao đưa vào sản xuất và đồng thời nhiều diện tích cây ăn quả hiệu quả kinh tế thấp được chuyển sang trồng cây chè và cây ăn quả có giá trị kinh tế cao hơn. Diện tích trồng mới cây ăn quả trong 9 tháng đầu năm ước đạt 900 ha tăng 40% so cùng kỳ; cây trồng chủ yếu là: cây bưởi 430 ha, chuối 160 ha, thanh long 73 ha; cam 65 ha...
2. Chăn nuôi
Từ đầu năm đến nay địa bàn toàn tỉnh không xảy ra dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên đàn gia súc, gia cầm. Công tác kiểm dịch vận chuyển, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y được duy trì thực hiện.
Giá bán thịt lợn hơi của người sản xuất bình quân tháng 9/2017 là 30 nghìn đồng, gà ta hơi là 83,6 nghìn đồng và gà công nghiệp lông trắng hơi là 31 nghìn đồng. Tính chung Quý 3/2017 chỉ số giá bán sản phẩm từ chăn nuôi tăng 2,5% so với quý II/2017 nhưng so với cùng kỳ năm trước vẫn giảm 33,7%, trong đó thịt lợn hơi tăng 2,4% so quý II/2017 nhưng giảm 53% so với quý 3/2016.
Các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã tích cực tìm cách tháo gỡ những khó khăn và bàn các biện pháp hỗ trợ trong tiêu thụ sản phẩm lợn hơi, phòng chống dịch bệnh, giảm chi phí  thức ăn chăn nuôi, giảm lãi suất cho vay đối với người chăn nuôi. Đồng thời khuyến cáo và hướng dẫn người chăn nuôi giảm quy mô đàn hợp lý; duy trì, ổn định đàn nái chất lượng để phục hồi sản xuất, loại những đàn lợn có năng suất, chất lượng sinh sản thấp.
Tính đến thời điểm 30/9/2017: Đàn trâu khoảng 63 nghìn con, giảm 5,9% so cùng kỳ; đàn bò khoảng 46 nghìn con, tăng 4,3% so cùng kỳ; đàn lợn khoảng 600 nghìn con, giảm 6,4%; đàn gia cầm khoảng 11,5 triệu con, tăng 4,8% so cùng kỳ, trong đó đàn gà 9,8 triệu con tăng 4,2% so cùng kỳ.
Công tác phòng trừ dịch bệnh, tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm được các địa phương triển khai theo kế hoạch. Số lượng tiêm phòng vắc xin đợt II/2017, kết quả như sau: tiêm tụ huyết trùng trâu, bò khoảng 106,5 nghìn con; tiêm lở mồm long móng trâu bò, lợn 119,7 nghìn con; tiêm tụ dấu lợn  350,7 nghìn con; tiêm dại chó 154,7 nghìn con; tiêm dịch tả lợn 472 nghìn con...
* Công tác quản lý quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản
Lũy kế đầu năm đến đầu tháng 9/2017 đã tổ chức 880 lớp tập huấn, hội nghị, hội thảo cho 45.683 lượt người tham dự; các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh đã tổ chức ký cam kết chấp hành các điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm đối với 468 cơ sở sản xuất ban đầu nhỏ lẻ. Lũy kế đến tháng 8/2017 đã thực hiện ký cam kết đối với 647 cơ sở.
Hỗ trợ xây dựng, kết nối chuỗi cung ứng nông sản thực phẩm an toàn: tiếp tục cấp tem nhận diện tại các cơ sở được cấp Giấy xác nhận sản phẩm chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn. Lũy kế từ đầu năm đến đầu tháng 9/2017 đã cấp 345.767 tem nhận diện với sản lượng 437.311 kg sản phẩm chè, rau, thịt và sản phẩm từ thịt.
3. Lâm nghiệp
- Công tác trồng và chăm sóc rừng: diện tích trồng rừng theo chương trình bảo vệ và phát triển rừng là 4.464,2 ha, bằng 111,9% kế hoạch; Chín tháng 2017, diện tích rừng được chăm sóc 1.322,7 ha, bằng 97,6% cùng kỳ; khoanh nuôi tái sinh 1.130 ha rừng, giảm 10,5%; diện tích rừng giao khoán bảo vệ là 19 nghìn ha, tăng 9,7% cùng kỳ.
- Tình hình khai thác lâm sản: Dự ước 9 tháng đầu năm 2017 khai thác được 99,2 nghìn m3 gỗ các loại, giảm 4,5% (giảm 4,6 nghìn m3) so với cùng kỳ (do ảnh hưởng thời tiết mưa nhiều); khai thác tre, nứa, vầu khoảng 1,6 triệu cây và khoảng 50 tấn củ bình vôi.
- Công tác quản lý và bảo vệ rừng: Công tác kiểm tra, giám sát quản lý bảo vệ và phát triển rừng được duy trì. Ngành chức năng phối hợp với đơn vị liên quan thực hiện 07 chuyên mục quản lý bảo vệ rừng và dự báo nguy cơ cháy rừng trên sóng truyền hình. Tổ chức  68 lớp về kỹ thuật trồng rừng với 4.700 lượt người tham gia; tổ chức 02 buổi tuyên truyền về công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng.
Trong 8 tháng đầu năm 2017 đã xảy ra 05 vụ cháy rừng với diện tích rừng bị cháy là 9,41 ha, tăng 01 vụ, giá trị thiệt hại khoảng 160 triệu đồng. Lũy kế 8 tháng đầu năm ngành chức năng đã phát hiện và xử lý 252 vụ vi phạm (giảm 117 vụ vi phạm so năm 2016); tịch thu 410 m3 gỗ quy tròn các loại, 39 phương tiện; thu nộp ngân sách nhà nước 1,6 tỷ đồng, giảm 1,3 tỷ đồng so với cùng kỳ.
4. Thủy sản
Ngành chức năng đã tổ chức tập huấn kỹ thuật nuôi trồng thủy sản cho các địa phương. Dự ước sản lượng thủy sản 9 tháng đầu năm 2017 đạt khoảng 6,6 nghìn tấn, tăng 11% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng cá khoảng 6,3 nghìn tấn, tăng 11%; tôm khoảng 49 tấn, tăng 2,1%; thủy sản khác khoảng 183 tấn, tăng 6,4% so cùng kỳ.
 Giống thủy sản được sản xuất ở 02 trại do nhà nước quản lý và các trại tư nhân, hộ gia đình. Ước tính hết tháng 9 sản xuất được khoảng 450 triệu con cá bột và 40 triệu con cá giống các loại.
Tình hình nuôi thủy sản thương phẩm: Các địa phương tiếp tục thả giống, chăm sóc, phòng chống dịch bệnh, đồng thời phòng chống lụt bão cho các ao hồ nuôi cá trong mùa mưa bão.
5.  Tiến độ thực hiện Chương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới
Kết quả rà soát 19 tiêu chí theo Bộ tiêu chí xã nông thôn mới tỉnh Thái Nguyên (giai đoạn 2017-2020), tính đến hết tháng 8/2017 như sau:
Nhóm 1 (đạt chuẩn 19 tiêu chí): có 53 xã, chiếm 37,9% tổng số.
Nhóm 2 (đạt từ 15-18 tiêu chí) có 14 xã, tăng 1 xã so với 31/12/2016.
Nhóm 3 (đạt từ 10-14 tiêu chí): 57 xã, tăng 2 xã so với 31/12/2016.
Nhóm 4 (đạt từ 5-9 tiêu chí): có 16 xã đạt từ 7 đến 9 tiêu chí (không có xã đạt từ 5-6 tiêu chí trong nhóm 4), giảm 3 xã so với thời điểm 31/12/2016.
Phấn đấu đến 31/12/2017 trên địa bàn tỉnh có 64 xã đạt chuẩn 19 tiêu chí nông thôn mới, chiếm 45,7% tổng số xã trên địa bàn.
 
II. Sản xuất công nghiệp
Chín tháng đầu năm 2017 tình hình tiêu thụ sản phẩm công nghiệp khá tốt, chỉ số tiêu thụ lũy kế 9 tháng tăng trên 40% so với cùng kỳ, trong đó, chỉ số tiêu thụ sắt thép tăng 19,2%; xi măng tăng 8,3%; trang phục tăng 44,2%; tiêu thụ sản phẩm điện tử tăng 47%... Lượng tồn kho của các đơn vị sản xuất công nghiệp chủ yếu tính đến đầu tháng 9/2017 hầu hết đầu thấp hơn so với tháng trước: Thép cán tồn kho 140 nghìn tấn, tương đương tháng trước; xi măng còn tồn kho 27,8 nghìn tấn, bằng 1/3 tồn kho cùng kỳ; điện thoại thông minh tồn kho 2,1 triệu sản phẩm; máy tính bảng tồn kho 0,3 triệu sản phẩm; sản phẩm may tồn 5,2 triệu sản phẩm...
Với tình hình sản xuất, tiêu thụ như trên, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tháng 9/2017 ước tính tăng 3,2% so với tháng trước, tăng 16,1% với cùng kỳ. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,5% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp khai khoáng tăng 36,2% so với cùng kỳ (do khai thác quặng kim loại tăng 54,2%; khai thác than tăng 14,6%); ngành cung cấp nước, quản lý, xử lý rác thải, nước thải tăng 30,9% so với cùng kỳ; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước giảm 16,2% (trong đó phân phối điện tăng 11,2%; sản xuất điện giảm 28,4%).
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất tháng 9/2017: Hầu hết tất cả các sản phẩm đều có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ. Nhóm sản phẩm có sản lượng tăng trên 10% so với cùng kỳ là: điện thoại thông minh đạt 9,4 triệu sản phẩm, tăng 12,3%; sắt thép các loại đạt 129,1 nghìn tấn, tăng 15%; sản phẩm may đạt 5,2 triệu sản phẩm, tăng 49,4%; đồng tinh quặng (Cu>20%) đạt 3,9 nghìn tấn, tăng 17%; than khai thác đạt 84,2 nghìn tấn, tăng 14,6%; phân phối điện 400 triệu Kwh, tăng 11,2%; nước máy thương phẩm đạt 3,1 triệu m3, tăng 26,7%; quặng sắt và tinh quặng sắt chưa nung đạt 166,1 nghìn tấn, tăng 54,2%... Nhóm sản phẩm sản lượng tăng thấp hoặc giảm hơn so với cùng kỳ là: Vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 1,5 nghìn tấn, tăng 2,1%; xi măng đạt 187,3 nghìn tấn, tăng 1,9%; máy tính bảng đạt 1,6 triệu sản phẩm, tăng 1,5%; camera màn hình 2,9 triệu cái, giảm 52,4%; điện sản xuất 89 triệu Kwh, giảm 28,2%...
Tính chung 9 tháng đầu năm 2017, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 18,1% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 18,6% (riêng ngành sản xuất sản phẩm điện tử tăng 19,2%; sản xuất kim loại tăng 10,9% và sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại giảm 7,8%); ngành cung cấp nước, quản lý, xử lý rác thải, nước thải tăng 21,9%; ngành công nghiệp khai khoáng tăng 21%; Riêng ngành sản xuất và phân phối điện giảm 8,7% so với cùng kỳ (trong đó phân phối điện tăng 12,9%; sản xuất điện giảm 16,8%)
Nếu tính theo giá so sánh năm 2010, giá Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn 9 tháng đầu năm 2017 ước đạt 413,2 nghìn tỷ đồng, bằng 73,4% kế hoạch cả năm; trong đó công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp địa phương là 15,5 nghìn tỷ đồng, bằng 79% kế hoạch và tăng 12,6% cùng kỳ; công nghiệp nhà nước trung ương 12,3 nghìn tỷ đồng, bằng 73,8% kế hoạch, tăng 5,9% cùng kỳ; công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 385,5 nghìn tỷ đồng, bằng 73,2% kế hoạch, tăng 18,2% cùng kỳ.
Về sản phẩm công nghiệp sản xuất 9 tháng đầu năm 2017, nhóm sản phẩm tăng trên 15% so cùng kỳ là: sản phẩm điện tử viễn thông đạt 90,4 triệu sản phẩm (trong đó, điện thoại thông minh đạt 75,1 triệu sản phẩm, máy tính bảng đạt 15,3 triệu sản phẩm), tăng 19,1%, bằng 65,1% kế hoạch; Vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 14,7 nghìn tấn, tăng 32%, bằng 92% kế hoạch; sản phẩm may đạt 43,8 triệu sản phẩm, tăng 32%, bằng 79,6% kế hoạch; nước máy thương phẩm đạt 25,5 triệu m3, tăng 21,8%, bằng 82,2% kế hoạch; quặng sắt và tinh quặng sắt chưa nung đạt 1,5 triệu tấn, tăng 52,4%; phụ tùng xe có động cơ 45,5 triệu cái, tăng 25%; thiết bị và dụng cụ y khoa 77,1 triệu cái, tăng 26,8%...
Nhóm sản phẩm tăng dưới 10% hoặc giảm so 9 tháng 2016 là: sắt thép các loại đạt trên 1,05 triệu tấn, tăng 4,5%, đạt 95,4% kế hoạch; đồng tinh quặng (Cu>20%) đạt 30,6 nghìn tấn, tăng 5,7%, bằng 65,2% kế hoạch; gạch xây dựng đạt 52,9 triệu viên, tăng 6,9%, bằng 27,1% kế hoạch; than khai thác 882,7 nghìn tấn, giảm 4,2% so với cùng kỳ và bằng 76,8% kế hoạch; xi măng đạt 1,4 triệu tấn, giảm 9,5% cùng kỳ và bằng 53,3% kế hoạch; điện sản xuất đạt 987 triệu Kwh, giảm 16,8% và bằng 58,1% kế hoạch.
III. Doanh nghiệp, Đầu tư và xây dựng
1. Doanh nghiệp
Theo kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2017, tổng số doanh nghiệp trên toàn tỉnh thực tế đang hoạt động là 3.062 doanh nghiệp; trong đó, doanh nghiệp thực tế đang sản xuất kinh doanh là 2.754 doanh nghiệp và 305 doanh nghiệp đang trong quá trình đầu tư chưa đi vào sản xuất kinh doanh.
Quy mô nguồn vốn của các doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh ,tính đến đến thời điểm 01/01/2017 là 306,5 nghìn tỷ đồng, tăng 11,1% so với năm trước. Trong đó, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng 61% tổng vốn; tiếp đến là khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước chiếm tỷ trọng 31,4% và khu vực doanh nghiệp Nhà nước chiếm tỷ trọng thấp nhất với 7,6%. Quy mô nguồn vốn bình quân/1 doanh nghiệp 111,3 tỷ đồng, giảm 12,1% (tương ứng giảm 13,7 tỷ đồng)  so cùng kỳ, trong đó doanh nghiệp trong nước là 44,7 tỷ đồng/doanh nghiệp (giảm 8,8 tỷ đồng/1 doanh nghiệp), doanh nghiệp FDI là 2.396 tỷ đồng/doanh nghiệp (giảm 594 tỷ đồng/doanh nghiệp).
Trong tổng nguồn vốn, nguồn vốn chủ sở hữu chiếm 47,6%, trong đó doanh nghiệp FDI vốn chủ sở hữu chiếm 60,8%; còn lại là nguồn vốn vay và tín dụng.
Về hiệu quả doanh nghiệp: Tổng hợp theo báo cáo tài chính của Doanh nghiệp cả năm 2016 có 57,3% số doanh nghiệp có lãi; 41,5% doanh nghiệp lỗ và 1,2% doanh nghiệp không lãi không lỗ.
Sự chuyển dịch lao động từ các doanh nghiệp trong nước sang các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang có xu hướng giảm. Tổng số lao động đang làm việc tính đến thời điểm 01/01/2017 trong khối doanh nghiệp là 194,1 nghìn người, trong đó, số lao động thuộc khu vực kinh tế trong nước là 95,1 nghìn người, tăng 18,3% so với năm trước và lao động khu vực FDI là 99 nghìn người, tăng 6,9% so cùng kỳ. Trong đó, lao động nữ trong các doanh nghiệp chiếm 58,7% tổng số (doanh nghiệp vốn trong nước lao động nữ chiếm 57%, doanh nghiệp FDI có số lao động nữ chiếm 76,2%). Số lượng lao động bình quân trong một doanh nghiệp năm 2016 là 70 người, giảm 12,5% so với năm trước .
Thu nhập bình quân 1 lao động/1 tháng trong năm 2016 là 9,3 triệu đồng, trong đó thu nhập bình quân/1lao động của doanh nghiệp trong nước là 6,2 triệu đồng/tháng và doanh nghiệp FDI là 12,2 triệu đồng/tháng. Thu nhập của người lao động làm việc trong khu vực Hợp tác xã đạt thấp nhất với 3,8 triệu đồng/người/tháng. So với năm 2015, thu thập bình quân 1 lao động/tháng của năm 2016 cao hơn 1,6 triệu đồng/lao động/tháng (năm 2015 là 7,7 triệu đồng/tháng).
* Tình hình cấp giấy chứng nhận đầu tư và đăng ký doanh nghiệp
Tính lũy kế từ đầu năm đến hết ngày 10/9 năm 2017 ngành chức năng đã đã cấp mới đăng ký kinh doanh cho 540 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 3.776,7 tỷ đồng.
Lũy kế 8 tháng đầu năm 2017 cấp điều chỉnh thay đổi đăng ký kinh doanh cho 521 doanh nghiệp, cấp thành lập đơn vị trực thuộc 134 đơn vị, làm thủ tục tạm ngừng hoạt động 117 doanh nghiệp, giải thể 51 doanh nghiệp.  
2. Vốn đầu tư
Tổng vốn đầu tư trên địa bàn 9 tháng 2017 ước đạt 38,1 nghìn tỷ đồng, tương đương so với cùng kỳ, trong đó vốn đầu tư khu vực FDI là 22,1 nghìn tỷ đồng (chiếm 58% tổng mức đầu tư trên địa bàn), giảm 4,4% so với cùng kỳ; vốn đầu tư của khu vực kinh tế trong nước đạt trên 16 nghìn tỷ đồng, tăng 6,6% so với cùng kỳ, trong đó vốn do nhà nước quản lý ước đạt 2,8 nghìn tỷ đồng, giảm 5,8%, vốn ngoài nhà nước đạt 13,1 nghìn tỷ đồng, tăng 10,5% cùng kỳ.
Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài: Tính lũy kế đến hết ngày 10/9/2017, trên địa bàn có 10 dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, tổng vốn đăng ký 6,86 triệu USD. Trong đó, có 08 dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo với tổng vốn đầu tư đăng ký 6,66 triệu USD, 02 dự án thuộc lĩnh vực dịch vụ với tổng vốn đầu tư đăng ký 0,2 triệu USD. So với 9 tháng đầu năm 2016, số dự án FDI được cấp phép mới giảm 12 và vốn đăng ký giảm 119,3 triệu USD. Lũy kế đến nay, trên địa bàn tỉnh hiện có 124 dự án FDI còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký trên 7,2 tỷ USD (tương đương khoảng 162 nghìn tỷ đồng), vốn giải ngân khoảng 6,6 tỷ USD.
3. Xây dựng
Giá trị sản xuất xây dựng 9 tháng đầu năm 2017 trên địa bàn ước đạt 12,6 nghìn tỷ đồng, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, các đơn vị xây dựng trong nước thực hiện 11,9 nghìn tỷ đồng (chiếm 94,4% tổng số), tăng 15,7% so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài đạt 691 tỷ đồng, tăng 0,1% so với cùng kỳ.
IV. Thương mại, giá cả, dịch vụ
1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng 9 đầu năm 2017 ước đạt 2.328,5 tỷ đồng, tăng 2,8% so tháng trước, tăng 10,7% so cùng kỳ. Trong đó, khu vực nhà nước có tổng mức bán lẻ ước đạt 158,9 tỷ đồng tăng 2,2% so tháng trước và tăng 6,4% so cùng kỳ; khu vực ngoài nhà nước ước đạt 2.161,5 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 92,8%), tăng 2,8% so tháng trước và tăng 11% so cùng kỳ; còn lại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 8,1 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng rất nhỏ và hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ), tăng 3,7% so với tháng trước và tăng 9% so cùng kỳ năm trước.
Tính chung 9 tháng đầu năm 2017, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước đạt 20.298,5 tỷ đồng tăng 9,6% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 1.401,2 tỷ đồng, tăng 4,2% so cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước 18.824 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 92,7%), tăng 10% so cùng kỳ (riêng khối cá thể bán lẻ ước đạt 11.934 tỷ đồng, chiếm 63,4% thị phần bán lẻ trên địa bàn, tăng 10,7% cùng kỳ); khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 73,1 tỷ đồng, tăng 8,1% so cùng kỳ.
Trong tổng mức bán lẻ, ngành thương nghiệp đạt 16.483 tỷ đồng (chiếm 81,2%) tăng 10% so cùng kỳ năm trước; ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.734 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 8,5%), tăng 7,8% so với cùng kỳ; ngành du lịch lữ hành  41,7 tỷ đồng, tăng 8,7% cùng kỳ; nhóm các ngành dịch vụ tiêu dùng doanh thu đạt 2.040 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước.
Trong cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hóa 9 tháng năm 2017, nhóm hàng  lương thực, thực phẩm bán lẻ đạt 5,2 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 31,7%, tăng 11,8% so với cùng kỳ; tiếp đến nhóm xăng dầu các loại đạt 2 nghìn tỷ đồng, tăng 4,8% so với cùng kỳ; nhóm ô tô các loại ước đạt 1,7 nghìn tỷ đồng, tăng 9% so với cùng kỳ; nhóm đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 1,7 nghìn tỷ đồng, tăng 11,7% so với cùng kỳ; nhóm hàng may mặc doanh thu ước đạt 1,3 nghìn tỷ đồng, tăng 13,2% so với cùng kỳ, (do nhu cầu mua sắm chuẩn bị cho ngày tựu trường của học sinh, sinh viên); nhóm phương tiện đi lại (trừ ô tô) đạt 1,2 nghìn tỷ đồng, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước.
2. Xuất, nhập khẩu
a. Xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu trên địa bàn vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao. Tổng trị giá hàng hóa xuất khẩu tháng 9/2017 ước đạt 1,9 tỷ USD, tăng 4,4% so tháng trước, tăng 7% so với cùng kỳ, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu ước đạt 37 triệu USD, tăng 32,2% cùng kỳ (do xuất khẩu sản phẩm may xuất khẩu gấp 2,1 lần); khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu ước đạt 1.872 triệu USD (chiếm 98,1% tổng số), tăng 4,5% tháng trước và tăng 6,6% cùng kỳ.
 Mặt hàng đóng góp lớn vào giá trị xuất khẩu trên địa bàn là nhóm sản phẩm điện tử viễn thông, xuất khẩu tháng 9/2017 ước đạt 1,85 tỷ USD, tăng 6,4% cùng kỳ (trong đó, điện thoại thông minh xuất khẩu 8,2 triệu sản phẩm tương ứng với giá trị 1,5 tỷ USD, tăng 4,5% về lượng, tăng 18,8% về giá trị; máy tính bảng đạt 1,8 triệu sản phẩm tương ứng với giá trị 0,26 tỷ USD); kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 18,8 triệu USD, tăng 26,3%; sản phẩm may xuất khẩu ước đạt 30,1 triệu USD, tăng 39,2%... Mặt hàng xuất khẩu tháng 9/2017 ước tính giảm là chè các loại, giảm 14,6% về lượng và giảm 34% về giá trị; sản phẩm từ sắt thép giảm 31,8% cùng kỳ...
Tính chung 9 tháng đầu năm 2017, tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn ước đạt 17,4 tỷ USD, bằng 82,9% kế hoạch cả năm và tăng 24,7% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu do địa phương quản lý ước đạt 232,7 triệu USD, bằng 72,7% kế hoạch và tăng 19,7% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu ước đạt 17,2 tỷ USD, tăng 24,8% so với cùng kỳ và bằng 83% kế hoạch cả năm.
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trong 9 tháng đầu năm 2017 tăng cao so với cùng kỳ là các sản phẩm điện tử đạt 85,4 triệu sản phẩm tương ứng giá trị đạt 14,4 tỷ USD, tăng 9,1% về lượng và tăng 25,4% về giá trị, bằng 83,5% kế hoạch (trong đó, điện thoại thông minh đạt 12,3 tỷ USD, tăng 29,4% cùng kỳ; máy tính bảng đạt 2,1 triệu USD, tăng 6,5% cùng kỳ). Linh kiện điện tử và phụ tùng khác đạt 2,5 tỷ USD, tăng 20,7% cùng kỳ và bằng 79,8% kế hoạch; sản phẩm may đạt 185,3 triệu USD, tăng 8,8% so với cùng kỳ; kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 161,1 triệu USD, tăng 45,4% và vượt kế hoạch cả năm; sản phẩm từ sắt thép 38,8 triệu USD, tăng 6,1%... Mặt hàng xuất khẩu giảm là chè các loại, ước đạt 2,1 nghìn tấn với giá trị xuất khẩu 3,8 triệu USD, giảm 15,5% về lượng và giảm 20% về giá trị; phụ tùng vận tải 2,5 triệu USD, giảm 27,2%...
Giá trị xuất khẩu trên địa bàn trong 9 tháng đầu năm 2017 toàn bộ là xuất khẩu theo hình thức trực tiếp. Thị trường xuất khẩu lớn nhất là Châu Á, chiếm tỷ trọng 38,4% tổng số và thị trường xuất khẩu lớn thứ hai là Châu Âu chiếm tỷ trọng 31,6% tổng giá trị xuất khẩu. Trên thị trường Châu Á, hàng hóa xuất khẩu tập trung chủ yếu ở khu vực Tây Á và khu vực Đông Á: Hàn Quốc đạt 1,6 tỷ USD (bằng 9% tổng giá trị xuất khẩu), Các tiểu vương quốc Ả - rập Thống Nhất đạt 1,4 tỷ USD, các nước Đông Nam á: 1,7 tỷ USD; Nhật Bản 343 triệu USD. Trên thị trường Châu Âu, hàng hóa xuất khẩu tập trung chủ yếu ở khu vực Tây Âu và Đông Âu như: Slô-va-ki-a khoảng 1,3 tỷ USD; Đức đạt 843 triệu USD. Ngoài ra, Châu Mỹ chiếm 20,8% tổng giá trị xuất khẩu, trong đó nước Mỹ chiếm chủ yếu với 1,8 tỷ USD.
b. Nhập khẩu
Giá trị nhập khẩu trên địa bàn tháng 9 năm 2017 ước đạt 1,1 tỷ USD, tăng 3,6% so với tháng trước, tăng 13,6% so với cùng kỳ. Trong đó, linh kiện điện tử 1 tỷ USD, tăng 18,5%; vải các loại và phụ kiện may mặc đạt 9,7 triệu USD, tăng 64,1%; Nguyên liệu CB thức ăn gia súc 3,8 triệu USD, tăng 45%. Riêng mặt hàng sắt thép và thép phế liệu trong tháng 8 và tháng 9/2017 không phát sinh nhập khẩu..
Tính chung 9 tháng đầu năm 2017, giá trị nhập khẩu trên địa bàn ước đạt 10,5 tỷ USD, tăng 20,4% so với cùng kỳ; trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 153 triệu USD (chiếm 1,5% tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn), giảm 35% so với cùng kỳ (chủ yếu giảm ở nhóm nguyên liệu giấy, sắt thép và thép phế liệu); khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 10,4 tỷ USD, tăng 22% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 98,5% tổng giá trị nhập khẩu.
Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tính chung 9 tháng 2017 tăng trên 20% so  cùng kỳ là: nguyên liệu và linh kiện điện tử ước đạt 10,1 tỷ USD, tăng 29,8%; vải các loại đạt 82,8 triệu USD, tăng 22,1%. Có 3 mặt hàng giá trị nhập khẩu gấp hơn 2 lần so với cùng kỳ là: thức ăn gia súc và nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 56,9 triệu USD, gấp 2,3 lần; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 38,7 triệu USD, gấp 5,6 lần; sản phẩm từ sắt thép đạt 46 triệu USD, gấp 6,9 lần... Nhóm mặt hàng nhập khẩu giảm so với cùng kỳ là: máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 93,9 triệu USD, bằng 14,5% cùng kỳ; phế liệu sắt thép và sắt thép các loại nhập khẩu 6,3 triệu USD, giảm 90%; giấy các loại 2,6 triệu USD, giảm 61,8%...
Nguồn nguyên, vật liệu và hàng hóa nhập khẩu trên địa bàn trong 9 tháng 2017 toàn bộ được nhập khẩu theo hình thức trực tiếp và chủ yếu nhập khẩu từ thị trường Châu Á với 10,1 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 95,5% tổng số); trong đó tập trung chủ yếu ở các nước là Hàn Quốc đạt 4,2 tỷ USD, Trung Quốc với 4,1 tỷ USD, Nhật Bản 531 triệu USD.
3. Giá tiêu dùng
Do học phí một số trường trên địa bàn tăng và giá xăng, dầu tăng nên ảnh hưởng đến chỉ số giá tháng 9/2017. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2017 tăng 0,27% so với tháng trước, tương đương so với tháng 12/2016 và giảm 0,33% so với cùng kỳ. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng 2017 trên địa bàn tăng 3,1% so với bình quân 9 tháng năm 2016.
Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu tính chỉ số giá thì có 4 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, 3 nhóm hàng có chỉ số giảm và 4 nhóm hàng tương đương với tháng trước. Nhóm có chỉ số tăng là: nhóm giáo dục tăng 2,79% (do giá văn phòng phẩm tăng 1,02%; giá dịch vụ giáo dục tăng 3,19%); nhóm giao thông tăng 1,17% (giá xăng, dầu diezen tăng 3,61%; giá phương tiện đi lại giảm 0,49%; giá dịch vụ giao thông công cộng giảm 0,18%); nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt  và vật liệu xây dựng tăng 0,70% (giá gas tăng 4,21%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở giảm 1,44%); nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,05% (giá đồ dùng cá nhân tăng 0,26%). Các nhóm hàng hóa và dịch vụ là: nhóm đồ uống và thuốc lá, nhóm thuốc và dịch vụ y tế, nhóm bưu chính viễn thông, nhóm văn, hóa giải trí và du lịch là có chỉ số giá tiêu dùng tương đương so với tháng trước. Nhóm có chỉ số giá giảm là: nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,02% (giá chiếu, ga trải giường giảm 1%); nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,06% (giá quần áo may sẵn giảm 0,09%); nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống chỉ số giá giảm 0,24% (do giá lương thực tăng 0,48%, giá thực phẩm giảm 0,41% chủ yếu do giá trứng và thủy sản tươi sống giảm).
So với cùng kỳ chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2017 giảm 0,33%. Có 2/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm là: nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,68% và nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 4,64%. Còn lại các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác đều có chỉ số giá tăng; trong đó, tăng cao nhất là nhóm giao thông tăng 5,16% ; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,57%; nhóm giáo dục tăng 3,06%. Còn lại các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác có chỉ số giá tăng dao động trong khoảng 0,16% đến 1,76%.
So với tháng 12/2016, chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2017 tương đương nhau. Trong đó tăng cao nhất là nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,33%; nhóm giáo dục tăng 3,06%; nhóm giao thông tăng 2,45%. Các nhóm tăng trong khoảng 0,11% đến 1,86% là: nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình, nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép, nhóm đồ uống và thuốc lá, nhóm thuốc và dịch vụ y tế, nhóm văn hóa, giải trí và du lịch, nhóm hàng hóa và dịch vụ khác. Còn lại 2 nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,46% và nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống có chỉ số giá giảm 2,88% so với tháng 12/2016 (trong đó nhóm lương thực tăng 1,31%;  nhóm thực phẩm giảm 4,1%; nhóm dịch vụ tiêu dùng tăng 1,56%).
* Chỉ số giá vàng: giá vàng tháng 9/2017 tăng 3,64% so với tháng trước, tăng 1,90% so với tháng 9/2016 và tăng 9,04% so với tháng 12/2016. Chỉ số giá vàng bình quân 9 tháng năm 2017 tăng 3,97% so với cùng kỳ.
* Chỉ số giá Đô la Mỹ: Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 9/2017 tăng 0,04% so với tháng trước, tăng 1,95% so với cùng kỳ và so với tháng 12/2016 tăng 0,20%. Chỉ số giá Đô la Mỹ 9 tháng năm 2017 tăng 1,72% so với cùng kỳ.
4. Vận tải
Hoạt động vận tải hành khách và vận tải hàng hóa trên địa bàn vẫn duy trì ổn định, đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đi lại của nhân dân.
Vận tải hành khách: Số lượng hành khách vận chuyển tháng 9/2017 ước đạt 1,02 triệu lượt khách với lượng khách luân chuyển là 60 triệu lượt khách.km, so với tháng trước tăng 4,4% về số lượng hành khách vận chuyển và số hành khách luân chuyển, so với cùng kỳ tăng 6,2% về số lượng hành khách vận chuyển và tăng 7,0% về số hành khách luân chuyển. Tính chung 9 tháng đầu năm 2017, số hành khách vận chuyển ước đạt 9,7 triệu lượt khách với 570 triệu lượt khách.km, so với cùng kỳ tăng 8,1% về số khách vận chuyển và tăng 7,4% về số hành khách luân chuyển.
Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 9/2017 ước đạt 2,5 triệu tấn với khảng 104 triệu tấn.km; so với tháng trước tăng 5,9% về số hàng hóa vận chuyển và  số lượng hàng hóa luân chuyển, so với cùng kỳ tăng 6,7% số hàng hóa vận chuyển và tăng 8,7% số hàng hóa luân chuyển. Tính chung 9 tháng đầu năm 2017, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 23,4 triệu tấn với khối lượng luân chuyển 948 triệu tấn.km; so với cùng kỳ tăng  trên 6,5% về khối lượng vận chuyển và tăng 7,2% khối lượng hàng hóa luân chuyển.
Doanh thu vận tải trên địa bàn tháng 9/2017 ước đạt 250,6 tỷ đồng, tăng 5,8% so với tháng trước và tăng 8,1% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 40,6 tỷ đồng, tăng 4,4% so với tháng trước và tăng 6,3% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 210 tỷ đồng, tăng 6,1% so với tháng trước và tăng 8,5% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng đầu năm 2017, tổng doanh thu vận tải trên địa bàn ước đạt 2.343 tỷ đồng, tăng 6,3% so với cùng kỳ (trong đó, doanh thu vận tải hành khách tăng 7,1% và doanh thu vận tải hàng hóa tăng 6,1%).
V. Thu, chi ngân sách và hoạt động tín dụng
1. Thu ngân sách
Tổng thu trong cân đối ngân sách nhà nước ước 8 tháng năm 2017 đạt 8,4 nghìn tỷ đồng, tăng 34,8% so với cùng kỳ và bằng 93,3% dự toán cả năm. Trong đó, thu nội địa đạt 6,7 nghìn tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 79,9%), tăng 38% so với cùng kỳ và bằng 99,4% so với dự toán; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 1,7 nghìn tỷ đồng, tăng 23,2% so với cùng kỳ và bằng 75% dự toán.
Trong thu nội địa, nhìn chung các khoản thu đều tăng cao so với cùng kỳ. Cụ thể có 13/16 khoản thu đạt tăng cao so với cùng kỳ, trong đó khoản thu lớn nhất và tăng cao nhất là thu tiền cấp quyền sử dụng đất đạt 1,5 nghìn tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 22%), gấp 3 lần so với cùng kỳ và bằng 227,3% dự toán; tiếp đến là thu từ khu vực dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 1,3 nghìn tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 19,4%), tăng 54,1% và vượt 4,8% dự toán; thu thuê đất đạt 267 tỷ đồng, gấp 2,1 lần so với cùng kỳ và bằng 85,3% dự toán; thuế thu nhập cá nhân đạt 732,8 tỷ đồng, tăng 45% so với cùng kỳ và bằng 91,6% dự toán cả năm… có 2/16 khoản thu đạt thấp hơn so với cùng kỳ kỳ đó là: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1,4 nghìn tỷ đồng, giảm 3,6% so với cùng kỳ và bằng 86,2% dự toán; thu lệ phí, trước bạ đạt 205 tỷ đồng, giảm 11,7% so với cùng kỳ và bằng 58,6% dự toán cả năm.
Dự ước 9 tháng 2017 thu trong cân đối đạt 9.010 tỷ đồng và hoàn thành, về trước kế hoạch trước 3 tháng.
2. Chi ngân sách
Tổng chi ngân sách địa phương 8 tháng đầu năm 2017 đạt 6,2 nghìn tỷ đồng, tăng 26,2% so với cùng kỳ và bằng 60,4% dự toán cả năm. Trong đó, chi cân đối ngân sách địa phương đạt 5,6 nghìn tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 90,3%), tăng 21,2% cùng kỳ và bằng 59,6% dự toán. Trong chi cân đối ngân sách địa phương, chi đầu tư phát triển đạt 1,3 nghìn tỷ đồng, tăng 35,6% so với cùng kỳ năm trước và bằng 78,7% dự toán, (trong đó chi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng 642,3 tỷ đồng, gấp 2 lần so với cùng kỳ và bằng 87,7% dự toán; chi xây dựng cơ bản tập trung 636,5 tỷ đồng tăng 9,9% so cùng kỳ và bằng 97,9% so với dự toán cả năm; chi thường xuyên 4,3 nghìn tỷ đồng chiếm 76,7% trong chi cân đối ngân sách, tăng 17,4% so với cùng kỳ và bằng  61,2% dự toán. Chi chương trình mục tiêu quốc gia đạt 603,6 tỷ đồng, gấp 2 lần so với cùng kỳ và bằng 69,3% dự toán.
 Chi thường xuyên, nhìn chung đã đáp ứng được các yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị và phát triển sự nghiệp y tế, giáo dục, văn hóa thể thao của địa phương. Hầu hết các khoản chi đều tăng so với cùng kỳ. Tuy nhiên trong các khoản chi ngân sách 8 tháng 2017 có 2/11 khoản chi đạt thấp so với dự toán như: chi sự nghiệp phát thanh truyền hình đạt 29,4 tỷ đồng, giảm 8,1% so cùng kỳ và bằng 47,2% dự toán; chi sự nghiệp bảo vệ môi trường 143,8 tỷ đồng, gấp 3,3 lần cùng kỳ nhưng mới đạt 47% dự toán cả năm.
3. Hoạt động tín dụng
Nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng đến đến 31/8/2017 đạt 44.050 tỷ đồng, tăng 13,81% so với 31/12/2016.
Dư nợ của các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài trên địa bàn tỉnh đến 31/8/2017 đạt 43.100 tỷ đồng, tăng 9,3% so với 31/12/2016. Nợ xấu là 484 tỷ đồng chiếm 1,13%/tổng dư nợ.
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Công tác giảm nghèo, bảo trợ xã hội và thực hiện chính sách người có công
- Công tác hỗ trợ nghèo và đối tượng bảo trợ xã hội: Ngành chức năng thành lập Tổ công tác liên ngành kiểm tra, đôn đốc, giám sát tiến độ thực hiện công tác hỗ trợ hoặc xây mới về nhà ở cho hộ nghèo có thành viên là đảng viên từ 50 năm tuổi Đảng trở lên có khó khăn về nhà ở trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; Tính đến ngày 15/9/2017, trong tổng số 35 hộ nghèo thuộc đối tượng hỗ trợ: có 33 hộ đã hoàn thành xong sửa chữa, xây mới; 01 hộ đang tiến hành thi công và 01 hộ xin dừng hỗ trợ.
Để tạo điều kiện cho người lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo có thu nhập ổn định, từng bước giúp hộ thoát nghèo, tính đến tháng hết tháng 6/2017 toàn tỉnh có 5.445 người (thuộc hộ nghèo là 2.466 người, hộ cận nghèo là 2.979 người) vào làm việc tại Công ty TNHH Sam sung Thái Nguyên và các doanh nghiệp phụ trợ của Sam sung, trong đó có 4.366 người lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo có thu nhập tăng hơn so với trước khi đi làm, chiếm 80,2% tổng số người lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo đang làm việc tại Công ty TNHH Sam sung Thái Nguyên và các công ty phụ trợ.
 Công tác thực hiện cấp thẻ bảo hiểm y tế cho các đối tượng là người nghèo, người thuộc hộ cận nghèo, người dân tộc thiểu số năm 2017: Dự kiến cấp tổng số 362.500 thẻ trong đó 43.000 người thuộc hộ nghèo, 41.300 người thuộc hộ cận nghèo, 231.500 người dân tộc thiểu số sống ở vùng khó khăn, 46.700 người sinh sống ở địa bàn đặc biệt khó khăn.
Cơ quan chức năng phối hợp với VTV24 tổ chức Chương trình truyền hình trực tiếp “Cặp lá yêu thương”; với Trung tâm truyền hình Báo nhân dân về “Chương trình thắp sáng niềm tin”; với các sở, ngành, các địa phương về ngày Công tác xã hội Việt Nam lần thứ nhất (25/3/2017), ngày khuyết tật Việt Nam (18/4/2017), ngày truyền thống người cao tuổi Việt Nam (6/6/2017) tại tỉnh Thái Nguyên, nhằm tuyên truyền và huy động các nguồn lực của các tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động chăm lo, trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo trên địa bàn tỉnh. Phối hợp với các các địa phương và tổ chức, cá nhân thăm tặng quà, cứu trợ xã hội các hộ có nguy cơ thiếu đói giáp hạt Tết nguyên đán Đinh Dậu năm 2017 với tổng số tiền trị giá 9.196 triệu đồng (cứu trợ đột xuất 4.328 hộ, 11.021 khẩu với kinh phí 1.598,4 triệu đồng, tặng 21.736 suất quà trị giá 7.597,6 triệu đồng). Thực hiện trợ cấp thường xuyên cho 35.974 đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng; tổ chức các hoạt động đón xuân vui tươi, lành mạnh, an toàn và tiết kiệm trong dịp tết nguyên đán.
- Thực hiện chính sách Người có công: Công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng được thông qua các Báo, Tạp chí của ngành, phương tiện thông tin đại chúng.
Ngành chức năng phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức thành công Chương trình Cầu truyền hình (trực tiếp trên VTV1) “Dáng đứng Việt Nam”. Các hoạt động tại điểm cầu Thái Nguyên diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi, an toàn, trang trọng với trên 10.000 người dân tham gia. Cũng trong dịp này Di tích lịch sử quốc gia 27/7 đã đón nhận trên 500 đoàn với 3.500 lượt khách đến dâng hương cùng nhiều hoạt động ý nghĩa tri ân các anh hùng Liệt sĩ.
Một số hoạt động, sự kiện văn hóa kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ được các sở, ban, ngành, địa phương tổ chức thu hút sự quan tâm, tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh của tỉnh tổ chức chương trình giao lưu nghệ thuật “Mầu hoa đỏ” được đông đảo các cấp bộ đoàn tham gia. Tổ chức Lễ Cầu siêu tại nghĩa trang liệt sĩ Dốc Lim, tổ chức chương trình thắp nến tri ân các Anh hùng liệt sĩ vào 20 giờ ngày 25/7/2017 tại các nghĩa trang liệt sĩ, đài tưởng niệm liệt sĩ trên địa bàn toàn tỉnh.
Tổ chức đoàn đại biểu của Tỉnh viếng, dâng hương tại Nghĩa trang liệt sĩ Thái Nguyên- Bắc Kạn thuộc nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn tỉnh Quảng trị; dâng hương tại Đài tưởng niệm, nghĩa trang liệt sĩ của tỉnh. Tổ chức thăm, tặng quà 5 trung tâm điều dưỡng người có công ở tỉnh ngoài và 01 trung tâm trong tỉnh. Thăm, tặng quà nhân dịp tết Nguyên đán Đinh dậu là 47.696 xuất  trị giá 11.089,7 triệu đồng; Nhân dịp 27/7 đã tổ chức trao tặng 68.422 suất quà với tổng trị giá trên 23.246,4 triệu đồng tới các thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng.
2. Lao động, việc làm
- Giải quyết việc làm: Ngành chức năng và các đơn vị triển khai hoạt động hỗ trợ việc làm cho người lao động, bằng hình thức tổ chức Ngày hội việc làm Xuân Đinh Dậu năm 2017, tham gia ngày hội có 31 đơn vị, doanh nghiệp và các trường nghề trong và ngoài tỉnh; với nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp là hơn 23 ngàn người. Trong ngày hội đã diễn ra các hoạt động tư vấn giới thiệu việc làm, tư vấn học nghề, tuyên truyền chính sách pháp luật về lao động, việc làm, dạy nghề, bảo hộ tai nạn… Kết quả thu hút được sự tham gia của hơn 2.000 lượt người lao động. Hướng dẫn 34 lao động làm các thủ tục đi làm việc tại Hàn Quốc theo Chương trình EPS theo công văn của Trung tâm Lao động ngoài nước.
Trong 9 tháng đầu năm 2017 toàn tỉnh có 412 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trong đó nữ là 203 người, bộ đội xuất ngũ là 51 người, đối tượng chính sách là 28 người và đối tượng là người dân tộc thiểu số là 36 người.
Ngành chức năng cho phép 75 doanh nghiệp được sử dụng lao động là người nước ngoài, trong đó có 08 đơn vị đề nghị thay đổi nhu cầu; Cấp giấy phép lao động cho 135 người nước ngoài đang làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, trong đó cấp mới là 46 trường hợp và cấp lại là 89 trường hợp.
Triển khai, tổ chức thành công Lễ phát động hưởng ứng Tháng hành động về An toàn - vệ sinh lao động lần thứ 1 năm 2017 tỉnh Thái Nguyên; tại Lễ phát động đã khen thưởng cho 28 tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác an toàn - vệ sinh lao động năm 2016 (Bộ tặng Cờ cho 01 đơn vị, tặng Bằng khen cho 04 tập thể và 03 cá nhân; Cục An toàn lao động tặng Giấy khen cho 09 tập thể và 04 cá nhân; Ủy ban nhân dân tỉnh tặng Bằng khen cho 04 tập thể và 03 cá nhân). Tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho 05 đối tượng gồm thân nhân của 03 gia đình có người chết vì tai nạn lao động, 01 người bị tai nạn lao động nặng và 01 người bị bệnh nghề nghiệp, mỗi xuất quà trị giá 1,2 triệu đồng nhân Tháng hành động về An toàn vệ sinh lao động lần thứ nhất. 
- Công tác dạy nghề: Công tác tuyển sinh 9 tháng đầu năm 2017 ước đạt 28,3 nghìn người trong đó trình độ cao đẳng là 3,4 nghìn người, trình độ trung cấp 3,3 nghìn người, trình độ sơ cấp 8,8 nghìn người, đào tạo thường xuyên 12,8 nghìn người.
3. Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em
Ngành chức năng phối hợp với Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em tổ chức hội nghị thăm dò ý kiến trẻ em xây dựng Nghị định hướng dẫn thi hành Luật trẻ em năm 2017 tại 02 trường trung học cơ sở của Thành phố Thái Nguyên.
Tổ chức các lớp tập huấn về thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em cho cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở cơ sở và các đối tượng là cha mẹ, người chăm sóc trẻ.
Tổ chức lễ phát động Tháng hành động vì trẻ em năm 2017 với chủ đề “Triển khai Luật trẻ em và phòng chống xâm hại trẻ em”. Trao học bổng cấp tỉnh cho 120 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, mỗi suất trị giá 800.000 đồng. Phối hợp với tổ chức SAP-VN tổ chức chương trình khám sàng lọc cho 309 trẻ em khuyết tật hệ vận động trên địa bàn toàn tỉnh, có 50 trẻ trong chỉ định phẫu thuật; tổ chức chương trình khám sàng lọc cho 753 trẻ em nghi mắc bệnh tim bẩm sinh, phát hiện 53 trường hợp mắc, trong đó có 38 ca trong chỉ định phẫu thuật; tổ chức đưa 30 trẻ em bị sứt môi - hở hàm ếch đi khám và phẫu thuật tại Bệnh viện Việt Nam - Cu ba, kết quả có 17 trẻ trong chỉ định phẫu thuật...
4. Giáo dục, đào tạo
- Khai giảng năm học mới: 100% các trường trên địa bàn tỉnh đã tổ chức khai giảng theo đúng quy định ngày 05/9/2017. Lễ khai giảng năm học mới 2017-2018 được tổ chức một cách nghiêm túc, thiết thực, trang trọng tạo không khí vui tươi, phấn khởi cho cán bộ, giáo viên và học sinh bước vào năm học mới.
Ngành chức năng tổng kết nhiệm vụ năm học 2016-2017 và triển khai nhiệm vụ năm học 2017-2018, đối với từng cấp học ngay từ đầu năm học mới. Ngành  chức năng đã bố trí đủ giáo viên cho các cấp học, ngành học theo quy định. Ngành chức năng đã tổ chức bồi dưỡng thường xuyên cho cán bộ quản lý và giáo viên cốt cán trong toàn ngành ở các cấp học để chuẩn bị cho năm học mới.
 Mạng lưới trường lớp của các cấp, bậc học tiếp tục được phát triển, đáp ứng nhu cầu học tập của con em các dân tộc trên địa bàn tỉnh. Năm học 2017-2018, trên địa bàn tỉnh có 678 trường mầm non và trường phổ thông (có 661 trường công lập và 17 trường ngoài công lập), tăng 02 trường ngoài công lập so với  cùng kỳ năm 2016. Trong đó trường mầm non có 229 trường (công lập 215, ngoài công lập 14); trường tiểu học có 228 trường; trường trung học cơ sở 189 trường; trường trung học phổ thông 32 trường (31 trường địa phương quản lý và 1 trường nội trú do trung ương quản lý).
Tổng hợp sơ bộ số lượng học sinh đầu năm học 2017-2018 do địa phương quản lý:
- Ngành học mầm non: Mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh ổn định và phát triển. Nhà trẻ: 14.560 cháu (công lập 10.920; ngoài công lập 3.640 cháu). Mẫu giáo với  71.156  cháu (công lập 67.238; ngoài công lập 3.918).
- Cấp phổ thông: Tiểu học có 103,3 nghìn học sinh, trong đó  tuyển mới vào lớp 1 là  22 nghìn học sinh, tăng 5,3% so với cùng kỳ. Trung học cơ sở có  65 nghìn học sinh, trong đó tuyển mới vào lớp 6 là 16,6 nghìn học sinh tương đương năm học trước. Trung học phổ thông có 35 nghìn học sinh, trong đó tuyển mới vào lớp 10 là gần 12,2 nghìn học sinh và tăng 1,7% so cùng kỳ.
Hệ giáo dục thường xuyên trung học phổ thông có 2.308 học sinh, trong đó tuyển mới vào lớp 10 là 1.093 học sinh, tăng 1,2% so cùng kỳ.     
* Công tác chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị năm học mới: 100% các nhà trường đã tu sửa và chuẩn bị đầy đủ điều kiện về cơ sở vật chất để bước vào năm học mới  2017-2018 theo đúng chỉ đạo của ngành.
Nguồn kinh phí để xây dựng mới và sửa chữa các phòng học bằng các nguồn Chương trình mục tiêu Quốc gia, Ngân sách chi thường xuyên, đóng góp của dân. Công tác cung ứng trang thiết bị và sách giáo khoa đảm bảo cung ứng cho giáo viên và học sinh đầy đủ, kịp thời bước vào năm mới.
Tính đến thời điểm tháng 15/8/2017, tổng số sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo, vở viết, SBT, thiết bị đồ dùng dạy học cho năm học mới là: 2.067 nghìn cuốn, với trị giá 18,7 tỷ đồng. Thiết bị, đồ dùng học tập được đưa đến các trường tiểu hoc, trung học cơ sở, trung học phổ thông trên địa bàn toàn tỉnh.
Công tác tuyển sinh cao đẳng, đại học năm học 2017-2018: Kế hoạch tuyển sinh 12.538 chỉ tiêu, số tuyển sinh mới là 7.425 chỉ tiêu bằng 59,2% kế hoạch. Trong đó trường Y dược có 737 chỉ tiêu tuyển được, đạt 80,3% kế hoạch; Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh tuyển được 1.115 chỉ tiêu, đạt 74,3% kế hoạch, các trường Đại học công nghiệp, Đại học nông lâm, Đại học sư phạm, Đại học Công nghệ thông tin tuyển được đạt khoảng 55%-65%;  trường Đại học Khoa học, trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật đạt dưới 55%.
* Thực hiện đề án xây dựng hệ thống trường đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 2016-2020, tính đến thời điểm 15/9/2017, toàn tỉnh có 535/678 trường đạt chuẩn quốc gia đạt tỷ lệ 78,9% vượt 2,9 điểm phần trăm so với kế hoạch (trong kế hoạch Đề án là 76%). Mầm non: 176/229 trường đạt tỷ lệ 76,85%; Tiểu học: 215/ 228 trường đạt tỷ lệ 94,3%; THCS: 128/189 trường đạt tỷ lệ: 67,72% ; THPT: 16/32 trường đạt tỷ lệ: 50%.                                                                                                                              
5. Y tế
- Công tác phòng chống dịch và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm: Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh không có dịch bệnh lớn xảy ra, tỷ lệ mắc một số bệnh truyền nhiễm giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Số ca mắc bệnh Quai bị: 469 ca, giảm hơn cùng kỳ 2016 (1670 ca); Bệnh Tay chân miệng: 59 ca, giảm so với cùng kỳ năm 2016 (279 ca); Số ca sốt phát ban dạng sởi/rubella giảm thấp. Tuy vậy số ca mắc Sốt xuất huyết 300 ca, tăng nhiều so với cùng kỳ năm 2016 (9 ca), cao điểm nhất là trong tháng 8/2017 với 176 ca, trong tháng 9 số ca mắc đã có xu hướng giảm.
 Đầu năm 2017, có 02 trường hợp tử vong do bệnh dại: 01 ca tại phường Trung Thành, thành phố Thái Nguyên và 01 ca tại xã Nam Tiến, thị xã Phổ Yên (cùng kỳ năm 2016 có 3 ca). Trong 9 tháng đầu năm, đã có 6.688 người phải tiêm vắc xin/huyết thanh để phòng và điều trị dự phòng bệnh dại.
- Công tác An toàn vệ sinh thực phẩm: Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm được các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh duy trì thường xuyên. Hoạt động thanh kiểm tra được thực hiện thường xuyên.
Trong 9 tháng đầu năm, phát hiện 02 vụ ngộ độc thực phẩm nhỏ, tổng số người mắc 32 người, không có trường hợp tử vong.
- Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình: Hoạt động truyền thông về công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình được quan tâm triển khai thường xuyên. Tính đến hết tháng 8 năm 2017 toàn tỉnh có 11.026 trẻ được sinh ra (tăng 521 trẻ so với 8 tháng đầu năm 2016), trong đó trẻ em nam là 5.906, trẻ em nữ là 5.120; số trẻ là con thứ 3 trở lên 806 (chiếm tỷ lệ là 7,3%) tăng 39 trẻ so cùng kỳ.
- Tình hình lây nhiễm HIV/AIDS: Công tác truyền thông, về phòng chống HIV/AIDS và các hoạt động can thiệp giảm tác hại cũng như hoạt động giám sát được ngành chức năng duy trì thường xuyên, duy trì các điểm điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone và điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con. Tính luỹ tích đến hết tháng 8/2017, tổng số người nhiễm HIV/AIDS toàn tỉnh là 9.621 người, chuyển sang giai đoạn AIDS 6.682 người và 3.393 người đã tử vong do HIV/AIDS.
 - Tiến độ thực hiện xã đạt chuẩn quốc gia về y tế: Theo tiêu chí Quốc gia về Y tế gắn với Chương trình xây dựng nông thôn mới năm 2017, tính đến tháng 9/2017, toàn tỉnh  có 159/180 xã đạt tiêu chí Quốc gia về Y tế (chiếm 88,3%). Trong đó, có 4 địa phương đạt 100% về số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế là huyện Đồng hỷ, huyện Phú bình, huyện Võ nhai, Thành phố Sông công; còn Thành phố Thái Nguyên có 26/27 xã; thị xã Phổ Yên đạt 16/18 xã; huyện Phú Lương  đạt 13/16 xã; huyện Định Hóa  đạt 12/24 xã; huyện Đại Từ  đạt 27/30 xã. 
6. Văn hóa, thể thao
Chín tháng đầu năm 2017 trên địa bàn tỉnh, các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao chào mừng các sự kiện chính trị, ngày lễ  kỷ niệm được tổ chức kịp thời, hiệu quả, sôi nổi, rộng khắp. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, luân chuyển sách phục vụ nhân dân đặc biệt là đồng bào vùng sâu, vùng xa, các đối tượng chính sách; công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá đạt được nhiều kết quả đáng kể.
Tham gia và đạt kết quả tốt các hoạt động văn hoá, thông tin tuyên truyền toàn quốc; phối hợp tổ chức thành công các giải thể thao cấp Quốc gia được tổ chức tại Thái Nguyên; tuyên truyền quảng bá giá trị di sản văn hoá phi vật thể, văn hoá Trà trên các phương tiện truyền thông Trung ương.
Hiện nay trên địa bàn có nhiều hoạt động thiết thực, ý nghĩa hướng tới chào mừng kỷ niệm 55 năm Ngày thành lập Thành phố Thái Nguyên (19/10/1962-19/10/2017) như: chỉnh trang đô thị, vỉa hè, cây xanh; tổ chức Cuộc thi viết “Tìm hiểu lịch sử, truyền thống cách mạng T.P Thái Nguyên 55 năm xây dựng và phát triển”; Liên hoan nghệ thuật quần chúng với chủ đề “Hát mừng thành phố Thái Nguyên”; tổ chức các giải thể thao, tổ chức các hội thi “báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi”...
Hoạt động chiếu phim: Thực hiện 799 buổi chiếu phim, trong đó có 29 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị, 770 buổi phục vụ các xã vùng khó khăn, đối tượng chính sách; phục vụ 51.500 lượt người xem.
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật: Tổ chức 109 buổi biểu diễn (28 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị; 81 buổi phục vụ  đối tượng chính sách và các xã đặc biệt khó khăn); tập huấn chuyên môn 02 đợt; dàn dựng 02 chương trình nghệ thuật, ca múa nhạc; phối hợp biểu diễn tại Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Bác Hồ về ATK Định Hoá -Thái Nguyên cùng Trung ương Đảng, Chính phủ lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, khai mạc Mùa du lịch.
Hoạt động bảo tàng: Tổ chức 04 triển lãm, phối hợp với các đơn vị (tổ chức Lễ hội “Hương sắc trà xuân-Vùng chè đặc sản Tân Cương”, chương trình “Cặp lá yêu thương”,“Mắt đêm” giới thiệu về văn hoá Trà. Sưu tầm 334 tài liệu, hiện vật, ảnh phục vụ trưng bày triển lãm; phục vụ 16.500 lượt khách tham quan (242 lượt khách nước ngoài). Phối hợp với Viện Khảo cổ, Trường Đại học Wollongong Australia tham gia khai quật khảo cổ học tại mái đá Ngườm (xã Thần Sa, huyện Võ Nhai). Phát hành sách “Bác Hồ với Thái Nguyên - Những sự kiện bằng hình ảnh”, kỷ yếu Hội thảo khoa học Thái Nguyên trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
Hoạt động thư viện: Cấp 1.038/1.000 thẻ (đạt 103,8% KH), phục vụ 31.714 lượt bạn đọc, luân chuyển 54.087 lượt sách báo. Huy động xã hội hoá được gần 2.000 bản sách phục vụ xây dựng Thư viện Chùa Hang-Kim Sơn Tự tại huyện Đồng Hỷ; hỗ trợ xử lý nghiệp vụ hơn 2.000 bản sách cho thư viện tại Phân trại số 3-Trại giam Phú Sơn 4 (Bộ Công an); tuyên truyền giới thiệu sách trên truyền hình, khai trương Trang thông tin điện tử Thư viện tỉnh.
Hoạt động văn hóa: Trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt mẫu phác thảo phù điêu “Đại tướng Võ Nguyên Giáp với đồng bào các dân tộc tỉnh Thái Nguyên”. Tham gia triển lãm “Thái Nguyên - Nơi khởi nguồn của ngày Thương binh- Liệt sỹ 27/7” tại Hà Nội hưởng ứng các hoạt động kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh - Liệt sỹ do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức; Ngày hội trình diễn cây Nêu và giao lưu văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam trong khuôn khổ Festival Di sản Quảng Nam lần thứ VI đạt (03 giải A, 02 giải B, 03 giải C); chuẩn bị tham Ngày hội Văn hóa dân tộc Dao lần thứ Nhất.
Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm: Ngành chức năng đã tổ chức kiểm tra 9 lễ hội, 16 buổi biểu diễn nghệ thuật, việc thực hiện quảng cáo của 70 tổ chức, cá nhân; 26 cơ sở karaoke, 10 bể bơi, 08 cơ sở lưu trú du lịch nhằm nhắc nhở, chấn chỉnh một số tồn tại trong lễ hội; yêu cầu 03 cơ sở lưu trú du lịch hoàn thiện các thủ tục hành chính đề nghị ngành chức năng thẩm định, xếp hạng; ra 03 quyết định xử phạt vi phạm hành chính, thu nộp ngân sách nhà nước 4 triệu đồng.
Hoạt động thể thao: Đào tạo học sinh năng khiếu thể dục thể thao tham gia thi đấu 19 giải khu vực và toàn quốc,  đạt  209 huy chương các loại (47 HCĐ, 67 HCB, 95 HCĐ) trong đó có 12 huy chương (07 HCV, 05 HCB) tại giải Vô địch vật trẻ Đông Nam Á; 01 HCV, 01 HCB, 02 HCĐ tại  giải Vô địch cờ vua trẻ  Đông Nam Á, Châu Á và thế giới; đạt 05 cờ thưởng đồng đội và toàn đoàn.
Thể thao thành tích cao: Duy trì công tác quản lý, huấn luyện, tập luyện của các đội tuyển. Đạt 157 huy chương các loại (39 HCV, 53 HCB, 65 HCĐ) trong  đó có 01 HCĐ giải Cúp đua thuyền canoeing vô địch nữ thế giới tổ chức tại Hungary; đạt 01 cờ Nhất toàn đoàn, 03 cờ Nhì và 01 cờ Ba toàn đoàn;  có 15 VĐV đạt  kiện tướng, 29  VĐV cấp I quốc gia, cung cấp cho đội tuyển quốc gia.
  7. Tình hình an toàn giao thông
  Theo Báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh Thái Nguyên, từ 16/8 đến 15/9 năm 2017 trên địa bàn tỉnh xảy ra 17 vụ tai nạn giao thông, làm chết 6 người và bị thương 10 người. So với cùng kỳ năm 2016 số vụ tai nạn giảm 3 vụ (-15%), số người chết giảm 2 người (-25%) và số người bị thương giảm 10 người (-50%).
Tính chung 9 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn tỉnh xảy ra 112 vụ tai nạn và va chạm giao thông làm chết 48 người và bị thương 83 người. So với cùng kỳ năm 2016 số vụ tai nạn giảm 12 vụ (-9,68%); số người chết giảm 19 người (-28,36%); người bị thương giảm 21 người (-20,19%). Riêng thành phố Thái Nguyên xảy ra 45 vụ (chiếm 40,2%), có 10 người chết và 41 người bị thương (so với cùng kỳ số vụ tương đương, số người chết giảm 2, số người bị thương giảm 6); thị xã Phổ Yên xảy ra 17 vụ, làm chết 8 người và 4 người bị thương (so với cùng kỳ số vụ giảm 4, số người chết giảm 7 và số người bị thương giảm 13).
Trong 3 ngày nghỉ lễ quốc khánh 2/9 năm nay (từ 2/9 đến 4/9) trên địa bàn không xảy ra vụ tai nạn giao thông nào. Qua kết quả tuần tra, kiểm soát: lập biên bản 151 trường hợp, tạm giữ 03 xe ô tô, phạt tiền 41 trường hợp, thu nộp KBNN: 102,1 triệu đồng, tước GPLX 03 trường hợp.
Trong tháng, các cơ quan chức năng đã kiểm tra lập biên bản xử lý vi phạm 3.990 trường hợp; tước 365 giấy phép lái xe; tạm giữ 180 xe ô tô, 372 xe mô tô; 42 phương tiện khác; số tiền xử phạt 3 tỷ đồng.
8. Phòng chống cháy nổ
Công tác phòng cháy chữa cháy đã được cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra và nhắc nhở nhằm hạn chế các vụ cháy nổ xảy ra.  Trong kỳ qua, trên địa bàn Tỉnh đã xảy ra 4 vụ cháy, không có vụ nổ nào xảy ra: trong đó có 3 vụ cháy xảy ra tại thành phố Thái Nguyên và 1 vụ xảy ra tại huyện Đại Từ. Ước giá trị thiệt hại của các vụ cháy khoảng 1,7 tỷ đồng.
Tính từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 77 vụ cháy; 1 vụ nổ, không có thiệt hại về người, nhưng thiệt hại về tài sản. Ước tổng trị giá tài sản thiệt hại khoảng 5,4 tỷ đồng. So với cùng kỳ số vụ cháy giảm 3 vụ, nhưng tăng 1 vụ nổ, giá trị thiệt hại do cháy nổ tăng 1,8 tỷ đồng, tương đương 51,1% so với cùng kỳ.
9. Vi phạm môi trường
Trong kỳ qua trên địa bàn Tỉnh ngành chức năng đã kiểm tra và xử lý 7 vụ vi phạm môi trường, trong đó có 3 vụ ở Thành phố Thái Nguyên, 3 vụ tại Thành phố Sông Công và 1 vụ tại huyện Đồng Hỷ với tổng số tiền phạt là 73 triệu đồng. Tính lũy kế từ đầu năm trên địa bàn Tỉnh đã kiểm tra, phát hiện và xử lý 41 vụ với tổng số tiền phạt lên tới 1,2 tỷ đồng. So với cùng kỳ số vụ vi phạm môi trường giảm 5 vụ nhưng số tiền xử phạt tăng 769 triệu đồng, tương đương 2,8 lần. Nguyên nhân của các vụ xử lý trên là do các cơ sở sản xuất kinh doanh không thực hiện quan trắc giám sát môi trường theo đề án bảo vệ môi trường được Sở Tài nguyên và Môi trường xác nhận.
10. Tình hình thiệt hại do thiên tai
Từ cuối tháng 8 đến 20/9/2017 do ảnh hưởng của hoàn lưu của bão, trên địa bàn Tỉnh đã xảy ra mưa lớn kèm theo giông lốc, sạt lở (có 2 đợt ngày 24/8-28/8/2017 và từ ngày 09/9 – 11/9/2017). Do mưa lớn, lũ cuốn đã gây thiệt hại về người và tài sản, cụ thể như sau:
- Thiệt hại về người: có 2 người chết do lũ cuốn (01 người ở huyện Định Hóa và 01 người ở huyện Đại Từ).
- Thiệt hại về tài sản:
+ Về nhà ở: Có 9 nhà bị tốc mái (trong đó: 01 nhà ở huyện Võ Nhai; 01 nhà ở huyện Đại Từ; 7 nhà ở huyện Phú Bình); có 99 nhà bị ảnh hưởng do sạt lở đất (trong đó: 27 nhà tại huyện Phú Bình; 62 nhà tại huyện Định Hóa; 10 nhà tại huyện Đại Từ); nhà bị ngập có 499 nhà (trong đó: ở Huyện Phú Lương có 79 nhà ngập dưới 1m và 20 nhà ngập trên 1m; khoảng 400 nhà ngập dưới 1m ở huyện Định Hóa); nhà di dời khẩn cấp có 12 nhà (trong đó: 11 nhà ở huyện Phú Lương và 1 nhà ở huyện Võ Nhai).
+ Về nông nghiệp, thủy sản: diện tích, hoa màu bị ngập úng khoảng 2.116 ha, trong đó: 2.113 ha lúa (80 ha tại huyện Phú Lương; 532 tại huyện Đại Từ; trên 1.500 ha tại huyện Định Hóa; 4 ha rau màu bị ngập ở huyện Đại Từ); 8 ha cây lâu năm bị thiệt hại (6 ha chè bị ngập ở huyện Phú Lương; 0,15 ha ở huyện Đại Từ); 88 ha thủy sản bị thiệt hại; chăn nuôi có 5.097 con gia súc, gia cầm bị chết do lũ cuốn trôi, trong đó: 17 con lợn; 5.080 con gia cầm.
+ Về giáo dục: 8 điểm trường bị ảnh hưởng do ngập úng đổ tường rào, tốc mái, hư hỏng tài sản và cuốn trôi nhiều thiết bị dạy học (trong đó: có 2 điểm trường ở huyện Đại Từ; 02 điểm trường ở Thị Xã Phổ Yên; 02 điểm trường ở huyện Phú Bình; 02 điểm trường ở Huyện Định Hóa).
+ Về giao thông: Sạt lở khoảng 2.400 m tuyến đường, trong đó: có 520m tại huyện Phú Lương; 400m tại huyện Phú Bình; 325m takuy tại huyện Đại Từ; 300m tuyến ĐT 267 tại huyện Định Hóa. Ngoài ra tại huyện Định Hóa còn 8 điểm sạt lở với khoảng 10.000 m3 đất đá; ngập úng 1km chiều sâu khoảng 0,7m tại huyện Đại Từ; 1 cống tạm thi công trên đường ĐT 261 huyện Đại Từ bị cuốn trôi và 12 cầu bị hư hỏng tại các huyện Phú Lương, Định Hóa.
+ Các thiệt hại khác: 01 đập thủy lợi tại huyện Định Hóa hỏng nặng, nhiều cột điện bị gãy đổ. Nước lũ cuốn trôi 01 xe ô tô 4 chỗ và 01 xe máy của người dân ở huyện Đại Từ.
Ước tính giá trị thiệt hại khoảng 64 tỷ đồng.
Các ngành chức năng và các địa phương đơn vị liên quan chủ động ứng phó, phòng chống thiên tai đảm bảo an toàn, khắc phục hậu quả do thiên tai gay ra, hỗ trợ, giúp đỡ các hộ gia đình, sớm ổn định đời sống nhân dân.
Khái quát lại: Chín tháng đầu năm 2017 tình hình kinh tế - xã hội trong nước tiếp tục chuyển biến tích cực, chỉ số giá tăng hợp lý, kinh tế vĩ mô ổn định trên hầu hết các lĩnh vực trong bối cảnh diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới. Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nhiều dự án lớn đã sản xuất ổn định, tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp và xuất khẩu tăng cao, góp phần thúc đẩy tăng thu ngân sách và tăng trưởng kinh tế. Các chỉ tiêu kinh tế cơ bản của tỉnh như: Giá trị xuất khẩu và Thu ngân sách đến nay đều đạt cao. Sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn do giá bán sản phẩm chăn nuôi giảm sâu, ảnh hưởng đến kết quả sản xuất và khó khăn trong thực hiện kế hoạch. An ninh trật tự, an toàn xã hội được đảm bảo; các chính sách xã hội được chú trọng và thực hiện đầy đủ, tạo điều kiện ổn định và cải thiện đời sống dân cư. Tuy nhiên đến nay sản xuất công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tỷ lệ hoàn thành kế hoạch chưa cao; sản xuất nông nghiệp vẫn chưa thoát khỏi tình trạng khó khăn nên trong thời gian còn lại của năm cần tăng cường quan tâm, chỉ đạo để thực hiện thành công các chỉ tiêu kinh tế xã hội cả năm 2017.
Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2017 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên./.
 
        
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
CHUYÊN MỤC
dieutradanso2019

hoc tap lam theo HCM

tong cuc thong ke

luat thong ke 1

cong thong tin thai nguyen


Dieu tra DN 2018

anh minh hoa 1
 
anh tuyen dung
Thống kê website
  • Đang truy cập4
  • Hôm nay
  • Tháng hiện tại
  • Tổng lượt truy cập
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây