Tình hình kinh tế xã hội quý I năm 2018 tỉnh Thái Nguyên

Thứ năm - 26/04/2018 15:55
Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh trong quý I năm 2018 vẫn duy trì xu thế tích cực và đạt được kết quả khá trên hầu hết các lĩnh vực...
tải xuống
tải xuống
Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh trong quý I năm 2018 vẫn duy trì xu thế tích cực và đạt được kết quả khá trên hầu hết các lĩnh vực; ngành công nghiệp và xuất khẩu tăng cao so với cùng kỳ và có xuất siêu; hoạt động thương mại dịch vụ phát triển tốt; chỉ số giá tiêu dùng tăng hợp lý; mặt bằng lãi suất tín dụng thuận lợi cho sản xuất; an sinh và phúc lợi xã hội được bảo đảm; trật tự an toàn giao thông được kiểm soát, tai nạn giao thông được kiềm chế và giảm so cùng kỳ; các chính sách xã hội được quan tâm, thực hiện đầy đủ và chương trình chung tay vì người nghèo được triển khai sâu rộng đã góp phần tạo điều kiện ổn định và cải thiện đời sống dân cư… Tuy nhiên hiện nay sản xuất nông nghiệp vẫn khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, giá bán thấp, sản xuất vụ Đông giảm nên ảnh hưởng đến kết quả sản xuất nông nghiệp nói chung.
A. KINH TẾ
I. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản và xây dựng nông thôn mới
1. Trồng trọt
- Kết quả sản xuất vụ Đông: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông 2017-2018 đạt 14,2  nghìn ha, giảm 4,7% (giảm 695 ha) so vụ Đông năm trước và chỉ bằng 91,4% so với kế hoạch. Trong đó, 2 cây trồng chủ lực là ngô và rau đạt diện tích 11,4 nghìn ha (chiếm gần 80% tổng diện tích gieo trồng vụ Đông), đều có diện tích thấp hơn so với vụ Đông năm trước. Trong đó, cây ngô diện tích gần 5 nghìn ha (giảm 343 ha) và sản lượng đạt 21,3 nghìn tấn (giảm 1,5 nghìn tấn) so với vụ Đông năm trước và bằng 86% kế hoạch về diện tích, bằng 89% kế hoạch về sản lượng. Cây rau diện tích đạt 6,4 nghìn ha (giảm 1,8%), sản lượng đạt 106 nghìn tấn, tăng 3% so với vụ Đông năm trước, bằng 98,4% kế hoạch về diện tích và bằng 102% kế hoạch về sản lượng.
Còn lại các cây hàng năm khác như lạc, đỗ tương, khoai lang... nhìn chung diện tích, năng suất và sản lượng đều giảm so với năm trước và thấp hơn kế hoạch do hiệu quả thấp nên không chú trọng đầu tư chăm sóc. Riêng chỉ có cây thuốc lá đạt diện tích và sản lượng vụ Đông 2018 tăng cao (diện tích đạt 26 ha, sản lượng đạt 48 tấn), gấp gần 3 lần so cùng kỳ.
- Tiến độ gieo trồng cây hàng năm vụ Xuân: Vụ xuân năm nay thời tiết ấm, thuận lợi công tác gieo trồng các loại cây trồng, không xảy ra tình trạng rét đậm như mọi năm nên ngành chức năng chỉ đạo các địa phương điều chỉnh khung thời vụ, trên 98% diện tích lúa đều cấy sau tiết lập xuân, 2% cấy trà lúa xuân chính vụ.
Toàn tỉnh đã gieo cấy được 28,96 nghìn ha lúa Xuân, bằng 100% kế hoạch và giảm 4,4% (tương ứng giảm 1.321 ha) so với vụ Xuân năm 2017. Bên cạnh cây lúa, các địa phương đang tích cực triển khai để hoàn tất công tác gieo trồng cây màu vụ Xuân.
Tính đến cuối tháng 3/2018 tổng diện tích cây màu vụ Xuân trồng được 11,6 nghìn ha, giảm hơn 1 nghìn ha so với tiến độ cùng kỳ. Trong đó, cây ngô 5,7 nghìn ha, tương đương diện tích cùng kỳ và bằng 78,7% kế hoạch; cây rau 3,1 nghìn ha, bằng 82,4% kế hoạch; cây khoai lang 633 ha, bằng 75,7% cùng kỳ; cây lạc 1,8 nghìn ha, bằng 70,1%; cây đỗ tương 300 ha, bằng 87,7% diện tích gieo trồng cùng kỳ ...
- Cây lâu năm: Hiện nay thời tiết tương đối thuận lợi, có mưa xuân nên nhìn chung các cây trồng lâu năm đều phát triển tốt
Đối với công tác trồng mới chè: Các địa phương đang tập trung chuẩn bị mặt bằng đất và chăm sóc vườn ươm giống cây. Toàn tỉnh có 33 vườn ươm đã cắm hom với tổng số hom cắm 52 triệu hom bằng các giống LDP1, Kim tuyên, Tri 777... 
Cây ăn quả: Dự kiến năm 2018 diện tích cây ăn quả trồng mới tiếp tục tăng ở một số cây đặc sản như: Thanh long, Na, bưởi diễn...Thời tiết hiện nay ấm dần, có mưa xuân nên nhìn chung các loại cây trồng lâu năm trên địa bàn tỉnh đều phát triển tốt và đang nẩy lộc, ra hoa như cây nhãn, vải, xoài..
- Tình hình sâu bệnh xuất hiện rải rác, diện tích lúa bị nhiễm là 3,6 ha (chủ yếu là ốc bươu vàng, ruồi đục nõn); trên cây chè sâu bệnh khoảng 500 ha và sâu bệnh trên nhóm cây ăn quả khoảng 50 ha đều ở mức độ nhẹ và trung bình. Ngành chức năng đã chỉ đạo các địa phương thường xuyên theo dõi, phát hiện và phòng trừ kịp thời.
2. Chăn nuôi
Quý I năm 2018 là thời điểm trùng vào tháng Tết Mậu Tuất 2018 nên sản lượng tiêu thụ thịt hơi xuất chuồng tăng cao, tăng nhiều nhất là thịt lợn và thịt gà. Các địa phương áp dụng các biện pháp tổng hợp về phòng, chống dịch bệnh theo hướng dẫn của ngành chức năng nên hiện nay đàn gia súc gia cầm phát triển ổn định, không có dịch bệnh xảy ra.
Dự ước số lượng đàn gia súc, gia cầm tính đến thời điểm 31/3/2018 như sau: đàn trâu 57,9 nghìn con, bằng 93,2% so cùng kỳ; đàn bò ước 45,2 nghìn con, tăng 2% so cùng kỳ; đàn lợn 677,9 nghìn con, giảm 1,75% cùng kỳ; đàn gia cầm ước khoảng 11,2 triệu con, trong đó đàn gà khoảng 10,1 triệu con. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 3 tháng đầu năm 2018 ước đạt 45,5 nghìn tấn, giảm khoảng 2,3% so với cùng kỳ; trong đó sản lượng thịt lợn hơi là 32,3 nghìn tấn, giảm 5%; thịt gia cầm xuất chuồng khoảng 11 nghìn tấn, tăng 5,7% so cùng kỳ.
Quý I/2018, chỉ số giá bán sản phẩm chăn nuôi của người sản xuất tính chung tăng 5,12% so với quý 4/2017, nhưng vẫn giảm 12,2% so với cùng kỳ (quý I/2017). Trong đó, giá thịt lợn hơi tăng 9,9% so quý trước nhưng vẫn giảm 25% so cùng kỳ; thịt gà hơi tăng nhẹ, tăng 0,5% so quý trước, tăng 5,7% so với cùng kỳ. Trong khi đó giá thức ăn gia súc, gia cầm quý I/2018 tăng 2,91% so quý trước, nhưng giảm 1,86% so với quý I/2017.
Kết quả tiêm vác xin phòng đợt I năm 2018 cho các địa phương như sau: Vác xin Tụ huyết trùng khoảng 59,1 nghìn liều; Vác xin Dịch tả 244,5 nghìn liều; vác xin tụ dấu 178,5 nghìn liều; vác xin Dại chó 108,5 nghìn liều; vác xin Tai xanh 10,5 nghìn liều, vác xin Lở mồm long móng 107 nghìn liều; vác xin cúm gia cầm 1,7 triệu liều và cung cấp 4,5 nghìn lít hóa chất khử trùng, tiêu độc.
3. Lâm nghiệp
Công tác trồng rừng: Ngành chức năng đang tiến hành chuẩn bị hiện trường, thẩm định thiết kế trồng rừng, xử lý thực bì, cuốc hố, chuẩn bị cây giống cho công tác trồng rừng năm 2018. Đến nay công tác rà soát diện tích trồng rừng đủ điều kiện ước đạt 51,9% kế hoạch (2.020/3.890 ha).
Trồng cây phân tán: Các địa phương đồng loạt triển khai Tết trồng cây trong dịp đầu xuân 2018. Đến nay đã trồng được 535,3 nghìn cây xanh, tương đương khoảng 267 ha.
Tình hình khai thác lâm sản: trong quý I năm 2018, dự ước sản lượng gỗ khai thác đạt 35,8 nghìn m3, tăng 2,9% so với cùng kỳ, củi khai thác ước đạt 42,2 nghìn ste, tăng 4,7%. Riêng tháng 3/2018 khai thác ước đạt 9,6 nghìn m3 gỗ các loại, tăng 1,8% so cùng kỳ, củi  khai thác khoảng 11,3 nghìn ste, tăng 4,4%.
Công tác quản lý và bảo vệ rừng: Từ đầu năm 2018 đến nay trên địa bàn  toàn tỉnh không xảy ra cháy rừng. Trong quý I/2018 trên địa bàn tỉnh đã phát hiện, xử lý 77 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và  phát triển rừng, giảm 15% so cùng kỳ (giảm 14 vụ); tịch thu 130 m3 gỗ quy tròn các loại, giảm 38% và  thu 13 phương tiện các loại, thu nộp ngân sách nhà nước 412 triệu đồng, giảm 26% so quý I/2017.
4. Thủy sản
Các địa phương tiếp tục chăm sóc, phòng bệnh cho thủy sản và tiêu thụ cá giống cung cấp cho thả cá năm 2018. Dự ước đến hết tháng 3 năm 2018 sản xuất cá bột đạt hơn 90 triệu con, cá giống đạt hơn 2 triệu con và sản lượng thủy sản thu hoạch ước đạt 3,1 nghìn tấn.
5. Tiến độ thực hiện Chương trình MTQG Xây dựng nông thôn mới
Ngành chức năng đã tham mưu tỉnh tổ chức Sơ kết Chương trình hỗ trợ xi măng xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn mới giai đoạn 2015-2017, đề xuất phương án hỗ trợ năm 2018 và những năm tiếp theo; Tổng hợp góp ý, tham gia ý kiến của các Sở, ngành, địa phương về xây dựng Dự thảo hướng dẫn trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận đạt xóm nông thôn mới kiểu mẫu, hộ gia đình nông thôn mới tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2017-2020; Xây dựng, ban hành kế hoạch kiểm tra nội dung thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới tại các xã trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, năm 2018.
Mục tiêu đặt ra năm 2018 là có 9 xóm đạt chuẩn “Xóm nông thôn mới kiểu mẫu” và tiếp tục xây dựng 9 xã đạt chuẩn “Xã nông thôn mới kiểu mẫu” giai đoạn 2016-2020; duy trì, nâng cao chất lượng tiêu chí đối với các xã đã công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Đến nay có 25 xã đăng ký sẽ về đích nông thôn mới trong năm 2018.
Tổng hợp chung về Kết quả thực hiện Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới tính đến đầu năm 2018: toàn tỉnh có 68 xã đạt chuẩn NTM (trong đó bao gồm cả 04 xã đã chuyển thành phường, thị trấn). So với thời điểm đầu năm 2017 tăng 12 xã. Còn lại 75 xã chưa đạt, kết quả thực hiện như sau: có 7 xã đạt từ 15 - 18 tiêu chí; 59 xã đạt từ 10 - 14 tiêu chí và 9 xã đạt từ 7 - 9 tiêu chí. Bình quân đạt 15,2 tiêu chí/xã, cao hơn bình quân chung cả nước (13,69 tiêu chí/xã).
II. Công nghiệp
Lượng tồn kho các sản phẩm công nghiệp chủ lực tính đến đầu tháng 3/2018 đã giảm nhiều so với tháng trước (điện thoại thông minh và máy tính bảng tồn 2,8 triệu cái, giảm bằng 35% so với tồn kho tháng trước; sắt thép tồn 166 nghìn tấn, giảm 10%; sản phẩm may tồn 6,3 triệu sản phẩm, giảm 13,6%...), nên thúc đẩy sản xuất công nghiệp trong tháng Ba và tính chung Quý I/2018 tăng khá cao.
Dự ước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tháng 3/2018 tăng 19,6% so với tháng trước, tăng 14,4% với cùng kỳ. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 12,3% so tháng trước và tăng 3,7% so với cùng kỳ; công nghiệp chế biến chế tạo tăng 20% so với tháng trước, tăng 15% so với cùng kỳ; sản xuất và phân phối điện tăng tăng 15% so với tháng trước nhưng giảm 3,6% cùng kỳ (do doanh nghiệp sản xuất điện điều chỉnh sản lượng nhằm hạn chế rủi do giá bán thấp); ngành cung cấp nước, quản lý, xử lý rác thải, nước thải tăng tăng 4,3% so với cùng kỳ.
Về sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất tháng 3/2018: hầu hết các sản phẩm đều có sản lượng sản xuất tăng cao so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ chỉ có một số ngành hàng chủ lực tăng trên 10% đóng góp vào tốc độ tăng công nghiệp so cùng kỳ là: sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính tăng 17,3% (trong đó sản xuất đang có xu hướng tăng ở nhóm điện thoại tầm trung có giá trên 6 triệu đồng/1 sản phẩm đạt 2,15 triệu cái, gấp 2,9 lần cùng kỳ và giảm 21% về số lượng ở nhóm điện thoại có giá dưới 3 triệu đồng/1 sản phẩm); sản xuất máy móc, thiết bị tăng 27%; chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ tăng 12,2%(trong đó dăm gỗ đạt 1.883 tấn, tăng 24,8% cùng kỳ); còn lại nhiều nhóm sản phẩm sản xuất trong tháng 3/2018 tăng dưới 10% (như than khai thác 119,6 nghìn tấn, tăng 4,2%; tinh quặng đồng 3 nghìn tấn, tăng 5,1%; tai nghe 3,7 triệu sản phẩm, tăng 9,7%) hoặc giảm so với cùng kỳ như: xi măng 158,3 nghìn tấn, giảm 22,2%; thép cán 145 nghìn tấn, giảm 2,4%; Vonfram và sản phẩm của Vonfram 1,8 nghìn tấn, giảm 4,2%; sản phẩm may 5,2 triệu sản phẩm, giảm 5,8%; điện sản xuất 140 triệu KWh, giảm 6%.
Tính chung Quý I năm 2018, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 12,3% so với cùng kỳ (tương đương tốc độ tăng của quý I/2017). Đóng góp lớn nhất là từ ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 12,5% (trong đó, sản xuất sản phẩm điện tử, điện thoại tăng 13,4%); ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước tăng 7,5%; ngành cung cấp nước, quản lý, xử lý rác thải, nước thải tăng 8,8%. Riêng ngành ngành công nghiệp khai khoáng tăng ở mức thấp nhất 4,6% (do khai thác quặng kim loại giảm 0,7%) so với cùng kỳ.
Nếu tính theo giá so sánh năm 2010, Giá trị sản xuất công nghiệp Quý I/2018 trên địa bàn ước đạt 137,6 nghìn tỷ đồng, bằng 21,3% kế hoạch cả năm (tương đương so với mức đạt 21,8% kế hoạch của thực hiện Quý I/2017), tăng 12% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, giá trị sản xuất công nghiệp địa phương là 5 nghìn tỷ đồng, bằng 21% kế hoạch, tăng 8,7% cùng kỳ; công nghiệp nhà nước Trung ương 4,1 nghìn tỷ đồng, bằng 23,3% kế hoạch, tăng 2,6% cùng kỳ; công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 128,5 nghìn tỷ đồng, bằng 21,3% kế hoạch và tăng 12,5% so cùng kỳ.
Lũy kế Quý I năm 2018, nhóm các sản phẩm tăng trên 5% so với cùng kỳ và đạt trên 20% kế hoạch cả năm là: sản phẩm may 14,9 triệu sản phẩm, tăng 6,6% cùng kỳ và bằng 24,4% kế hoạch; than khai thác 331,8 nghìn tấn, tăng 8,7%, bằng 27,6% kế hoạch; điện sản xuất 396,6 triệu Kwh, tăng 6,8%; điện thương phẩm 1.041 triệu Kwh, tăng 8,8% cùng kỳ và bằng 20,8% kế hoạch; nước máy thương phẩm 8 triệu m3, tăng 8% cùng kỳ và bằng 23,3% kế hoạch; Mạch điện tử tích hợp 25,2 triệu cái, tăng 22%; tai nghe 11,3 triệu cái, tăng 25,7%; thiết bị và dụng cụ khác trong y khoa 318,7 triệu sản phẩm, tăng 66,8%; đá khai thác 830 nghìn m3, tăng 8,1% so với cùng kỳ...
Riêng nhóm sản phẩm điện thoại và máy tính bảng ước đạt 24,64 triệu sản phẩm, giảm 12,66% cùng kỳ và bằng 18% kế hoạch (trong đó, điện thoại thông minh ước đạt 20,67 triệu sản phẩm, giảm 9,7%; máy tính bảng 4 triệu sản phẩm, giảm 25,3%). Tuy tổng số lượng sản phẩm giảm do nhóm điện thoại có giá dưới 3 triệu đồng/1 sản phẩm ước tính quý I/2018 sản xuất khoảng 15 triệu cái, giảm 13,3%; điện thoại có giá từ 3 triệu đến dưới 6 triệu đồng đạt 5,6 triệu cái, tăng 1,4% và sản xuất tăng cao ở nhóm điện thoại có giá trên 6 triệu đồng/1 sản phẩm, ước đạt 5,1 triệu cái, tăng 85% cùng kỳ và đóng góp lớn vào tốc độ tăng chung của ngành công nghiệp.
Nhóm các sản phẩm dự ước sản xuất Quý I/2018 tăng dưới 5% hoặc giảm so với cùng kỳ là: sắt thép các loại sản xuất đạt 383,6 nghìn tấn, tăng 4,2% và bằng 27,4% kế hoạch; xi măng 463,2 nghìn tấn, tăng 0,6% và bằng 21,1% kế hoạch; Vonfram và sản phẩm của Vonfram 4,7 nghìn tấn, giảm 13,6% cùng kỳ và bằng 23,3% kế hoạch; gạch xây dựng bằng gốm sứ 12,2 triệu viên, giảm 18,7% và bằng 4,3% kế hoạch.
III. Xây dựng - Vốn đầu tư
1. Vốn đầu tư
Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn Quý I/2018 thực hiện ước đạt  9.693,4 tỷ đồng, bằng 97,5% so với cùng kỳ, trong đó: vốn nhà nước trên địa bàn đạt 623,7 tỷ đồng; vốn của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước thực hiện 5.143,2 tỷ đồng (chiếm 53,1% tổng mức đầu tư trên địa bàn), giảm 20,4% so cùng kỳ; vốn đầu tư của khu vực ngoài nhà nước (doanh nghiệp, cá thể và hộ dân cư) đạt trên 3.926,5 tỷ đồng, tăng 45,5% so với cùng kỳ.
* Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Tính chung từ đầu năm đến đầu tháng 3/2018, có thêm 03 dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, tổng vốn đăng ký là 13 triệu USD (so với 3 tháng đầu năm 2017 tương đương về số dự án cấp phép mới, vốn đăng ký tăng 5 triệu). Các dự án này đều thuộc lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo (sản xuất, lắp ráp linh kiện điện thoại di động, phục vụ cho Tập đoàn Samsung). Tính lũy kế đến nay trên địa bàn hiện có 129 dự án có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư trên 7,3 tỷ USD.
2. Xây dựng
Giá trị sản xuất xây dựng thực hiện Quý I/2018 do các đơn vị xây dựng thường trú trên địa bàn thực hiện đạt 5.017 tỷ đồng, tăng 14% so với so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, khối doanh nghiệp thực hiện 2.610 tỷ đồng, tăng 16% cùng kỳ và loại hình xây dựng khác (bao gồm cả cá thể, hộ dân cư, xây dựng xã phường, thị trấn) thực hiện 2.407 tỷ đồng, tăng 11,9% cùng kỳ.
IV. Tài chính, ngân hàng
1. Thu, chi ngân sách
- Thu ngân sách nhà nước: Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh 2 tháng đầu năm 2018 đạt 2.396,6 tỷ đồng, tăng 9,4% so với cùng kỳ và bằng 18,3% so với dự toán cả năm. Trong đó thu nội địa đạt 1.980 tỷ đồng, tăng 8,8% so với cùng kỳ và bằng 20% so với dự toán; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 416,6 tỷ đồng, tăng 12,3% so với cùng kỳ và bằng 13% so với dự toán cả năm 2018.
Trong thu nội địa, có 8 trong tổng số 16 khoản thu tăng trên 10% so với cùng kỳ, trong đó thu khác ngân sách đạt 32,2 tỷ đồng, gấp 2,4 lần cùng kỳ và bằng 19,5% dự toán cả năm; thu tiền cấp quyền sử dụng đất đạt 171,9 tỷ đồng, gấp 1,6 lần so với cùng kỳ và đạt 13,2% dự toán; đóng góp lớn nhất vào thu nội địa 2 tháng đầu năm 2018 là  thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 544,6 tỷ đồng (chiếm 27,5%), tăng 8,9% so với cùng kỳ và đạt 17,2% dự toán; tiếp đến là thu từ khu vực dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 513,9 tỷ đồng (chiếm 26%), tăng 15,7% so với cùng kỳ và bằng 34,7% dự toán; thu thuế thu nhập cá nhân đạt 331,1 tỷ đồng (chiếm 16,7%), tăng 12% so với cùng kỳ và bằng 29,3% dự toán…
Các khoản thu đạt thấp hơn so với tháng 2/2017 như: thu từ doanh nghiệp nhà nước trung ương và địa phương; thu phí, lệ phí; thuế bảo vệ môi trường; thu cấp quyền khai thác khoáng sản…
- Chi ngân sách địa phương: Tổng chi cân đối ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh hai tháng đầu năm 2018 đạt 1.017 tỷ đồng, giảm 2,3% so với cùng kỳ và bằng 7,4% dự toán cả năm, trong đó chi đầu tư phát triển 219,3 tỷ đồng (chiếm 21,6% trong tổng chi cân đối ngân sách địa phương), tăng 3,6% so với cùng kỳ và bằng 9,3% dự toán cả năm; chi thường xuyên đạt 797,8 tỷ đồng (chiếm 78,4), giảm 3,8% so với cùng kỳ và bằng 10,1% dự toán cả năm. Trong tổng chi thường xuyên, chi lớn nhất là chi sự nghiệp giáo dục đào tạo và dạy nghề đạt 372,9 tỷ đồng (chiếm 46,7%), tăng 6,3% so với cùng kỳ và bằng 11,1% dự toán cả năm; chi quản lý hành chính đạt 248,8 tỷ đồng (chiếm 31,2%), giảm 6% so với cùng kỳ và bằng 16,6% so với dự toán cả năm. Nhìn chung, chi thường xuyên 2 tháng đầu năm 2018 đã đáp ứng được các yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương, đảm bảo tốt công tác an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh tỉnh trong dịp Tết Nguyên đán.
2. Ngân hàng
- Lãi suất: Lãi suất huy động của các tổ chức tín dụng tăng nhẹ khoảng 0,2-0,3%/năm so với năm 2017, phổ biến ở mức 0,8-1%/năm đối với lãi suất huy động tiền gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng, từ 4,5-5,3%/năm đối với kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng, từ 5,3-8%/năm đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Về lãi suất cho vay, từ giữa tháng 01/2018, một số ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn đối với khách hàng thuộc lĩnh vực ưu tiên. Hiện lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VNĐ đối với các lĩnh vực ưu tiên là 6-6,5%/năm. Lãi suất cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,8-9%/năm đối với ngắn hạn, từ 9,3-11%/năm đối với trung và dài hạn.
- Nguồn vốn huy động toàn địa bàn đến 28/02/2018 đạt 48.348 tỷ đồng, tăng 3,12% so với 31/12/2017 (cùng kỳ là tăng 5,65%). Ước đến 31/3/2018 nguồn vốn huy động đạt 48.902 tỷ đồng, tăng 4,3% so với 31/12/2017.
- Dư nợ cho vay đối với nền kinh tế đến 28/02/2018 đạt 51.613 tỷ đồng, tăng 1,87% so với 31/12/2017 (cùng kỳ là tăng 2,07%). Ước đến 31/3/2018 đạt 52.285 tỷ đồng, tăng 3,19% so với 31/12/2017.
Nợ xấu 396 tỷ đồng chiếm 0,84%/tổng dư nợ (cùng kỳ 2017 là 314 tỷ đồng chiếm 0,78%/tổng dư nợ). Ước đến 31/3/2018 nợ xấu là 390 tỷ đồng, chiếm 0,82%/tổng dư nợ.
- Tình hình dư nợ các chương trình tín dụng:
+ Cho vay nông nghiệp, nông thôn: Kết quả dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn với dư nợ đạt 13.400 tỷ đồng với 183.290 khách hàng còn dư nợ, chiếm tỷ trọng 25,96%/tổng dư nợ trên địa bàn.
+ Cho vay xây dựng nông thôn mới: Kết quả cho vay xây dựng nông thôn mới với dư nợ đạt 9.474 tỷ đồng với 143.195 hộ dân, 181 doanh nghiệp và 16 hợp tác xã còn dư nợ.
+ Chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp và Chương trình bình ổn thị trường:  các ngân hàng trên địa bàn đã tổ chức được 30 hội nghị đối thoại/kết nối ngân hàng - doanh nghiệp với số tiền cam kết hỗ trợ là 10.193 tỷ đồng cho 457 doanh nghiệp và 8 khách hàng, dư nợ còn 6.011 tỷ đồng. Số tiền cam kết cho vay chương trình bình ổn thị trường đạt 210 tỷ đồng, dư nợ là 35 tỷ đồng với lãi suất 7%/năm.
V. Thương mại, giá cả, dịch vụ
1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn tỉnh tháng 3 năm 2018 ước đạt 2.542,6 tỷ đồng, giảm 3,4% so với tháng trước, nhưng tăng 12% so với cùng kỳ. Trong đó khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 174,1 tỷ đồng, tăng 1% so với tháng trước và tăng 13,6% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 2.359,3 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 92,7% thị phần bán lẻ), giảm 3,8% so với tháng trước, nhưng tăng 11,9% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 9,3 tỷ đồng, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 8% so với cùng kỳ.
Tính chung quý I/2018 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước đạt 7.828,3 tỷ đồng, tăng 12,6% so với quý I/2017. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước 523,8 tỷ đồng (chiếm 6,7% tổng mức bán lẻ), tăng 14,4%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 7.276,9 tỷ đồng (chiếm 93%), tăng 12,5%. Còn lại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 27,6 tỷ đồng (toàn bộ là từ dịch vụ lưu trú và dịch vụ khác), tăng 7,2% so với cùng kỳ.
Nếu phân theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ Quý I năm 2018 đạt khoảng 6.330 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 80,8%), tăng 13,9% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 654,3 tỷ đồng (chiếm 8,4% trong tổng mức), tăng 7,6% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ tiêu dùng còn lại ước đạt 838,4 tỷ đồng (chiếm 10,7% tổng số), tăng 6,9% so với cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành chỉ chiếm một phần rất nhỏ (đạt 6,7 tỷ đồng, chiếm 0,1% tổng mức và tăng 8,1% so với cùng kỳ).
Trong cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hóa Quý I/2018, nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 2.015 tỷ đồng (chiếm 31,8% trong tổng mức bán lẻ), tăng 13,9% so với cùng kỳ; nhóm xăng dầu các loại ước đạt 730 tỷ đồng (chiếm 11,5%), tăng 9,4% so với cùng kỳ; nhóm đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình ước đạt 715,7 tỷ đồng, tăng 12,6% so với cùng kỳ; nhóm hàng may mặc đạt 508 tỷ đồng (chiếm 8% tổng mức), tăng 20% cùng kỳ; mặt hàng đá quý, kim loại quý 126 tỷ đồng, tăng 15,3%; nhóm ô tô các loại ước đạt 657 tỷ đồng, tăng 14,6% so với cùng kỳ; nhóm phương tiện đi lại ước đạt 454,6 tỷ đồng, tăng 16,4% so với cùng kỳ…
Công tác đảm bảo hàng hóa và kiểm tra, kiểm soát thị trường: Các ngành chức năng tăng cường công tác, quản lý, điều hành nhằm bình ổn thị trường, giá cả, đảm bảo trật tự an toàn xã hội trong dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán. Phối hợp với các địa phương thực hiện công tác tuyên truyền, đấu tranh chống buôn lậu, hàng cấm, hàng giả và gian lận thương mại; kiểm tra chấp hành các quy định về đăng ký kinh doanh, việc chấp hành điều kiện kinh doanh và ghi nhãn hàng hóa… Kết quả, tổng số vụ đã kiểm tra trong quý I/2018 là 360 vụ, giảm 26 vụ so với cùng kỳ, đã xử lý 352 vụ với giá trị hàng tịch thu là 1,2 tỷ đồng, giá trị hàng tiêu hủy trong kỳ là 752 triệu đồng. Tổng số tiền thu phạt hành chính nộp ngân sách Nhà nước là 1,2 tỷ đồng. 
2. Giá tiêu dùng
Tháng 3/2018 có chỉ số giá giảm 0,26% so với tháng trước, chủ yếu giảm ở nhóm thực phẩm, đồ uống và thiết bị đồ dùng gia đình…nhưng tăng 1,17% so với cùng kỳ năm trước; tăng 0,94% so với tháng 12/2017. Bình quân Quý I/2018 tăng 1,08% so với bình quân cùng kỳ.
So với tháng trước,  chỉ có 2/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng nhẹ trong khoảng từ 0,18%-0,2% như: nhóm may mặc, giày dép và mũ nón tăng 0,2%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,18%. Có 4/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tương đương tháng trước là bưu chính viễn thông; thuốc và dịch vụ y tế; giáo dục và nhóm hàng hóa và dịch vụ khác. Còn lại 5/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm, trong đó giảm nhiều nhất là nhóm đồ uồng và thuốc lá giảm 1,15% (do giá rượu bia giảm 0,8%; nước khoáng có ga giảm 5%); nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,77% (do giá dịch vụ giải trí giảm 8,73%; giá hoa cây cảnh giảm 15,2%); nhóm giao thông giảm 0,54% (do giá xăng dầu, diezen giảm 1,31%); nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,46% (do giá thịt gia súc tươi sống giảm 1%; giá thịt gà giảm 1,21%; giá rau giảm 1%); nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm nhẹ, giảm 0,08%.
So với cùng kỳ (tháng 3/2017), chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2018 tăng 1,17%.  Có 9/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có chỉ số giá tăng, trong đó nhóm chỉ số giá tăng cao nhất là nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,56% (do giá dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 6,48%; nhóm về hiếu tăng 8,04%); nhóm giáo dục tăng 3,12% (do giá văn phòng phẩm tăng 2,82%; dịch vụ giáo dục tăng 3,19%); Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,95% (do giá vật liệu bảo dưỡng nhà tăng 4,06%; giá nước sinh hoạt và dịch vụ nước tăng 6,3%; điện sinh hoạt tăng 8%); nhóm giao thông tăng 2,5% (do giá nhiên liệu tăng 6,91%); nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng trong khoảng 0,83% đến 1,31% như: nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,83%; nhóm văn hóa, giải trí và dịch vụ khác tăng 1,18%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,18%; nhóm may mặc, giày dép và mũ nón tăng 1,31%. Còn lại 2 nhóm có chỉ số giá giảm 0,19% như: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm do giá thịt lợn giảm 7,14%; giá gia cầm giảm 0,28%; nhóm bưu chính viễn thông giảm do giá thiết bị điện thoại giảm 1,06%.
So với tháng 12/2017, chỉ số giá tiêu dùng tăng 0,94%. Có 8/11 nhóm có chỉ số giá tăng. Trong đó, tăng nhiều nhất là nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,63% (do giá về đồ trang sức 4,52%; giá hiếu hỉ tăng 5,83%); nhóm tiếp theo có chỉ số giá tăng là nhóm giao thông tăng 1,66% (do giá nhiên liệu tăng 1,9%); nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,64% (do giá gạo tăng 4,78%; giá thịt gia súc tươi sống 2,28%; thịt chế biến tăng 2,6%; thủy sản tươi sống tăng 5,64%); nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,95% (do giá nước sinh hoạt và dịch vụ nước tăng 2,27%; điện sinh hoạt tăng 6,7%). Các nhóm tăng trong khoảng 0,28% đến 0,53% như: nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,28%; nhóm  đồ uống và thuốc lá tăng 0,45%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,53%. Nhóm hàng hóa tăng nhẹ là nhóm giáo dục tăng 0,04%. Có 02/11 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tương đương tháng 12 năm trước như nhóm thuốc và dịch vụ y tế và nhóm bưu chính viễn thông. Còn lại nhóm may mặc, giày dép và mũ nón giảm 0,6% (do giá quần áo may sẵn giảm 0,9%; dịch vụ may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,03%).
 Chỉ số giá vàng: chỉ số giá vàng tháng 3/2018 giảm 0,11% so với tháng trước và tăng 7,14% so với cùng kỳ năm trước; bình quân Quý I/2018 tăng 7,86% so bình quân cùng kỳ.
Chỉ số giá Đô la Mỹ: Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 3/2018 tăng 0,24% so tháng trước và bình quân Quý I/2018 tăng 0,07% so với cùng kỳ.
Tình hình thị trường giá cả và cung cầu hàng hóa trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018 tỉnh Thái Nguyên
Giá cả hàng hoá trên thị trường Thái Nguyên tương đối ổn định vào những ngày trước, trong và sau Tết Nguyên đán; tuy sức mua hàng hoá tăng cao trong những ngày giáp Tết nhưng nhìn chung giá cả năm nay biến động không nhiều nhất là những mặt hàng phục vụ Tết như: bánh kẹo, rượu, bia thuốc lá và thịt gia súc gia cầm các loại...
Thị trường hàng hoá, dịch vụ Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018 trên địa bàn tỉnh không xảy ra tình trạng đầu cơ, găm giữ hàng hoá, khan hiếm hàng hoá, tăng giá quá mức. Tuy nhiên mặt hàng hoa, cây cảnh năm nay do là năm nhuận nên Tết đến muộn hơn, ảnh hưởng đến chất lượng hoa và giá bán nhìn chung cũng cao hơn Tết mọi năm. Thị trường hoa trong những ngày Tết có sự dao động về giá tương đối lớn giữa các ngày, đến ngày 30 Tết nguồn cung dồi dào nhưng nhu cầu ít nên giá cả giảm mạnh chỉ còn bằng 1/3 giá các ngày trước đó.
3. Xuất, nhập khẩu
a. Xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao. Giá trị xuất khẩu tháng 3/2018 ước đạt 2 tỷ USD, tăng 7% so với tháng trước và tăng 3,6% so với cùng kỳ. Trong đó, giá trị xuất khẩu khu vực trong nước ước đạt 16 triệu USD (chiếm tỷ trọng nhỏ ở mức 0,8% trong tổng giá trị xuất khẩu), giảm 0,2% so với tháng trước và giảm 11,3% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,98 tỷ USD, tăng 7,1% so với tháng trước và tăng 3,8% so với cùng kỳ. Nhóm hàng xuất khẩu có mức tăng cao hơn so với cùng kỳ duy nhất chỉ có nhóm linh kiện điện tử và phụ tùng khác đạt 365,6 triệu USD, tăng 17,3%. Còn lại tất cả các nhóm sản phẩm chủ yếu khác đều đạt thấp hơn so với cùng kỳ.
Tính chung Quý I/2018, tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn ước đạt 5,8 tỷ USD, bằng 23,2% kế hoạch cả năm và tăng 17,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu do địa phương quản lý đạt 60 triệu USD, tăng 4,2% so với cùng kỳ và bằng 16,02% kế hoạch cả năm; xuất khẩu của các đơn vị nhà nước Trung ương đạt 1 triệu USD, giảm 20,2% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu đạt 5,74 tỷ USD, tăng 17,8% so với cùng kỳ.
Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu Quý I/2018 tăng cao nhất là nhóm kim loại màu và tinh quặng kim loại màu ước đạt 50,7 triệu USD, tăng 49,8% cùng kỳ và bằng 28,2% kế hoạch (riêng các sản phẩm tinh luyện vonfram đạt gấp 2 lần cùng kỳ); Nhóm điện thoại, máy vi tính và linh kiện điện tử đạt 5,52 tỷ USD (chiếm 95,2% tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn) và đạt mức tăng 14,7% so cùng kỳ (bao gồm linh kiện điện tử và phụ tùng khác đạt 1,04 tỷ USD, tăng 24,2% cùng kỳ và bằng 32,9% kế hoạch; điện thoại thông minh và máy tính bảng đạt 4,5 tỷ USD, tăng 12,7 so với cùng kỳ và bằng 21% kế hoạch cả năm); phụ tùng vận tải ước đạt 1,2 triệu USD, tăng 8,5% so với cùng kỳ. Nhóm mặt hàng xuất khẩu giảm so với cùng kỳ là chè các loại đạt 0,23 triệu USD, giảm 73,1% về lượng và 80,6% về giá trị; giấy và các sản phẩm từ giấy đạt 0,4 triệu USD, giảm 45,1% (đây cũng là 2 mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng nhỏ); sản phẩm từ sắt thép ước đạt 10,2 triệu USD, giảm 16,7% so với cùng kỳ và bằng 19,5% kế hoạch cả năm...
Một điểm đáng lưu ý là Quý I năm 2018 giá trị xuất khẩu các sản phẩm chủ lực trên địa bàn có sự tăng cao do yếu tố giá xuất khẩu tăng. Mức tăng giá chủ yếu là do các doanh nghiệp thay đổi cơ cấu chủng loại sản phẩm xuất khẩu so với năm trước. Trong đó, có mặt hàng điện thoại thông minh, giá xuất khẩu tính chung quý I/2018 đạt 22,1 triệu cái với trị giá xuất khẩu là 3,7 tỷ USD, so với cùng kỳ số lượng xuất khẩu giảm 3,4% nhưng giá trị xuất khẩu vẫn tăng 12,4% (do yếu tố giá xuất khẩu/1 sản phẩm tăng 16,4% so với cùng kỳ). Tương tự đối với mặt hàng máy tính bảng, xuất khẩu ước đạt 5,6 triệu cái với giá trị 782 triệu USD, tăng 14,1% về giá trị xuất khẩu (do yếu tố giá tăng 5,1% và yếu tố lượng tăng 8,6%).
Hình thức xuất khẩu trên địa bàn trong Quý I/2018 toàn bộ là xuất khẩu  trực tiếp. Thị trường xuất khẩu lớn nhất là Châu Á chiếm tỷ trọng 45,7% tổng giá trị xuất khẩu (tập trung chủ yếu ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á các nước như: Hàn Quốc 878,9 triệu USD; Thái Lan 148,1 triệu USD; Malaixia 112,1 triệu USD); đứng thứ hai là thị trường Châu Âu, chiếm tỷ trọng 36,5%, hàng hóa xuất khẩu tập trung chủ yếu ở khu vực Tây Âu và Đông Âu (như: Slô-va-ki-a khoảng 717,5 triệu USD; Đức đạt 362,4 triệu USD). Ngoài ra, Châu Mỹ chiếm 11,7% tổng giá trị xuất khẩu, trong đó nước Mỹ chiếm chủ yếu với 373,1 triệu USD…
b. Nhập khẩu
Tổng giá trị nhập khẩu tháng 3/2018 trên địa bàn ước đạt 1,28 tỷ USD, tăng 4,9% so với tháng trước và tăng 9,4% so với cùng kỳ. Khu vực kinh tế trong nước ước đạt 13,7 triệu USD, tăng 3,5% so với tháng trước và tăng 2,8% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,27 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 98,9% tổng giá trị nhập khẩu), tăng 4,9% so với tháng trước và tăng 9,4% so với cùng kỳ.
Nhóm mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tháng 3/2018 tăng cao so với cùng kỳ là: vải các loại ước đạt 10,1 triệu USD, tăng 42,4% so với cùng kỳ; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 5 triệu USD, tăng 27,5% so với cùng kỳ…Nhóm mặt hàng có giá trị nhập khẩu thấp hoặc nhỏ hơn so với cùng kỳ là: sản phẩm từ sắt thép đạt 0,1 triệu USD, bằng 6,7% so với cùng kỳ; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 2,6 triệu USD, giảm 43,4% so với cùng kỳ; giấy các loại đạt 0,4 triệu USD, giảm 39,3% so với cùng kỳ.
Tính chung Quý I/2018, tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu ước đạt 3,75 tỷ USD, tăng 22,6% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước ước đạt 45 triệu USD (chiếm 1,2% tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn), giảm 0,8% so với cùng kỳ (do nhập khẩu phô thép giảm mạnh); khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 3,7 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 98,8% tổng giá trị nhập khẩu), tăng 23% so với cùng kỳ.
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu Quý I/2018 ước tính tăng so với cùng kỳ là: chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 18,5 triệu USD, gấp 2,2 lần; nguyên, phụ liệu dệt may đạt 5,6 triệu USD, gấp 1,5 lần; nguyên liệu và linh kiện điện tử đạt 3,7 tỷ USD, tăng 23,6%; vải các loại đạt 30 triệu USD, tăng 21,3%... Bên cạnh đó các loại mặt hàng nhập khẩu chủ yếu giảm nhiều là: sản phẩm từ sắt thép đạt 4,2 triệu USD, giảm 45,9%; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 8,1 triệu USD, giảm 43,3%...
Nguồn nguyên liệu và hàng hóa nhập khẩu trên địa bàn trong Quý I/2018 toàn bộ được nhập khẩu theo hình thức trực tiếp và chủ yếu nhập khẩu từ thị trường Châu Á với 3,6 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 96,4%); trong đó chủ yếu ở các nước là Hàn Quốc 1,7 tỷ USD, Trung Quốc đạt 1,2 tỷ USD và Nhật Bản đạt 221 triệu USD…
4. Vận tải
- Vận tải hành khách: Số lượng hành khách vận chuyển tháng 3/2018 ước đạt 1.152,3 nghìn lượt khách với khối lượng luân chuyển là 66,3 triệu hành khách.km, so với tháng trước giảm 1,5% về số lượng hành khách vận chuyển và giảm 1,3% số hành khách luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 7,4% về số lượng hành khách vận chuyển và tăng 7,2% về số hành khách luân chuyển. Tính chung quý I năm 2018 số lượng hành khách vận chuyển là 3,4 triệu người, tăng 7,1% so với cùng kỳ; trong đó vận tải đường bộ 3,3 triệu hành khách, tăng 7,1%; vận tải đường thủy ước đạt 24 nghìn lượt hành khách (toàn bộ do khối cá thể thực hiện), tăng 8,4% cùng kỳ.
Qua số liệu vận tải hành khách đường sông ở trên cho thấy hiện nay trên địa bàn tỉnh ở một số khu vực của huyện Phú Bình còn tình trạng dân cư ở các vùng ven sông, hồ do chưa có hệ thống cầu bắc qua nên vẫn phải sử dụng phương tiện giao thông đường thủy thô sơ (đò ngang) do khối cá thể thực hiện để di chuyển, dễ xảy ra nguy cơ mất an toàn trong mùa mưa, bão.
- Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 3/2018 ước đạt 2,8 triệu tấn với khối lượng hàng hóa luân chuyển khoảng 115 triệu tấn.km; so với tháng trước tăng 9,7% về cả số hàng hóa vận chuyển và số lượng hàng hóa luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 5,7% số hàng hóa vận chuyển và tăng 6,4% số hàng hóa luân chuyển. Tính chung Quý I năm 2018 khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 8,3 triệu tấn và khối lượng hàng hóa luân chuyển là 337 triệu tấn.km, tăng 6,9% so với cùng kỳ về vận chuyển và tăng 7,1% về khối lượng luân chuyển.
Tổng doanh thu vận tải trên địa bàn tháng 3/2018 ước đạt 276 tỷ đồng, tăng 7,6% so với tháng trước và tăng 6,7% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 45,3 tỷ đồng, tăng 7,4% so cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 215,7 tỷ đồng,  tăng 9,7% so với tháng trước và tăng 6,4% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 15,1 tỷ đồng, tăng 7% so với tháng trước và tăng 8,9% so với cùng kỳ.
Tính chung doanh thu vận tải Quý 1 năm 2018 ước đạt 810 tỷ đồng, tăng 7% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải  hàng hóa ước đạt 632,2 tỷ đồng (chiếm 78% tổng số), tăng 7,3% cùng kỳ; vận tải hành khách ước đạt 132,1 tỷ đồng, tăng 7% và doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 45,1 tỷ đồng, tăng 2,8%.
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Đời sống dân cư
Do giá tiêu dùng các mặt hàng thiết yếu cơ bản ổn định, sản xuất công nghiệp tăng trên 10%, cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư phát triển, đặc biệt là các xã thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới. Các chính sách hỗ trợ phát triển được triển khai thực hiện góp phần cải thiện đời sống dân cư trên địa bàn từ khu vực thành thị đến nông thôn. Tuy nhiên trong sản xuất nông nghiệp sản xuất còn gặp khó khăn do giá bán sản phẩm giảm hơn so cùng kỳ, hiệu quả sản xuất thấp, ảnh hưởng đến một bộ phận dân cư trên địa bàn.
2. Tình hình thực hiện chính sách xã hội, giảm nghèo và cứu trợ xã hội
Thực hiện trợ cấp thường xuyên gần 37.000 đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng. Ngành chức năng tổ chức chúc thọ, mừng thọ người cao tuổi nhân dịp Tết Nguyên đán 2018; các địa phương tổ chức chúc thọ, mừng thọ và gửi Thiếp Mừng thọ cho người cao tuổi 90, 100 tuổi trên địa bàn tỉnh năm 2018.
Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em: Các ngành phối hợp với Hội SAP-VN tổ chức khám sàng lọc trẻ em bị khuyết tật hệ vận động trong toàn tỉnh; Tiếp nhận và gửi hồ sơ trẻ em bị bệnh tim bẩm sinh đi phẫu thuật tại Hàn Quốc và Hà Nội; Tổng hợp danh sách, số lượng các đối tượng trẻ em bị khuyết tật hệ vận động, dị tật mắt, sứt môi - hở hàm ếch, tim bẩm sinh, các loại bệnh hiểm nghèo để có kế hoạch khám sàng lọc và phẫu thuật.
Ngoài ra các huyện, thành, thị đã tổ chức chúc thọ, mừng thọ người cao tuổi nhân dịp Tết Nguyên Đán 2018. Các Sở, Ban, ngành phổi hợp tổ chức hoạt động kỷ niệm “Ngày Công tác xã hội Việt Nam” năm 2018 với chủ đề “Công tác xã hội - Vì hạnh phúc nhân dân
Kết quả tổ chức các hoạt động an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh nhân dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018 theo báo cáo của cơ quan chức năng như sau: Các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã ủng hộ, hỗ trợ, trao tặng quà, tiền mặt và hiện vật, trị giá trên 51.151 triệu đồng, cho các gia đình chính sách, người có công có hoàn cảnh khó khăn, các hộ nghèo, hộ cận nghèo, các đối tượng bảo trợ xã hội, các bệnh nhân nghèo, có hoàn cảnh khó khăn, các bệnh nhân mắc bệnh nặng, bệnh hiểm nghèo đang điều trị tại các bệnh viện trên địa bàn tỉnh trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018. Trong đó:
+ Chương trình "Tuần cao điểm Tết vì người nghèo năm 2018" đã có 142 đơn vị tham gia ủng hộ, hỗ trợ chương trình và đã huy động các nguồn lực xã hội hỗ trợ cho 36 xã đặc biệt khó khăn 16,6 tỷ đồng gồm: 9.258 suất quà trị giá 4,7 tỷ đồng (các nhu yếu phẩm thiết yếu, gạo, bánh kẹo, chăn, đệm, mũ bảo hiểm, tiền mặt). 10.150 chiếc áo ấm trị giá 2,5 tỷ đồng. 195 con bò trị giá 2,95 tỷ đồng. Hỗ trợ xây và sửa chữa 74 nhà trị giá 3,7 tỷ đồng. Tặng 143 xe đạp cho trẻ em nghèo trị giá 210 triệu đồng. Hỗ trợ làm mới 300m đường bê tông, 01 bộ máy vi tính, đỡ đầu 05 học sinh nghèo có hoàn cảnh khó khăn, 01 vườn cổ tích cho trường mầm non, 02 bộ âm li, loa đài trị giá 500 triệu đồng.
Ngoài ra còn hỗ trợ khám và phẫu thuật đục thủy tinh thể cho các bệnh nhân nghèo trị giá 1 tỷ đồng, trong đó giai đoạn 1 đã khám cho 599 người và phẫu thuật đục thủy tinh thể cho 77 bệnh nhân.  Tặng quà các đối tượng xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng  tập trung, các bệnh nhân nghèo, có hoàn cảnh khó khăn, các bệnh nhân mắc bệnh nặng, bệnh hiểm nghèo đang điều trị tại các bệnh viện trên địa bàn tỉnh trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất trị giá quà tặng là 549 triệu đồng. Hỗ trợ quỹ vì người nghèo các huyện Phú Lương, Võ Nhai, Đại Từ và Thành phố Sông Công: 500 triệu đồng.
+ Thăm và tặng quà cho đối tượng người có công với cách mạng gồm 69.747 suất quà, trị giá 22 tỷ đồng. Trong đó: Quà của Chủ tịch nước: 21.730 suất trị giá 4.548,8 triệu đồng. Quà theo Nghị quyết HĐND tỉnh: 19.182 suất trị giá 4.795,5 triệu đồng. Quà của tỉnh: 223 suất trị giá 306,8 triệu đồng.  Quà của cấp huyện, cấp xã, các tổ chức, cá nhân: 28.612 suất trị giá 12.348,9 triệu đồng.
+ Tặng quà, trợ giúp xã hội cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh trị giá 9.639 triệu đồng (Quà của cấp huyện, cấp xã, các tổ chức, cá nhân 16.325 suất trị giá 7.793 triệu đồng;  Cứu trợ đột xuất 8.555 nhân khẩu trị giá 1.846 triệu đồng).
+ Quà Tết cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và hoàn cảnh khó khăn: 2.770 suất quà, trị giá 903 triệu đồng (Quà của các tổ chức, cá nhân 100 suất trị giá 114 triệu đồng; Quà của cấp huyện, cấp xã  2.670 suất trị giá 789 triệu đồng).
+ Các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, các cơ quan, đơn vị đã tổ chức các hoạt động thăm hỏi, tặng quà, hỗ trợ các gia đình chính sách, người có công có hoàn cảnh khó khăn, các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn ở cơ quan, đơn vị mình trị giá gần 2 tỷ đồng.
3. Lao động, việc làm và An toàn lao động
Ngành chức năng tổ chức Ngày hội việc làm Xuân Đinh Dậu năm 2018, tham gia ngày hội có 35 đơn vị, doanh nghiệp và các trường nghề trong và ngoài tỉnh; với nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp là hơn 30 ngàn người. Trong ngày hội đã diễn ra các hoạt động tư vấn giới thiệu việc làm, tư vấn học nghề, tuyên truyền chính sách pháp luật về lao động, việc làm, dạy nghề, BHTN… thu hút được sự tham gia của hơn 2.000 lượt người lao động. Tại ngày hội đã có 1.243 lao động đăng ký và được các doanh nghiệp, nhà trường tuyển dụng. Trong đó: Các doanh nghiệp tuyển dụng làm việc trong nước 774 lao động; các trường tuyển sinh đào tạo nghề 208 học sinh; số lao động đăng ký xuất khẩu lao động 261 1ao động.
Cấp giấy phép lao động cho 55 người nước ngoài đang làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, trong đó cấp lại là 37 trường hợp.
Ngành chức năng hối hợp với các địa phương  huyện Phú Lương, huyện Đại Từ và Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên tổ chức tuyển dụng lao động thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo thuộc 02 huyện vào làm việc tại Công ty và các đơn vị phụ trợ của Công ty, kết quả như sau: Tại huyện Phú Lương có 233 người nghèo và người cận nghèo trúng tuyển; tại huyện Đại Từ có 270 người nghèo và người cận nghèo trúng tuyển vào làm việc tại Công ty TNHH Samsung Elecstronics Việt Nam Thái Nguyên và các đơn vị phụ trợ của công ty.
Thực hiện các bước xây dựng kế hoạch tổ chức Tháng hành động về an toàn - vệ sinh lao động năm 2018.
4. Hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin tuyên truyền
Trong Quý I/2018, trên địa bàn đã tổ chức các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, triển lãm, thể thao, tổ chức bắn pháo hoa, hội báo xuân… mừng Đảng, mừng xuân, phục vụ nhiệm vụ chính trị, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ đời sống tinh thần của nhân dân, vận động nhân dân tiếp tục giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc trong dịp đón Xuân vui Tết cổ truyền, bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan; thực hiện nếp sống văn minh trong hoạt động lễ hội.
Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm: Ngành chức năng đã tổ chức kiểm tra 25 lượt cơ sở hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, du lịch; 8 lễ hội; 2 buổi biểu diễn nghệ thuật; việc thực hiện quảng cáo của 15 tổ chức, cá nhân, nhắc nhở các quy định trong lễ hội, chấn chỉnh một số tồn tại và các hành vi sai phạm, góp phần tích cực đưa các cơ sở kinh doanh hoạt động theo đúng quy định.
Hoạt động bảo tàng: Tổ chức triển lãm “Trưng bày và giới thiệu về tỉnh Thái Nguyên” tại Không gian văn hóa Trà Tân Cương phục vụ chương trình gặp mặt, chúc tết người Thái Nguyên ở nước ngoài về quê hương; sưu tầm đợt I/2018 với chủ đề “Sưu tầm tài liệu hiện vật lịch sử văn hóa qua các thời kỳ; văn hóa phi vật thể nhóm dân tộc Tày, Nùng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”; xây dựng kế hoạch sưu tầm đợt 2 với chủ đề “ Nghiên cứu, sưu tầm tài liệu hiện vật thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Đại đội 915- đội 91 thanh niên xung phong Bắc Thái hy sinh năm 1972”. Phối hợp tổ chức lễ hội “Hương sắc Trà xuân- Vùng chè đặc sản Tân Cương”; đón tiếp 4.500 lượt khách tham quan trong đó có 420 lượt khách nước ngoài.
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật, phát hành phim và chiếu bóng: Tổ chức 28 buổi biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị, đối tượng chính sách; 316 buổi chiếu phim (04 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị, 312 buổi phục vụ các xã vùng khó khăn, đối tượng chính sách), phục vụ 17.380 lượt người xem.
Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở: Thực hiện 30 buổi tuyên truyền và biểu diễn nghệ thuật mừng Đảng, mừng Xuân, phục vụ lễ hội, sự kiện chính trị. Xây dựng kế hoạch, khảo sát xây dựng điểm mô hình, mẫu hình hoạt động văn hóa, văn nghệ, nhà văn hóa. Triển khai các hoạt động tổng kết công tác xây dựng Đảng, phong trào thi đua yêu nước, kỷ niệm 88 năm ngày thành lập Đảng (03/02/1930-03/02/2018).
Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng Nông thôn mới: tổ chức các hoạt động, sơ kết 05 năm thực hiện Đề án tổ chức ngày Quốc tế hạnh phúc 20/3. Đánh giá thực hiện Đề án “Tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình Việt Nam giai đoạn 2010-2020. Thực hiện 06 số chuyên mục tuyên truyền phong trào dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, nếp sống văn hóa và gia đình của tỉnh trên đài phát thanh và truyền hình.
Lĩnh vực thể thao: Tổ chức tuyển sinh, nâng cao chất lượng đào tạo 181 học sinh năng khiếu hệ nội trú, 40 học sinh bán trú. Đạt 01 huy chương vàng giải cờ vua quốc tế tại Lào; 29 huy chương, 01 cờ Nhì và 01 cờ Ba toàn đoàn tại giải Taekwondo. Phối hợp với Công an tỉnh tổ chức cho học sinh học tập về công tác an ninh trật tự; phòng chống các tệ nạn xã hội và an toàn giao thông.
Các đội tuyển, thể thao thành tích cao (vật nam, nữ; kích boxing, đua thuyền, wushu, bóng đá, bóng chuyền) tập trung tập luyện, chuẩn bị tham gia các giải toàn quốc theo kế hoạch. Chuẩn bị cơ sở vật chất phục vụ tổ chức các môn thi đấu trong chương trình Đại hội TDTT tỉnh Thái Nguyên lần thứ VIII/2018; xây dựng kế hoạch tham gia Đại hội TDTT toàn quốc.
5. Công tác y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng chống dịch bệnh
Trên địa bàn tỉnh trong 03 tháng đầu năm 2018 không có dịch bệnh lớn xảy ra. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 21/3, có 3 ca sốt xuất huyết, 49 ca quai bị, 101 ca thủy đậu, 1.031 ca cúm thường. Các bệnh truyền nhiễm thông thường khác không có diễn biến đặc biệt. Trong quý 1/2018 có 01 ca tử vong do bệnh dại ngày 05/2/2018 tại phường Phố Cò, thành phố Sông Công.          
- Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong quý 1/2018 không có vụ ngộ độc thực phẩm tập thể xảy ra trên địa bàn tỉnh. Các ngành chức năng triển khai các hoạt động và tuyên truyền nhằm bảo đảm An toàn thực phẩm Tết Nguyên đán Mậu Tuất và mùa Lễ hội Xuân 2018. Thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành và chuyên ngành, kiểm tra an toàn thực phẩm theo phân cấp quản lý.  Trong dịp Tết, đã kiểm tra 20 cơ sở thực phẩm trong đó: 5 cơ sở sản xuất, 02 kinh doanh dịch vụ ăn uống, 11 cơ sở kinh doanh tạp hóa bánh kẹo tết, 02 bếp ăn tập thể. Qua kiểm tra có 11/20 cơ sở đã chấp hành nghiêm túc quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm, 9 cơ sở sản xuất, kinh doanh bị xử lý vi phạm hành chính về mất an toàn thực phẩm và thu nộp nhà nước tổng số tiền phạt 10,1 triệu đồng. Các huyện, thành, thị đã thành lập 159 đoàn kiểm tra, thực hiện kiểm tra tại 1.559 lượt cơ sở, xử lý vi phạm 98 cơ sở, số tiền phạt trên 80,3 triệu đồng.
- Công tác khám chữa bệnh: Trong quý I/2018, ngành chức năng đã giao chỉ tiêu kế hoạch giường bệnh, chỉ tiêu chuyên môn cho các cơ sở khám chữa bệnh; Đảm bảo tốt công tác thường trực, khám, cấp cứu dịp Tết Nguyên đán và các lễ hội, sự kiện đầu năm.
- Công tác quản lý hành nghề y dược: Duy trì việc thẩm định đủ điều kiện cấp phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh  cho các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân. Thẩm định hồ sơ cấp mới, cấp lại, thay đổi bổ sung chứng chỉ hành nghề y, dược; cơ sở đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm; cấp phép hoạt động phòng khám tư nhân.
- Dân số và trẻ em: Hai tháng đầu năm 2018, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 2.443 trẻ mới sinh; trong đó, số trẻ em nam sinh ra là 1.248 (chiếm 55,08% tổng số trẻ sinh ra); số trẻ em nữ sinh ra là 1.195 (chiếm 44,92% tổng số trẻ sinh ra). Tỷ số giới tính khi sinh nam/nữ là 104,4/100. Trong tổng số trẻ mới sinh có 260 trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên, chiếm 10,64% tổng số trẻ sinh. Trong đó, huyện Phú Bình có trẻ sinh ra là con thứ 3 nhiều nhất là 50 trẻ, thành phố Thái Nguyên 36 trẻ, huyện Đại từ 35 trẻ… So với 2 tháng đầu năm 2017, số trẻ em mới sinh giảm 13 trẻ nhưng sinh con thứ 3 trở lên tăng 72 trẻ.
6. Giáo dục phổ thông
Ngành chức năng tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện các cấp học, đặc biệt chất lượng học sinh cuối cấp; quan tâm bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh năng khiếu, phụ đạo học sinh yếu các cấp học.
Ngành chức năng đã tổ chức triển khai, thực hiện nghiêm túc Khung kế hoạch thời gian năm học 2017-2018 theo quy định. Kết quả cuộc thi khoa học kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh trung học năm 2018 tỉnh Thái nguyên đạt 2 giải Ba và 1 giải Tư.
- Thực hiện đề án xây dựng hệ thống trường đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 2016-2020, tính đến thời điểm 20/03/2018, toàn tỉnh có 547/679 trường đạt chuẩn quốc gia đạt tỷ lệ 80,56% (về trước 2 năm so với chỉ tiêu Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh giao); Trong đó: Mầm non: 181/230 trường đạt tỷ lệ 78,7%; Tiểu học: 218/ 228 trường đạt tỷ lệ 95,61%; THCS: 132/189 trường đạt tỷ lệ: 69,84%;  THPT: 16/32 trường đạt tỷ lệ: 50%. Có 21 trường Mầm non, 31 trường Tiểu học đạt chuẩn Mức độ 2, chiếm tỷ lệ 13,03% số trường Mầm non và Tiểu học đạt chuẩn.   
7. Tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội
- Tình hình an ninh trật tự: Quý I/2018 trên địa bàn cơ bản ổn định, lực lượng an ninh đã tổ chức tăng cường xuống cơ sở, nắm bắt tình hình và triển khai các biện pháp công tác, chủ động phương án đối phó, giải quyết kịp thời các vấn đề có liên quan…
Tình hình an ninh trật tự, an toàn trong dịp Tết: Lực lượng an ninh đã tổ chức tăng cường xuống cơ sở, làm tốt công tác nắm bắt tình hình và triển khai các biện pháp công tác để chủ động có phương án đối phó, giải quyết kịp thời các vấn đề liên quan đến an ninh chính trị, không để xảy ra các tình huống phức tạp về an ninh chính trị, đặc biệt là hoạt động gây rối, chống phá về an ninh chính trị của các thế lực phản động... Tình hình an ninh, chính trị trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất ổn định, không có các vụ việc phức tạp, nổi cộm về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội xảy ra.
Tội phạm về trật tự xã hội trong 3 ngày Tết: Xảy ra 06 vụ, làm bị thương 02 người, thiệt hại tài sản khoảng 24 triệu đồng. Gồm các loại án: Cố ý gây thương tích: 02 vụ (Phú Bình; Phú Lương); huỷ hoại tài sản: 04 vụ (TP. Thái Nguyên: 01; TX. Phổ Yên: 02; Đại Từ: 01). Bắt 01 đối tượng truy nã (TP. Thái Nguyên).
Về quản lý, sử dụng pháo: ngành chức năng tăng cường công tác tuyên truyền về quản lý và sử dụng pháo. Trong đợt cao điểm Tết Mậu Tuất 2018  đã bắt 31 vụ/37 đối tượng buôn bán hàng cấm (pháo) và thu trên 660 kg pháo các loại; bắt 01 vụ/01 đối tượng mua bán trái phép vật liệu nổ và thu giữ 12,9 kg thuốc nổ (Phú Lương).
- An toàn giao thông: Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh, trong tháng 3/2018 trên địa bàn tỉnh xảy ra 6 vụ tai nạn giao thông (thuộc đường bộ), làm chết 2 người và bị thương 4 người. So với cùng kỳ, số vụ tai nạn giảm 6 vụ (tương đương -50,0%), giảm 1 người chết và 15 người bị thương. Trong tháng đã kiểm tra lập biên bản xử lý vi phạm 1.908 trường hợp; tước 234 giấy phép lái xe; tạm giữ 92 xe ô tô, 244 xe mô tô; 07 phương tiện khác; số tiền xử phạt 2,3 tỷ đồng (thuộc đường bộ). Về đường thủy nội địa xử lý 4 trường hợp vi phạm, thu nộp kho bạc nhà nước 0,3 triệu đồng.
Tính chung Quý I/2018, tình hình trật tự an toàn giao thông đường sắt, đường thủy ổn định, không xảy ra tai nạn giao thông. Trên đường bộ, đã xảy ra 23 vụ tai nạn giao thông, làm chết 11 người và bị thương 19 người. So với cùng kỳ năm 2017, số vụ tai nạn giao thông giảm 16 vụ (-41,02%); số người chết giảm 10 người (-47,61%); số người bị thương giảm 13 người (-40,62%). Trong đó, huyện Đại Từ không xảy ra vụ tai nạn giao thông nào; Thành phố Thái Nguyên xảy ra 10 vụ (chiếm 43,5% tổng số), có 1 người chết (giảm 3 người so với cùng kỳ) và 12 người bị thương; Thị Xã Phổ Yên xảy ra 3, làm chết 4 người  và bị thương 2 người (giảm 3 vụ, nhưng tăng 2 người chết và 1 người bị thương)…
- Công tác phòng, chống tệ nạn xã hội: Tính từ đầu năm đến ngày 15/3/2018 toàn tỉnh đã tổ chức cai nghiện cho 200 người, bằng18,1% so với kế hoạch năm; trong đó: Cai nghiện tự nguyện tại gia đình 18 người; cai nghiện tại các cơ sở cai nghiện 182 người.
Điều trị methadone tại các cơ sở cai nghiện là 373 người. (Cơ sở Phú Lương 39 người; cơ sở Thị xã Phổ Yên 33 người; Cơ sở tư vấn và điều trị cai nghiện ma túy tỉnh 23 người; Cơ sở tư vấn và điều trị nghiện tự nguyện tỉnh 179 người; Cơ sở tư vấn và điều trị cai nghiện ma túy tỉnh 68 người).
8. Vi phạm môi trường
Trong tháng 3 năm 2018 trên địa bạn tỉnh ngành chức năng đã kiểm tra và xử lý 1 vụ vi phạm môi trường ở Thành phố Thái Nguyên với tổng số tiền xử phạt khoảng 2 triệu đồng. Tính chung trong 3 tháng đầu năm 2018, các ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra và xử lý 17 vụ vi phạm môi trường, nguyên nhân của các vụ xử lý trên là do các cơ sở sản xuất kinh doanh không thực hiện quan trắc giám sát môi trường theo đề án bảo vệ môi trường được Sở Tài Nguyên Môi trường xác nhận. Tổng số tiền thu và nộp vào ngân sách nhà nước 76 triệu đồng.
9.  Phòng chống cháy nổ
Các ngành chức năng của Tỉnh đã tiến hành kiểm tra phòng cháy, chữa cháy tại các cơ quan đơn vị trên địa bàn toàn tỉnh; qua kiểm tra đã nhắc nhở những thiếu sót trong phòng cháy chữa cháy và lập biên bản xử lý các trường hợp vi phạm nhằm hạn chế các vụ cháy nổ xảy ra.
Trong tháng qua trên địa bàn tỉnh xảy ra 16 vụ cháy, trong đó có 11 vụ cháy xảy ra tại Thành phố Thái Nguyên, 2 vụ tại Thị xã Phổ Yên, 2 vụ tại  huyện Phú Bình, 1 vụ tại huyện Phú Lương. Ước thiệt hại khoảng 412 triệu đồng. Tính chung 3 tháng đầu năm 2018, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 37 vụ cháy, không có thiệt hại về người. Ước tính tổng giá trị thiệt hại khoảng 2 tỷ đồng.
Trên đây là tình hình kinh tế - xã hội chủ yếu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên tháng 3 và quý I/2018./.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

CHUYÊN MỤC
dieutradanso2019

hoc tap lam theo HCM

tong cuc thong ke

luat thong ke 1

cong thong tin thai nguyen


Dieu tra DN 2018

anh minh hoa 1
 
anh tuyen dung
Thống kê website
  • Đang truy cập67
  • Hôm nay
  • Tháng hiện tại
  • Tổng lượt truy cập
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây