Tình hình kinh tế - xã hội Quý IV và Năm 2018 tỉnh Thái Nguyên

Thứ sáu - 28/12/2018 19:42
Năm 2018 kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh giữ được đà tăng trưởng; các chỉ tiêu kinh tế cơ bản như: Giá trị sản xuất công nghiệp duy trì quy mô cao và đạt tốc độ tăng khá, tạo động lực cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa; xuất khẩu và thu ngân sách trên địa bàn đều đạt cao; cung cầu hàng hóa được đảm bảo; sản xuất nông nghiệp nhìn chung phát triển tốt do dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên đàn gia súc gia cầm không phát sinh, giá bán sản phẩm chăn nuôi đang duy trì ở mức cao. An ninh trật tự, an toàn xã hội được đảm bảo; các chính sách xã hội được chú trọng và thực hiện đầy đủ, tạo điều kiện ổn định và cải thiện đời sống dân cư. Bên cạnh đó còn tồn tại những khó khăn, thách thức như: chỉ số giá tiêu dùng vẫn tiềm ẩn nguy cơ tăng cao; một số sản phẩm công nghiệp truyền thống của tỉnh tiêu thụ khó khăn; tình hình thiên tai… ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân.
Trên cơ sở kết quả thực hiện 11 tháng và ước tính số liệu tháng 12, Cục Thống kê dự báo tình hình và kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội cả năm 2018 trên địa bàn tỉnh như sau:
A. KẾT QUẢ THỰC HIỆN SO SÁNH VỚI CHỈ TIÊU KẾ HOẠCH
Năm 2018 hầu hết các chỉ tiêu hoàn thành và vượt kế hoạch đề ra. Cụ thể:
1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn năm 2018 ước đạt 10,44%, xấp xỉ đạt chỉ tiêu kế hoạch (chỉ tiêu kế hoạch là tăng 10,5%).
2. GRDP bình quân đầu người ước đạt 77,7 triệu đồng, cao hơn mục tiêu kế hoạch (kế hoạch là 74 triệu đồng), tăng 9,6 triệu đồng/người/năm so với năm 2017. Nếu tính theo Đô la Mỹ, năm 2018 đạt 3.375 USD/người/năm.
3. Giá trị sản xuất công nghiệp cả năm 2018 (theo giá so sánh năm 2010) ước đạt 670,1 nghìn tỷ đồng, tăng 13,4% so cùng kỳ và bằng 103,8% kế hoạch; trong đó, công nghiệp nhà nước trung ương 17,4 nghìn tỷ đồng, bằng 98,6% kế hoạch, tăng 5,1% cùng kỳ; công nghiệp địa phương quản lý 25,1 nghìn tỷ đồng, tăng 15,3% cùng kỳ và bằng 105,1% kế hoạch; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 627,6 nghìn tỷ đồng, tăng 13,5% so với cùng kỳ và bằng 103,9% kế hoạch.
4. Giá trị xuất khẩu trên địa bàn ước đạt 25,06 tỷ USD, tăng 10,2% so cùng kỳ và đạt 100,3% kế hoạch, trong đó, xuất khẩu địa phương là 448 triệu USD, bằng 119,6% kế hoạch và tăng 47,5% so với năm 2017.
5. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2018 trên địa bàn ước đạt 14 nghìn tỷ đồng, tăng 10% so với năm 2017 và bằng 107,3% dự toán; trong đó thu nội địa 10,8 nghìn tỷ đồng, bằng 109,2% dự toán; thu xuất nhập khẩu 3,2 nghìn tỷ đồng, bằng 100% dự toán.
6. Tốc độ tăng giá trị sản xuất Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2018 so với năm 2017 là 4,1%, vượt kế hoạch (kế hoạch 3,5%); trong đó ngành trồng trọt tăng 1,8%; ngành chăn nuôi tăng 5,3%.
7. Giá trị sản phẩm/1 ha đất nông nghiệp trồng trọt năm 2018 ước đạt 95 triệu đồng, đạt chỉ tiêu kế hoạch, tăng 3,6 triệu đồng so với năm 2017.
8. Sản lượng lương thực có hạt cả năm 2018 ước đạt 466,72 nghìn tấn, tăng 1,7% (tăng 7,92 nghìn tấn) so với năm 2017 và bằng 107,3% kế hoạch. Trong đó, sản lượng thóc là 386,89 nghìn tấn, bằng 107,5% kế hoạch; sản lượng ngô 79,83 nghìn tấn, bằng 106,4% kế hoạch. 
9. Diện tích trồng rừng mới tập trung toàn tỉnh đạt 5.946 ha, giảm 19,6% so với năm 2017 và bằng 167,7% kế hoạch, trong đó, địa phương trồng rừng tập trung theo Dự án Bảo vệ và Phát triển rừng bền vững năm 2018 đạt 3.164 ha, bằng 104,1% kế hoạch.
10. Diện tích trồng chè mới và trồng lại toàn tỉnh cả năm 2018 ước đạt 1.037 ha, bằng 133,6% kế hoạch, giảm 1,7% so cùng kỳ; trong đó chè trồng lại là 667 ha bằng 104% kế hoạch.
11. Tỷ lệ che phủ rừng tính đến hết năm 2018 đạt 52%, hoàn thành kế hoạch.
12. Giảm tỷ suất sinh thô so với năm 2018 là 0,1 phần nghìn, hoàn thành kế hoạch.
13. Số lao động được tạo việc làm mới tăng thêm toàn tỉnh dự ước cả năm 2018 đạt 18 nghìn lao động, bằng 120% kế hoạch; trong đó xuất khẩu lao động là 1.100 người, bằng 104,5% cùng kỳ và bằng 110% kế hoạch.
15.Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng năm 2018 là 11,9%, hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch.
16.Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh năm 2018 ước giảm 2% so với năm 2017 và hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch.
17. Tỷ lệ số xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế năm 2018 ước đạt 92,2%, vượt so với chỉ tiêu 92% của kế hoạch đề ra.
18. Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế năm 2018 là 98,1%, cao hơn mức 97,1% của năm 2017.
19. Số xã được công nhận đạt tiêu chí nông thôn mới trong năm là 19 xã.
20. Tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa năm 2018 là 90,10% (kế hoạch 88,5%); Tỷ lệ xóm, làng, tổ dân phố đạt chuẩn văn hóa là 82% (kế hoạch 70%); Tỷ lệ cơ quan đạt chuẩn văn hóa là 94,64% (kế hoạch 90%).
B. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CỦA TỪNG NGÀNH, LĨNH VỰC CHỦ YẾU
I. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu về kinh tế
1. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tổng sản phẩm trong tỉnh năm 2018 ước tính tăng 10,44% so với năm 2017 (kế hoạch là 10,5%); trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp thuỷ sản tăng 4,15%, đóng góp 0,5 điểm phần trăm vào tốc độ tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 13,2%, đóng góp 8,1 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ và thuế sản phẩm tăng 6,28%, đóng góp 1,9 điểm phần trăm vào tốc độ tăng trưởng chung.
Mặc dù đạt xấp xỉ mục tiêu kế hoạch là 10,5% nhưng vẫn có thể đánh giá là năm có tốc độ tăng trưởng cao và là một trong số các tỉnh có tốc độ tăng trưởng cao. Với dự ước tăng trưởng năm 2018 đạt 10,44%, nếu năm 2019 tốc độ tăng trưởng đạt 9%, năm 2020 tốc độ tăng trưởng đạt 8% thì tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2015-2020 sẽ đạt mức 11,27%/năm, vượt mục tiêu Đại hội đề ra (mục tiêu từ 10% trở lên).
Về cơ cấu nền kinh tế năm 2018, do ngành công nghiệp tăng cao trong 4 năm trở lại đây nên khu vực công nghiệp xây dựng chuyển dịch rất nhanh, năm 2018 dự ước chiếm 57,2%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 10,9%; khu vực dịch vụ và thuế sản phẩm chiếm 31,9%.
* Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) bình quân đầu người của tỉnh Thái Nguyên năm 2018 ước đạt 77,7 triệu đồng/người/năm, tăng hơn 9,6 triệu đồng/người/năm so với năm 2017 và vượt kế hoạch đề ra. Nếu tính theo Đô la Mỹ, GRDP bình quân đầu người tỉnh Thái Nguyên năm 2018 đạt 3.375 USD/người/năm (bình quân chung cả nước năm 2017 là 53,4 triệu đồng, tương đương 2.389 USD/người/năm).
2. Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm
a, Thu chi Ngân sách
- Thu ngân sách:
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn mười một tháng năm 2018 đạt 12.291 tỷ đồng, tăng 12,6% so cùng kỳ và bằng 93,7% kế hoạch. Trong tổng thu, thu trong cân đối ngân sách nhà nước đạt 12.247 tỷ đồng, tăng 12,2% so với cùng kỳ và bằng 93,4% so với dự toán cả năm; thu quản lý qua ngân sách đạt 43,8 tỷ đồng.
Trong thu cân đối, thu nội địa đạt 9.471 tỷ đồng, tăng 11,2% so cùng kỳ và bằng 95,6% dự toán cả năm; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 2.776 tỷ đồng, tăng 15,7% và bằng 86,8% dự toán cả năm 2018.
Trong thu nội địa, có 8/14 khoản thu tăng hơn so cùng kỳ: Khoản thu chiếm tỷ trọng nhiều nhất là Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài  ước đạt 2.935 tỷ đồng, chiếm 36% tổng thu nội địa và tăng 58,6% so cùng kỳ; Thu lệ phí trước bạ ước đạt 357,7 tỷ đồng, tăng 32,3%; thu khác ngân sách ước đạt 176 tỷ đồng, tăng 63,5%; thu thuế sử dụng đất phi Nông nghiệp ước đạt 16,7 tỷ đồng, tăng 20% và một số khoản thu tăng dưới 10% so cùng kỳ như thu ngân sách xã ước đạt 12,3 tỷ đồng, tăng 2,3%; thu từ hoạt động xổ số kiến thiết ước đạt 10,5 tỷ đồng, tăng 8,7%; thu từ khu vực dịch vụ ngoài quốc dân ước đạt 1.626 tỷ đồng, tăng 6,7%. Còn lại 6/14 khoản thu đạt thấp hơn so với cùng kỳ như thu từ Doanh nghiệp nhà nước trung ương và địa phương ước đạt 867 tỷ đồng, bằng 96,4%; thu cấp quyền sử dụng đất ước đạt 1.455 tỷ đồng, bằng 80% cùng kỳ; thu tiền cho thuê đất ước đạt 311 tỷ đồng, bằng 96,2%; thu phí, lệ phí ước đạt 160 tỷ đồng, bằng 78,1%; thuế bảo vệ môi trường ước đạt 367 tỷ đồng, bằng 84,7% cùng kỳ...
Ước năm 2018 tổng thu trong cân đối là 14 nghìn tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 10,1% và vượt dự toán cả năm 6,9%. Trong tổng thu cân đối, thu nội địa đạt 10,8 nghìn tỷ đồng, bằng 109,2% so với  dự toán và bằng 108,1% so với cùng kỳ; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 3,2 nghìn tỷ đồng, bằng 117,7% so với cùng kỳ và bằng 100% dự toán cả năm. Trong thu nội địa, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 3,7 nghìn tỷ, chiếm 34% tổng thu nội địa, tăng gấp 1,8 lần so cùng kỳ và gấp 1,1 lần so dự toán; tiếp đến là thu từ khu vực dịch vụ nước ngoài quốc doanh ước đạt 1,7 nghìn tỷ, tăng 1,6% so cùng kỳ và tăng 12,4% so dự toán; thu cấp quyền sử dụng đất ước đạt 1,6 nghìn tỷ dồng, tăng 23,1% so với dự toán năm 2018 …Trong 14 khoản thu hầu hết các khoản thu đều đạt và vượt dự toán năm, tuy nhiên chỉ có thuế bảo vệ môi trường ước đạt 413 tỷ đồng, chỉ đạt 78% dự toán năm 2018.
- Chi ngân sách:
Tổng chi ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh mười một tháng năm 2018 đạt 9.959 tỷ đồng, tăng 28% so với cùng kỳ và bằng 72% dự toán cả năm, trong đó chi cân đối ngân sách địa phương đạt 8.897,8 tỷ đồng tăng 25,3% so cùng kỳ và bằng 73,3% dự toán cả năm; chi chương trình mục tiêu quốc gia đạt 1.062 tỷ đồng, tăng 60% so cùng kỳ và bằng 62,6% dự toán cả năm.
Trong chi cân đối ngân sách địa phương, chi đầu tư phát triển đạt 2.168 tỷ đồng, tăng 40,1% so cùng kỳ, bằng 92% dự toán cả năm; chi thường xuyên đạt 6.729,6 tỷ đồng, tăng 21,1% so cùng kỳ, bằng 85,5% dự toán cả năm 2018.
Trong tổng chi thường xuyên có 10/11 khoản chi tăng so cùng kỳ như: chi sự nghiệp giáo dục đào tạo và dạy nghề đạt 2.699,7 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 40% tổng chi thường xuyên), tăng 29,1% so cùng kỳ, bằng 80,6% dự toán cả năm, là khoản chi lớn nhất trong tổng chi thường xuyên; chi sự nghiệp phát thanh truyền hình đạt 54,2 tỷ đồng, tăng 28,8% so cùng kỳ và bằng 64,4% dự toán năm; chi quốc phòng an ninh địa phương đạt 201,4 tỷ đồng, tăng 27,6% so cùng kỳ và bằng 98,5% dự toán năm. Còn lại 1/11 khoản chi thấp so cùng kỳ như chi khác của ngân sách ước đạt 67,4 tỷ đồng, đạt 94,4% so cùng kỳ và bằng 87% dự toán năm.
Ước tính cả năm 2018, tổng chi ngân sách địa phương đạt 14,6 nghìn tỷ đồng, bằng 101,1% so với cùng kỳ và vượt 6% so với dự toán. Trong đó, chi đầu tư phát triển là 2,9 nghìn tỷ đồng, bằng 72,1% so với cùng kỳ và vượt dự toán 26,9%; chi thường xuyên ước đạt 8 nghìn tỷ đồng, bằng 104,3% so với cùng kỳ và vượt dự toán 2,8%, trong đó chi sự nghiệp giáo dục đạt 3,3 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 41,6%, bằng 114,5% so với cùng kỳ và bằng 100,6% dự toán cả năm; chi quản lý hành chính đạt 1,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 19% tỷ trọng, bằng 91,7% so với cùng kỳ và vượt 2,7% dự toán; chi sự nghiệp kinh tế đạt 901 tỷ đồng, bằng 102,3% so với cùng kỳ và vượt 5,3% dự toán…
b. Hoạt động Ngân hàng
Đến thời điểm báo cáo tổng số chi nhánh ngân hàng trên địa bàn là 31 đầu mối (bao gồm 27 đầu mối chi nhánh ngân hàng trực thuộc trụ sở chính tăng 3 chi nhánh so với đầu năm, 03 quỹ tín dụng nhân dân;  01 tổ chức tài chính vi mô; 10 chi nhánh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên; 111 phòng giao dịch thuộc các ngân hàng có chi nhánh tại Thái Nguyên; 227 máy rút tiền tự động (ATM), 1.329 thiết bị chấp nhận thẻ (POS) được lắp đặt tại 1.100 địa điểm là các nhà hàng, khách sạn, siêu thị...
Các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng trên địa bàn đã thực hiện nhiều giải pháp để mở rộng tín dụng bảo đảm cung ứng vốn cho nền kinh tế, tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp và người dân. Nợ xấu thường xuyên được kiểm soát ở mức 1%/tổng dư nợ của các TCTD và được duy trì đều qua các tháng trong năm.
Để thúc đẩy sản xuất phát triển, hoạt động ngân hàng đã thực hiện các chương trình tín dụng theo hướng mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn, chất lượng tín dụng, đảm bảo cung ứng vốn cho các lĩnh vực ưu tiên, cho nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi trong tiếp cận vốn ngân hàng, đẩy mạnh giải ngân vốn góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và quốc gia năm 2018 và những năm tiếp theo.
Về lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam tiếp tục ổn định so với cuối năm 2017, phổ biến ở mức 0,8-1%/năm đối với lãi suất huy động tiền gửi kỳ hạn dưới 1 tháng; từ 4,5-5,3%/năm đối với kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; từ 5,3-8%/năm đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Về lãi suất cho vay bằng Việt Nam đồng đối với các lĩnh vực ưu tiên là 6,5%/năm. Lãi suất cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,8%-9%/năm đối với ngắn hạn, từ 9%-11%/năm đối với trung và dài hạn.
Kết quả hoạt động tín dụng: Tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tính đến 30/11/2018 đạt 52,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,8% so với 31/12/2017. Ước đến 31/12/2018 đạt 55.000 tỷ đồng, tăng 17,3% so với 31/12/2017.  
Dư nợ cho vay đối với nền kinh tế của các tổ chức tín dụng tính đến 30/11/2018 đạt 50,74 nghìn tỷ đồng, tăng 9,88% so với 31/12/2017. Ước đến 31/12/2018 đạt 52.000 tỷ đồng, tăng 12,6% so với 31/12/2017.  Nợ xấu 450 tỷ đồng chiếm 0,89%/tổng dư nợ.
Dư nợ tín dụng ưu đãi là 4,2 nghìn tỷ đồng, giảm 6,27% so với 31/12/2017.
Hoạt động ngân hàng đã đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh; tiếp tục tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, cung ứng vốn hiệu quả cho nền kinh tế góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
3. Giá cả, lạm phát
Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng từ đầu năm liên tục có xu hướng tháng sau tăng hơn tháng trước, riêng chỉ có tháng 3/2018 và 03 tháng cuối năm (Tháng 10,11,12) có chỉ số giá tiêu dùng giảm nhẹ so với tháng trước, còn lại 8 tháng có chỉ số giá tiêu dùng tăng. Nguyên nhân chủ yếu là do Nhà nước điều chỉnh tăng giá điện vào 01/12/2017; giá nước vào tháng 01/2018 và điều chỉnh tăng học phí theo lộ trình, giữa tháng 12/2018 giá dịch vụ y tế đã điều chỉnh tăng... Bên cạnh đó có các yếu tố tác động đến mức giảm chỉ số giá chung là: giá nhóm thiết bị điện thoại, nhóm giao thông giảm nên chỉ số giá nhóm giao thông, nhóm bưu chính viễn thông giảm.
Tính riêng Quý IV/2018 so với cùng kỳ năm trước, bình quân chỉ số giá tăng 3,79% so với bình quân Quý IV/2017. Có 9/11 nhóm hàng hóa tăng, tăng nhiều nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,42%; nhóm giao thông tăng 5,72%; nhóm đồ dùng và dịch vụ khác tăng 4,63% và có duy nhất nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng thấp nhất so các nhóm hàng hóa tăng, tăng 0,5%. Có 2/11 nhóm có chỉ số giá giảm như nhóm thuốc và dịch vụ y tế giảm 1,04% và nhóm bưu chính viễn thông 1,29%.
Bình quân 12 tháng năm 2018, chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,16% so với bình quân cùng kỳ( nhóm hàng hóa tăng 3,65% và nhóm dịch vụ tăng 2,57%). Trong đó, nhóm giao thông tăng 6,18% (do giá nhiên liệu tăng 14,2%); nhóm đồ dùng và dịch vụ khác tăng 5,19% (do giá dịch vụ về hiếu hỉ tăng 7,95%); nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,33% (do giá thịt gia súc tươi sống tăng 11,3%)... còn lại 2/11 nhóm có chỉ số giá bình quân giảm như nhóm thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,55% và nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,77%.
- Tính riêng tháng 12/2018, do chỉ số giá nhóm lương thực và thực phẩm giảm 1,31% so với tháng trước và nhóm xăng, dầu, gas được điều chỉnh giảm 10,46% nên chỉ số giá tiêu dùng tiếp tục giảm 0,65% so với tháng trước.
Trong tháng 12/2018 có 5/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng có chỉ số giá giảm so với tháng trước và có 6/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng. Tăng cao nhất trong tháng 12 là nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 6,4%, trong đó, giá thuốc các loại tăng 0,1%, nhóm dịch vụ y tế tăng 8,9% so với tháng trước (khám chữa bệnh nội trú tăng 10,96%; khám chữa bệnh ngoại trú tăng 2,96%) do Nhà nước điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,83%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,49%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,05%; nhóm giáo dục tăng 0,06%. Bên cạnh đó, nhóm có chỉ số giá giảm nhiều nhất là nhóm giao thông giảm 4,62% (trong đó giá xăng dầu giảm 10,46%); tiếp theo là nhóm  hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,31% (giá thịt gia súc giảm 2,22%, giá dầu mỡ giảm 1,52%); còn lại 03 nhóm giảm trong khoảng từ 0,25% đến 0,93% như nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,93%, nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,25%, nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,39%.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2018 tăng 3,08% so với cùng kỳ 2017. Có 10/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng (hàng hóa tăng 2,7%; dịch vụ tăng 6,8%). Trong các nhóm hàng hóa, tăng nhiều nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống với mức tăng 5,21% (do giá thịt gia súc tươi sống tăng 16,34%, thịt chế biến tăng 16%); nhóm giáo dục tăng 3,35% (do giá đồ dùng học tập và văn phòng tăng 4,1%; dịch vụ giáo dục tăng 3,2%); nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 3,13% (do giá dịch vụ y tế tăng 4,18%); nhóm đồ dùng và dịch vụ khác tăng 3,75% (giá dịch vụ về hiếu tăng 11,8%); còn lại các nhóm tăng trong khoảng 0,27% đến 1,59% như nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,59%; nhóm may mặc tăng 1,16%, nhóm Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,67%, nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,28%; nhóm giao thông tăng 1%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,27%. Riêng chỉ có 1 nhóm chỉ số giá giảm so với cùng kỳ là nhóm Bưu chính viễn thông giảm 1,36% do nhóm thiết bị điện thoại giảm 7,7%.
Chỉ số giá vàng bình quân Quý IV/2018 giảm 1,3% so với cùng kỳ; Bình quân 12 tháng 2018 chỉ số giá vàng tăng 2,25% so với cùng kỳ và chủ yếu tăng cao ở các tháng trong Quý I/2018. Riêng tháng 12/2018 tăng 0,4% so với tháng trước và tăng 0,05% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số giá Đô la Mỹ bình quân quý IV năm 2018 tăng 2,69% so với cùng kỳ; Bình quân 12 tháng 2018 tăng 1,27% so với bình quân cùng kỳ. Riêng tháng 12/2018 giảm 0,04% so tháng trước và tăng 2,65% so với cùng kỳ.
4. Đầu tư và xây dựng
a. Tình hình Đầu tư
Năm 2018, tỉnh đã tổ chức thành công Hội nghị xúc tiến đầu tư, với tinh thần đổi mới về tư duy, phương pháp, cách làm và mô hình tổ chức, tại Hội nghị đã có 38 nhà đầu tư đăng ký thực hiện 50 dự án với tổng mức đầu tư trên 46 nghìn tỷ đồng. Tiếp sau thành công của Hội nghị có thêm nhiều nhà đầu tư lớn trong nước, quốc tế đến tìm hiểu cơ hội và ký biên bản ghi nhớ đầu tư. Từ sau Hội nghị Xúc tiến đầu tư (tháng 7/2018 đến nay), đã có 43 nhà đầu tư, 63 dự án, tổng vốn đăng ký đạt trên 113.000 tỷ đồng.
Để triển khai nội dung các Dự án đã thống nhất ký kết, sớm đưa các dự án đi vào hoạt động; tỉnh đã có nhiều giải pháp, trong đó tạo điều kiện giải quyết các thủ tục hành chính nhanh nhất theo quy định, đồng thời đôn đốc, phối hợp với Nhà đầu tư hoàn thiện hồ sơ, thủ tục trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định theo đúng quy định của pháp luật.
Tính chung năm 2018, tình hình thực hiện vốn đầu tư trên địa bàn của khu vực vốn trong nước tăng. Thực hiện giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2018 dự kiến đảm bảo hoàn thành kế hoạch vốn đến hết năm 2018, nhiều dự án đã giải ngân 100% kế hoạch vốn; bên cạnh đó một số dự án có tỷ lệ giải ngân thấp như vốn xổ số kiến thiết, vốn Trái phiếu Chính phủ. Tuy nhiên hiện nay các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài có quy mô lớn trên địa bàn đã cơ bản hoàn thiện và đi vào sản xuất nên vốn đầu tư tính chung trên địa bàn quý IV và cả năm giảm so với cùng kỳ.
Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội quý IV năm 2018 đạt 18,4 nghìn tỷ đồng, giảm 0,5% so với cùng kỳ. Trong đó vốn của khu vực kinh tế trong nước đạt 11,6 nghìn tỷ đồng (chiếm 63%), tăng 51% so với cùng kỳ (vốn đầu tư do nhà nước quản lý 2,4 nghìn tỷ đồng, tăng 83,7%; vốn đầu tư của dân cư và tư nhân 9,1 nghìn tỷ đồng, tăng 41,8% cùng kỳ); còn lại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 6,8 nghìn tỷ đồng, giảm 36,3% cùng kỳ.
Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn ước tính năm 2018 đạt 60 nghìn tỷ đồng, tăng 1,16% so với cùng kỳ, trong đó tăng là vốn đầu tư của khu vực kinh tế trong nước ước đạt 29,8 nghìn tỷ đồng, tăng 23,5% so với cùng kỳ (vốn đầu tư do nhà nước quản lý 6,1 nghìn tỷ đồng, tăng 41,3%; vốn đầu tư của dân cư và tư nhân 23,7 nghìn tỷ đồng, tăng 19,6% cùng kỳ); còn lại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 30,2 nghìn tỷ đồng (chiếm 50,3% tổng mức đầu tư trên địa bàn), giảm 14,2% cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài có quy mô lớn trên địa bàn đã cơ bản hoàn thiện và đi vào sản xuất nên vốn đầu tư tính chung cả năm trên địa bàn giảm hơn so với cùng kỳ.
* Kết quả triển khai các dự án giao thông trọng điểm: Giai đoạn 2016 - 2020 có 03 dự án giao thông được đưa vào danh mục các dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh.
Đến thời điểm báo cáo có 2 trong tổng số 3 dự án đã, đang triển khai đáp ứng yêu cầu. Trong đó, dự án đường Hồ Chí Minh đoạn qua địa bàn tỉnh giai đoạn I (Chợ Mới - Chợ Chu) dài 17,44 km đã cơ bản hoàn thành có thể đưa vào khai thác, sử dụng trong quý IV năm 2018. Giai đoạn II đoạn Chợ Chu - Ngã ba Trung Sơn dài 29,74 km chưa triển khai thực hiện. Dự án đường Vành đai V vùng thủ đô Hà Nội đoạn đi trùng đại lộ Đông Tây, tạo thành trục chính giữa tổ hợp khu đô thị, công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Yên Bình sẽ rút ngắn thời gian, quãng đường từ Thủ đô Hà Nội và các tỉnh khu vực miền Bắc đến với Thái Nguyên, khoảng cách từ QL.37 đến QL.3 mới (Hà Nội - Thái Nguyên) còn khoảng 10 km, thay vì 30 km trước đây. Dự án có tổng mức đầu tư 966,4 tỷ đồng. Đến nay dự án đã được Chủ đầu tư lựa chọn xong nhà thầu xây lắp, dự kiến khởi công trong tháng 10/2018 và hoàn thành trong năm 2020. Dự án nâng cấp đường Quốc lộ 1B đoạn Km100 - Km144+700 chưa triển khai theo kế hoạch.
- Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài: Tính từ đầu năm đến 16/12/2018 trên địa bàn tỉnh có 14 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư mới với tổng vốn đầu tư đăng ký là 33,8 triệu USD; trong đó, có 11 dự án trong khu công nghiệp và 3 dự án ở ngoài khu công nghiệp. So với cùng kỳ số dự án FDI cấp phép mới tăng 2 và vốn đăng ký tăng 17,9 triệu USD.
b. Xây dựng
Giá trị sản xuất xây dựng quý IV năm 2018 trên địa bàn ước đạt 6,2 nghìn tỷ đồng, tăng 18,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, đơn vị xây dựng có vốn trong nước thực hiện 6,1 nghìn tỷ đồng, tăng 27% cùng kỳ.
Giá trị sản xuất xây dựng năm 2018 trên địa bàn ước đạt 20,7 nghìn tỷ đồng, tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tăng cao nhất là doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt 10,5 nghìn tỷ đồng, tăng 22%, xây dựng khối cá thể và hộ dân cư đạt 9,7 nghìn tỷ đồng tăng 11,3% cùng kỳ; đơn vị xây dựng có vốn trong nước 20,1 nghìn tỷ đồng (chiếm 97,1% tổng số), tăng 16,2% cùng kỳ. Chia theo loại công trình, giá trị sản xuất xây dựng nhà ở đạt 9 nghìn tỷ đồng (chiếm 43,5% tổng số), tăng 8,6%; giá trị nhà không để ở đạt 3,9 nghìn tỷ đồng, tăng 4%; còn lại là giá trị các công trình kỹ thuật dân dụng và hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 7,8 nghìn tỷ đồng, tăng 21,8% cùng kỳ.
5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp:
Đăng ký kinh doanh: Tính từ đầu năm đến ngày 24/12/2018, toàn tỉnh cấp mới đăng ký kinh doanh cho 724 doanh nghiệp với số vốn đăng ký 5.177 tỷ đồng; cấp điều chỉnh thay đổi đăng ký kinh doanh cho 719 doanh nghiệp; thành lập 258 chi nhánh đơn vị trực thuộc, có 334 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh hoạt động trở lại.
6. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản và thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản năm 2018 dự ước hoàn thành, một số chỉ tiêu hoàn thành vượt mức kế hoạch được giao. Giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản (theo giá so sánh năm 2010) dự ước đạt 13.030 tỷ đồng, tăng 4,1% so với năm 2017, vượt kế hoạch (kế hoạch 3,5%); trong đó: Giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt 12.165 tỷ đồng, tăng 3,8% so với năm 2017 (trồng trọt tăng 1,8%, chăn nuôi tăng 5,3%); giá trị sản xuất lâm nghiệp ước đạt 465 tỷ đồng, tăng 6,4% so với năm 2017; giá trị sản xuất thủy sản đạt khoảng 400 tỷ đồng, tăng 11,2% so với năm 2017.
Giá trị sản phẩm/1ha đất nông nghiệp trồng trọt dự ước 95 triệu đồng/ha, đạt chỉ tiêu kế hoạch, tăng 3,6 triệu đồng so với năm 2017.
* Trồng trọt
- Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm 2018 đạt 116 nghìn ha, giảm  1,5% (- 1,7 nghìn ha) so với năm 2017 (vụ Đông xuân là 62 nghìn ha, giảm  1,8%; vụ Mùa 53,9 nghìn ha, giảm 1,2% cùng kỳ). Trong đó, giảm hầu hết ở các cây; cây lương thực có hạt diện tích là 87,8 nghìn ha, giảm 1,1% cùng kỳ; Cây khoai lang đạt 3,6 nghìn ha, giảm 14,5% so cùng kỳ (giảm 617 ha); cây đỗ tương đạt 721 ha, giảm 84 ha (-10,4%); cây lạc đạt 3,5 nghìn ha, giảm 6,6%...riêng cây rau đạt 13,6 nghìn ha, tăng 0,8% so cùng kỳ và tăng 109 ha (chủ yếu tăng ở vụ Mùa).
Về cơ cấu diện tích gieo trồng trong các nhóm cây hàng năm, cây lương thực có hạt chiếm khoảng 75,7%; cây lấy củ có chất bột chiếm 5,6%; cây rau đậu, hoa cây cảnh chiếm khoảng 13%, các loại cây khác chiếm 5,7%.
Tính riêng cây lúa, năm 2018 toàn tỉnh gieo cấy được 70,6 nghìn ha, trong đó vụ Đông Xuân gieo cấy được 30,1 nghìn ha, vụ mùa gieo cấy được 40,5 nghìn ha, cả hai vụ đều giảm khoảng 0,6% so cùng kỳ. Năng suất lúa vụ Mùa 2018 dự ước đạt 53,18 tạ/ha, tăng 2,9% so với vụ mùa 2017. Năng suất lúa cả năm 2018 đạt 54,75 tạ/ha, tăng 1,38 tạ/ha so với năm 2017.
Bên cạnh cây lúa, diện tích gieo trồng cây ngô cả năm đạt 17,2 nghìn ha, giảm 3,1% so với cả năm 2017. Năng suất ngô bình quân cả năm ước đạt 46,36 tạ/ha, tăng 1,65 tạ/ha so với cùng kỳ; tuy nhiên do diện tích giảm nên sản lượng ngô cả năm ước đạt 79,83 nghìn tấn, tăng 0,5% so với năm 2017 và bằng 106,4% kế hoạch.
Sản lượng lương thực cả năm 2018 ước đạt 466,72 nghìn tấn, tăng 1,7% cùng kỳ và bằng 107,3% kế hoạch, trong đó: Sản lượng thóc là 386,89 nghìn tấn, đạt 107,5% kế hoạch, tăng 2% (+7,5 nghìn tấn) so cùng kỳ; sản lượng ngô là 79,83 nghìn tấn, đạt 106,4% kế hoạch, tăng 0,5% cùng kỳ. Sản lượng rau các loại là 234,5 nghìn tấn, đạt 107,6% kế hoạch và tăng 1,7% cùng kỳ.
- Cây chè: Diện tích chè trồng mới và trồng lại toàn tỉnh cả năm 2018 ước đạt 1.037 ha, bằng 133,6% kế hoạch và giảm 1,7% (-18 ha) so với năm 2017. Trong đó chè trồng mới là 370 ha và trồng cải tạo là 667 ha.
Tổng diện tích chè hiện có tính đến cuối năm 2018 là 22 nghìn ha, tăng 1,7% so cùng kỳ, trong đó diện tích chè cho sản phẩm là 19.907 ha, tăng 1,4%. Dự ước năng suất chè bình quân chung đạt 115,9 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha (+1,28%) nên sản lượng chè búp tươi ước đạt 230,7 nghìn tấn, tăng 2,7% so với sản lượng năm 2017 và bằng 104,9% kế hoạch cả năm.
- Công tác bảo vệ thực vật: Trong năm 2018 thời tiết tương đối thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển. Tình hình dịch hại trên cây chè và cây lúa năm 2018 ít phức tạp, mật độ và diện tích nhiễm của các đối tượng dịch hại nhìn chung ở mức tương đương, hoặc thấp hơn so với cùng kỳ năm 2017. Công tác theo dõi, phát hiện sớm và dự báo đầy đủ, chính xác tình hình phát sinh gây hại, diện phân bố và mức độ gây hại của các đối tượng dịch hại trên cây trồng được thực hiện thường xuyên, do vậy việc tổ chức phòng trừ đạt hiệu quả cao, không gây thiệt hại năng suất, sản lượng cây trồng.
* Chăn nuôi
Trên địa bàn tỉnh từ đầu năm đến nay không xảy ra dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên đàn gia súc, gia cầm. Công tác thanh tra, kiểm tra, quản lý thuốc, vệ sinh thú y, kiểm dịch vận chuyển, kiểm soát giết mổ, được duy trì thực hiện. Ngành chức năng đã chỉ đạo các địa phương triển khai thực hiện nghiêm túc các biện pháp phòng, chống ngăn chặn dịch bệnh Dịch tả lợn Châu Phi lây lan vào địa bàn tỉnh.
Năm 2018, giá thịt lợn và gia cầm thời điểm đầu năm duy trì mức thấp, từ tháng 4/2018 đến nay giá bán đã tăng; Tuy nhiên, giá bình quân lợn thịt hơi 3 tháng cuối năm giảm so với quý 3/2018 và giá dao động trong khoảng từ 46-50 nghìn đồng/kg. Nguyên nhân giảm do lượng lợn thịt hơi đã đến kỳ xuất chuồng nhiều. Tháng 12/2018 giá bình quân lợn thịt hơi khoảng 46,4 nghìn đồng/kg, giảm 1,44% so với tháng 11/2018, giảm 7% so với  tháng 10/2018.
Nếu tính theo quý, trong năm 2018, Quý 2/2018 giá lợn thịt hơi cao nhất trong các quý, tăng 6,5% so với quý 4/2018 và cao gấp 1,55 lần so với quý 1/2018. Giá bình quân gà công nghiệp lông trắng thịt hơi quý 4/2018 đạt 51,5 nghìn đồng/kg, là Quý có giá bình quân cao nhất trong năm 2018, cao gấp 1,4 lần so với quý 1/2018 và tăng 3,5% so với quý 3/2018. Bên cạnh đó, giá bình quân lợn giống quý 4/2018 cao gấp 2 so với quý 1/2018; gà công nghiệp giống  cao gấp 1,4 lần so với quý 1/2018.
Tính chung quý 4/2018 chỉ số giá bán sản phẩm chăn nuôi lợn giảm 6,99% so với quý trước (3/2018) nhưng cao gấp 1,9 lần so với cùng quý năm trước (quý 4/2017); chỉ số giá bán sản phẩm chăn nuôi gia cầm tăng 1,11% so với quý 3/2018 và tăng 12,27% so với  quý 4/2017.
Dự ước sản lượng thịt hơi xuất chuồng cả năm đạt 150 nghìn tấn, tăng 5,3%  cùng kỳ và bằng 104% kế hoạch. Trong đó sản lượng lợn hơi ước đạt 103 nghìn tấn, tăng 4,8% cùng kỳ; sản lượng thịt gia cầm 40,4 nghìn tấn tăng 7,9% cùng kỳ. Riêng chăn nuôi của khu vực trang trại sản lượng thịt hơi ước đạt 33,9 nghìn tấn (thịt lợn là 20 nghìn tấn, chiếm gần 20% sản lượng lợn toàn tỉnh và thịt gà 14 nghìn tấn, chiếm 35% sản lượng gà toàn tỉnh). 
Theo kết quả điều tra chăn nuôi, tại thời điểm 1/7 hàng năm, toàn tỉnh có 773 trang trại chăn nuôi, tăng 30 trang trại (+4%) so với năm 2017 và chủ yếu tăng ở trang trại nuôi gà. Trong tổng số, trang trại nuôi lợn là 320, giảm 77 trang trại; trang trại gà là 453, tăng 107 trang trại. Số lao động thường xuyên của trang trại là 2,3 nghìn người. Giá trị sản phẩm và dịch vụ bán ra của trang trại là 1.590 tỷ đồng/năm. Bình quân 1 trang trại đạt 2 tỷ đồng, giảm so với mức 2,8 tỷ đồng/1 trang trại của năm 2017 do giá trị sản phẩm bán ra của trang trại nuôi gà nhỏ hơn trong khi cơ cấu trang trại tăng về số lượng trang trại nuôi gà và giảm trang trại nuôi lợn.
* Lâm nghiệp
Trồng rừng tập trung năm 2018 toàn tỉnh đạt 5.946 ha, chủ yếu là rừng sản xuất với 5.373 ha (chiếm 90,3%); rừng đặc dụng là 98 ha và rừng phòng hộ 475 ha. Trong đó, trồng rừng mới theo Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững năm 2018 đạt 3.164,08 ha, bằng 104,1% so kế hoạch. Trồng rừng phân tán đạt 1,3 triệu cây. Diện tích rừng được chăm sóc đạt 1.279 ha, giảm 3,3% so cùng kỳ; Diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh đạt 3.074 ha, tăng gấp 2,7 lần so cùng kỳ; Diện tích rừng được giao khoán bảo vệ đạt 16,8 nghìn ha, bằng 88,2% so cùng kỳ.
Tình hình khai thác lâm sản: Ước tính cả năm 2018 khai thác được 156 nghìn m3 gỗ, tăng 9,6% so cùng kỳ và 263 nghìn ste củi, tăng 6% so với cùng kỳ.
Từ đầu năm đến nay trên địa bàn đã xảy ra 02 vụ cháy rừng, trong đó có 01 vụ xảy ra tại xã Vinh Sơn, thành phố Sông Công với tổng diện tích là 0,19 ha rừng trồng tuổi 3 và rừng tái sinh chồi và 01 vụ xảy ra tại xã Tân Thái, huyện Đại Từ với diện tích 0,75 ha; nguyên nhân cháy đều do xử lý thực bì gây cháy lan. So với cùng kỳ, số vụ cháy rừng giảm 2 vụ, diện tích rừng bị cháy giảm 8,4 ha.
Kết quả ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng: Lũy kế 11 tháng 2018 đã phát hiện và đã xử lý 240 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, tịch thu 359 m3 gỗ quy tròn các loại (giảm 32%) và 31 phương tiện các loại và  thu nộp ngân sách 11 tháng 2018 là 2,2 tỷ đồng (tăng 2% so cùng kỳ năm 2017).
* Thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản ước đạt 5.851 ha, tăng 0,2% so cùng kỳ và bằng 97,5% kế hoạch (6000 ha); trong đó diện tích nuôi cá đạt 5.751 ha; diện tích ươm nuôi giống thủy sản đạt 100 ha. Dự ước sản lượng thủy sản cả năm khoảng 12 nghìn tấn, đạt 100% kế hoạch.
* Tiến độ thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới: Hiện nay, tỉnh đang tập trung nguồn lực, thu hút đầu tư để thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững gắn với xây dựng nông thôn thôn mới. Tính đến hết năm 2018 toàn tỉnh có 87/100 xã đạt chuẩn nông thôn mới (đạt 87% so với mục tiêu Nghị quyết đề ra), (bao gồm cả 4 xã chuyển thành phường, thị trấn), đạt tỷ lệ 60,8% tổng số xã. Nếu như năm 2019 có 13 xã về đích nông thôn mới thì sẽ hoàn thành mục tiêu Đại hội đề ra (mục tiêu đến năm 2020 hoàn thành xây dựng nông thôn mới 100 xã); có 3/9 đơn vị cấp huyện hoàn thành xây dựng nông thôn mới.
7. Sản xuất công nghiệp
Năm 2018 sản xuất công nghiệp trên địa bàn vẫn duy trì được tốc độ phát triển. Dự ước giá trị sản xuất công nghiệp cả năm 2018 trên địa bàn tỉnh (theo giá so sánh năm 2010) đạt 670,1 nghìn tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ và bằng 103,8% kế hoạch cả năm. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước ước đạt 42,5 nghìn tỷ, tăng 10,9% so với cùng kỳ, bằng 102,3% kế hoạch cả năm (bao gồm: công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp địa phương là 25,13 nghìn tỷ đồng, tăng 15,3% so với cùng kỳ và bằng 105,1% kế hoạch; công nghiệp nhà nước Trung ương đạt 17,4 nghìn tỷ đồng, tăng 5,1% cùng kỳ và bằng 98,6% kế hoạch) và công nghiệp khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 627,6 nghìn tỷ đồng, tăng 13,5% cùng kỳ và bằng 103,9% kế hoạch cả năm. Như vậy hiện nay giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng cao nhất (93,7% tổng số) công nghiệp toàn tỉnh; còn lại công nghiệp trong nước chỉ chiếm tỷ trọng 6,3% (công nghiệp địa phương chiếm 3,7% và công nghiệp nhà nước Trung ương chiếm 2,6%).
Dự ước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tháng 12/2018 giảm 10,4% so với tháng trước, tăng 10,2% với cùng kỳ. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo giảm 10,8% so với tháng trước và tăng 10,3% so với cùng kỳ; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 27,3% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,1% so với tháng trước và tăng 11,5% so với cùng kỳ.
Về sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất tháng 12/2018: Nhóm sản phẩm ước tính sản lượng tăng trên 10% so với cùng kỳ là: đá khai thác đạt 480,5 nghìn tấn, tăng 58%; sản phẩm may đạt 8 triệu sản phẩm, tăng 41,1%; nhóm giấy và bìa đạt 3,9 nghìn tấn, tăng 18,6%; camera truyền hình đạt 3,6 triệu sản phẩm, tăng 28%; tai nghe khác đạt 3,9 triệu sản phẩm, tăng 32,3%... Nhóm sản phẩm ước tính tăng dưới 10% hoặc giảm so cùng kỳ là: than sạch khai thác đạt 136 nghìn tấn, tăng 9,3%; điện thoại thông minh đạt 8,9 triệu cái, tăng 8,6%; sắt thép các loại đạt 131,1 nghìn tấn, tăng 8,1%; vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 1,4 nghìn tấn, giảm 27,1%; quặng sắt và tinh sắt chưa nung đạt 168,4 nghìn tấn, giảm 21,4%; gạch xây dựng bằng gốm xứ đạt 5,3 triệu viên, giảm 23%; xi măng đạt 193,1 nghìn tấn, giảm 13,2%; mạch điện tử tích hợp đạt 8,7 triệu sản phẩm, giảm 8,6% so cùng kỳ.
Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp quý IV/2018 tăng 12,2% so với cùng kỳ; trong đó, tăng cao nhất là sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 22,2%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng 12,2%, ngành khai khoáng tăng 5,5%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,9%.
Sản phẩm chủ yếu quý IV/2018: nhóm sản phẩm công nghiệp tăng trên 10% so với cùng kỳ như: tai nghe khác đạt 11,6 triệu sản phẩm, tăng gấp 6,5 lần; đá khai thác đạt 1,4 triệu m3, tăng 42,7%; sản phẩm may đạt 22,9 triệu sản phẩm, tăng 39,3%; giấy và bìa đạt 11,3 nghìn tấn, tăng 29,2%; sắt thép các loại đạt 389 nghìn tấn, tăng 13,1%; điện sản xuất đạt 394 Tr.Kwh, tăng 32%... Nhóm sản phẩm ước tính tăng dưới 10% hoặc giảm so cùng kỳ là: điện thương phẩm 1.212 triệu Kwh, tăng 5,7%; than khai thác 394 nghìn tấn, tăng 7,5%; đồng tinh quặng (Cu>20%) đạt 13,7 nghìn tấn, tăng 6,8%; thiết bị và dụng cụ khác trong y khoa đạt 380 triệu sản phẩm, tăng 3,2%; điện thoại thông minh đạt 28,3 triệu cái, tăng 9,2%;  gạch xây dựng bằng gốm, sứ đạt 16 triệu viên, giảm 21,8%; máy tính bảng 6,8 triệu sản phẩm, giảm 6,8%; vonfram và sản phẩm của vonfram 4,1 nghìn tấn, giảm 8,1%; xi măng 581 nghìn tấn, giảm 4,9%...
Tính chung  năm 2018, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 12,1% so với cùng kỳ; trong đó đóng góp lớn nhất là do ngành công nghiệp chế biến chế tạo với mức tăng 12,3% (tăng cao ở các nhóm ngành dệt tăng 57,4%; sản xuất đồ uống tăng 20%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 26%; chế biến gỗ tăng 28,2%; sản xuất trang phục tăng 21,9%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 31,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 13,3%); bên cạnh đó các ngành công nghiệp về điện, nước, khai khoáng mức tăng thấp hơn với mức tăng từ 3,1 đến 10,5% so với cùng kỳ như: ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước tăng 3,1%; ngành cung cấp nước, quản lý, xử lý rác thải, nước thải tăng 10,5%; ngành khai khoáng tăng 5,6%.
Về sản phẩm công nghiệp sản xuất  năm 2018: nhóm sản phẩm tăng trên 10% so cùng kỳ và đạt trên 90% kế hoạch là: than khai thác 1,5 triệu tấn, tăng 15,1% cùng kỳ và bằng 121,9% kế hoạch cả năm; sản phẩm may đạt 73,6 triệu sản phẩm, tăng 23,8% và bằng 120,7% kế hoạch; giấy và bìa 37,9 nghìn tấn, tăng 40,5%;  thiết bị và dụng cụ khác trong y khoa đạt 1.456 triệu sản phẩm, tăng 32,5%. Nhóm sản phẩm có sản lượng tăng dưới 10% như: đồng tinh quặng (Cu>20%) đạt 47,7 nghìn tấn, tăng 9,4%; phụ tùng khác của xe có đông cơ đạt 65,3 triệu sản phẩm, tăng 10,5%; phân phối điện (điện thương phẩm) đạt 4.740 Tr.Kwh, tăng 7,2% và bằng 94,8% kế hoạch; nước máy thương phẩm đạt 34,8 triệu m3, tăng 0,1% và bằng 101% kế hoạch. Nhóm sản phẩm có sản lượng giảm so với cùng kỳ và đạt thấp so với kế hoạch cả năm là: xi măng 2 triệu tấn, tăng 0,6% và bằng 91,5% kế hoạch; gạch xây dựng bằng gốm, sứ đạt 67,2 triệu viên, giảm 62,4% và bằng 24% kế hoạch; vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 16,8 nghìn tấn, giảm 13% và bằng 84,2% kế hoạch; quặng sắt và tinh quặng sắt chưa nung đạt 1,8 triệu tấn, giảm 7,6% so cùng kỳ...
Riêng nhóm sản phẩm điện tử điện thoại thông minh và máy tính bảng cộng dồn năm 2018 ước đạt 119,7 triệu sản phẩm, tăng 4% về số lượng sản phẩm so với cùng kỳ và bằng 86,7% kế hoạch cả năm (điện thoại thông minh đạt 97,9 triệu sản phẩm, tăng 3,6%; máy tính bảng đạt 21,8 triệu sản phẩm, tăng 5,8%); tuy nhiên do cơ cấu, chủng loại thay đổi theo hướng giảm sản xuất dòng sản phẩm giá trị nhỏ, tăng số lượng sản xuất dòng sản phẩm có giá trị/1 sản phẩm cao, trong đó nhóm điện thoại có giá từ 6 triệu trở lên ước đạt 24,2 triệu sản phẩm (chiếm gần 25% tổng số), tăng 66,9% so với cùng kỳ và là yếu tố tác động làm tăng chỉ số sản xuất công nghiệp trên địa bàn.
8. Thương mại, dịch vụ
a. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn tỉnh tháng 12 năm 2018 ước đạt 2,9 nghìn tỷ đồng, tăng 3,1% so với tháng trước, tăng 12,5% so với cùng kỳ. Tính riêng quý IV/2018 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn đạt 8,3 nghìn tỷ đồng, tăng 12,7% cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước đạt 456 tỷ đồng, tăng 12,5%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước đạt 7,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 41,1 tỷ đồng, tăng 7%.
Tính chung 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước đạt 31,9 nghìn tỷ đồng, tăng 12% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực nhà nước ước đạt 1,7 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 30 nghìn tỷ đồng, tăng 12% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 150 tỷ đồng, tăng 8,8% so với cùng kỳ.
Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, kinh tế cá thể đạt 18.759 tỷ đồng (chiếm 58,9% thị phần bán lẻ), tăng 12,4% so với cùng kỳ, còn lại là khối doanh nghiệp vốn trong nước đạt 12.941 tỷ đồng (chiếm 40,6%), tăng 11,5%; còn lại 1 phần nhỏ là doanh thu dịch vụ lưu trú của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI.
Nếu phân theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ ước đạt 25.744 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 80,8%), tăng 12,8% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống doanh thu ước đạt 2.764,9 tỷ đồng, tăng 8,6% so với cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành chỉ chiếm rất nhỏ (đạt 74,8 tỷ đồng, tăng 9,2% so với cùng kỳ) và nhóm dịch vụ tiêu dùng khác ước đạt 3.341,9 tỷ đồng, tăng 10% so với cùng kỳ.
Trong cơ cấu doanh thu bán lẻ, tất cả các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng năm 2018 đều tăng. Nhóm mặt hàng đạt doanh thu bán lẻ lớn nhất là nhóm lương thực, thực phẩm đạt 8.337 tỷ đồng (chiếm 32,4% doanh thu bán lẻ), tăng 14,5% so với cùng kỳ; tiếp đến nhóm hàng xăng, dầu các loại ước đạt 3.045 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 11,8%), tăng 9,9%; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 2.912 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 11,3%), tăng 11,4% cùng kỳ; nhóm ô tô các loại đạt 2.669 tỷ đồng, tăng 14,9%; nhóm hàng may mặc đạt 2.022 tỷ đồng, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước...
b. Xuất, nhập khẩu
- Xuất khẩu: Tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu tháng 12 năm 2018 đạt 2,23 tỷ USD, tăng 20,5% so với cùng kỳ; trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 2,2 tỷ USD (chiếm 98,7%); khu vực kinh tế trong nước đạt 31,6%, tăng 14,9% cùng kỳ.
Tổng trị giá hàng hóa xuất khẩu quý IV/2018 ước đạt 6,4 tỷ USD, tăng 3,3 % so quý trước, tăng 5% so với cùng kỳ; trong đó, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 6,3 tỷ đồng, tăng 4,2% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế trong nước đạt 135 triệu USD, tăng 65,4% so với cùng kỳ (do có sự chuyển từ loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang doanh nghiệp tư nhân vốn trong nước).
Mặt hàng xuất khẩu dự tính quý IV/2018 tăng cao so cùng kỳ là phụ tùng vận tải tăng gấp 6,3 lần; sản phẩm từ sắt thép đạt 19,3 triệu USD, tăng gấp 4,3 lần; kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 45,5 triệu USD, tăng 1,85 lần; sản phẩm may đạt 82,1 triệu USD, tăng 34,9%. Nhóm hàng xuất khẩu tăng dưới 10% so với cùng kỳ như: giấy và các sản phẩm từ giấy đạt 0,8 triệu USD, tăng 4,2%;  nhóm sản phẩm điện thoại các loại và linh kiện ước đạt 6,3 tỷ USD, tăng 4,8% so với cùng kỳ; Nhóm sản phẩm giảm so với cùng kỳ là chè các loại đạt 0,7 nghìn tấn với trị giá 1,05 triệu USD, giảm 2,1% về lượng và 12,8% về giá trị.
Xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn của khu vực trong nước tăng dần qua các quý. Tính chung năm 2018 xuất khẩu trên địa bàn tăng so cùng kỳ ở tất cả các khu vực. Tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn năm 2018 đạt khoảng 25,1 tỷ USD, tăng 10,2% so với giá trị xuất khẩu cùng kỳ và bằng 119,4% kế hoạch cả năm. Trong đó, xuất khẩu do địa phương quản lý đạt 448 triệu USD, tăng 47,5% so với cùng kỳ và bằng 140% kế hoạch; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu 24,6 tỷ USD, tăng 9,7% so với cùng kỳ và bằng 119,1% kế hoạch cả năm.
Nhóm mặt hàng xuất khẩu năm 2018 chiếm tỷ trọng lớn là Nhóm sản phẩm điện thoại các loại, máy vi tính và linh kiện điện tử ước đạt 24,3 tỷ USD (chiếm 97,1% tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn), tăng 9,8% so với cùng kỳ và bằng 97,4% kế hoạch (trong đó điện thoại thông minh và máy tính bảng xuất khẩu 106,8 triệu sản phẩm với giá trị 19,4 tỷ USD, giảm 4,9% về lượng nhưng tăng 5,4% về giá trị so cùng kỳ và bằng 112,4% kế hoạch; linh kiện và sản phẩm điện tử các loại khác ước đạt 4,9 tỷ USD, tăng 34,6% cùng kỳ và bằng 154% kế hoạch cả năm).
Ngoài ra một số mặt hàng đạt tốc độ xuất khẩu tăng cao, đóng góp vào tốc độ tăng của xuất khẩu địa phương là sản phẩm may 306 triệu USD tăng 22,4% cùng kỳ; kim loại màu và tinh quặng kim loại màu 231,1 triệu USD, tăng 6,1% và bằng 144,4% kế hoạch cả năm; sản phẩm từ sắt thép đạt 60,5 triệu USD, tăng 14%; phụ tùng vận tải đạt 4,9 triệu USD, tăng 24,6% so với cùng kỳ; nhóm mặt hàng xuất khẩu giảm so cùng kỳ là: chè các loại 1,9 nghìn tấn với trị giá xuất khẩu 3 triệu USD, giảm 31% về lượng và giảm 39,5% về giá trị xuất khẩu...
Giá trị xuất khẩu trên địa bàn trong  năm 2018 toàn bộ là xuất khẩu theo hình thức trực tiếp. Thị trường xuất khẩu lớn nhất là Chấu Á chiếm tỷ trọng 39% tổng số và thị trường xuất khẩu lớn thứ hai là Châu Âu chiếm tỷ trọng 38,7% tổng giá trị xuất khẩu. Trên thị trường Châu Á, hàng hóa xuất khẩu tập trung chủ yếu ở khu vực Tây Á và khu vực Đông Á: thị trường Hàn Quốc là 2,9 tỷ USD (bằng 12,5% tổng giá trị xuất khẩu), Các tiểu vương quốc Ả - rập Thống Nhất đạt 2 tỷ USD , Thái Lan đạt 694 triệu USD. Trên thị trường Châu Âu, hàng hóa xuất khẩu tập trung chủ yếu ở khu vực Tây Âu và Đông Âu như: Slô-va-ki-a khoảng 3,7 tỷ USD; Đức đạt 1,38 tỷ USD. Ngoài ra, Châu Mỹ chiếm 16,2% tổng giá trị xuất khẩu, trong đó nước Mỹ chiếm chủ yếu với 2,34 tỷ USD.
+ Nhập khẩu: Tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn quý IV/2018 ước đạt 4,17 tỷ USD, tăng 19% so với quý trước và tăng 30% so với cùng kỳ. Trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 79 triệu USD, tăng 12,2% so với cùng kỳ; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 4,1 tỷ USD, tăng 30,5%. Trong nhóm các mặt hàng chủ yếu nhập khẩu linh kiện điện tử đạt 3,92 tỷ USD, tăng 27,4% so với cùng kỳ; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 35,7 triệu USD, gấp 6,2 lần; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 7,7 triệu USD, giảm 1,5%...
Tính chung năm 2018, giá trị nhập khẩu trên địa bàn ước đạt 14,7 tỷ USD, tăng 5,7% so với cùng kỳ; trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 271,2 triệu USD (chiếm 1,8% tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn), tăng 17,5% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 14,4 tỷ USD, tăng 5,5% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 98,2% tổng giá trị nhập khẩu.
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ là: phế liệu sắt thép đạt 28,2 triệu USD, gấp 57,2 lần; sắt thép các loại đạt 21,7 triệu USD, gấp 3,7 lần; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 124,3 triệu USD, gấp 2,9 lần; sản phẩm từ sắt thép đạt 81,8 triệu USD, tăng 49,6%; giấy các loại đạt 5,3 triệu USD, tăng 43,2%; vải các loại và phụ kiện may mặc đạt 146,3 triệu USD, tăng 16,9%... Riêng nhóm nguyên liệu và linh kiện điện tử cả năm nhập khẩu khoảng 14 tỷ USD, tăng 4,5% cùng kỳ. Nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc 33,1 triệu USD, giảm 48,9%; máy móc thiết bị và dụng cụ phụ tùng 86,4 triệu USD, giảm 29,4% cùng kỳ (do nhập khẩu phục vụ đầu tư giảm).
Nguồn nguyên, vật liệu nhập khẩu trong năm 2018 toàn bộ được nhập khẩu theo hình thức trực tiếp và chủ yếu nhập khẩu từ thị trường Châu Á với giá trị 12,4 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 93,4% tổng số); trong đó tập trung chủ yếu ở các nước như: Hàn Quốc là 5,1 tỷ USD, Trung Quốc với 4,9 tỷ USD và  Nhật Bản 902 triệu USD...
c. Vận tải
Năm 2018 Ngành chức năng đã đảm bảo trật tự an toàn giao thông vận tải dịp Lễ, Tết, Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh 2018 và phục vụ tốt nhu cầu đi lại của nhân dân.
- Vận chuyển hành khách: Số lượt hành khách vận chuyển tháng 12/2018 ước đạt 1,78 triệu lượt khách với lượng hành khách luân chuyển là 95,2 triệu hành khách.km; so với tháng trước tăng 7,5% cả về số hành khách vận chuyển và hành khách luân chuyển; So với cùng kỳ tăng 10% so về số lượng hành khách vận chuyển, tăng 7,6% về số hành khách luân chuyển.
Dự ước năm 2018 số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 19,8 triệu  hành khách với 1.088 triệu hành khách luân chuyển, tăng 7,8% so với cùng kỳ về số hành khách vận chuyển và tăng 7,3% về số lượng hành khách luân chuyển.
Nếu chia theo Quý trong năm 2018, Quý IV đạt 5,19 triệu hành khách, tăng 8,97% so cùng kỳ, tăng 7% so với quý III/2018;  Đây là quý có số lượng vận chuyển hành khách cao nhất so với các quý trong năm, do đây là khoảng thời gian nhu cầu đi lại của dân tăng cao, công việc cuối năm có nhiều nên phải di chuyển.
- Vận chuyển hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 12/2018 ước đạt 3,9 triệu tấn với 165 triệu tấn.Km, tăng 10% so với tháng trước về khối lượng vận chuyển và khối lượng luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 9,3% về khối lượng hàng hóa vận chuyển và tăng 12% về khối lượng hàng hóa luân chuyển. Tính chung năm 2018, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 38,9 triệu tấn với 1.647 triệu tấn.km, tăng 7,2% về khối lượng vận chuyển và tăng 6,4% khối lượng luân chuyển so với cùng kỳ.
Trong đó quý IV/2018 có số lượng hàng hóa ước đạt 10,7 triệu tấn hàng hóa với 451,1 triệu tấn.km; so với cùng kỳ tăng 8,8% về khối lượng hàng hóa vận chuyển và tăng 7,2% về số lượng hàng hóa luân chuyển. Quý IV/2018 là quý có khối lượng vận chuyển hàng hóa nhiều nhất so với các quý trong năm 2018, tăng 7% so với quý III/2018; tăng 13,2% so với quý II/2018 và tăng 18,2% so với quý I/2018.
Tổng doanh thu vận tải trên địa bàn tháng 12/2018 ước đạt 394,9 tỷ đồng, tăng 11,6% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 65,1 tỷ đồng, tăng 9,4% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa là 310,7 tỷ đồng, tăng 12,3% so cùng kỳ; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 19 tỷ đồng, tăng 8,9% so cùng kỳ.
Tính chung cả năm 2018, tổng doanh thu vận tải trên địa bàn ước đạt 4.148,2 tỷ đồng, tăng 9,5% cùng kỳ, trong đó, doanh thu vận tải hàng hóa chiếm tỷ trọng cao nhất và đạt 3.144,8 tỷ đồng, tăng 9,6%; doanh thu vận tải hành khách 753,2 tỷ đồng, tăng 9,2%; doanh thu từ dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 250,1 tỷ đồng, tăng 8,5%.
Tính riêng Quý IV/2018 ước đạt 1.116,2 tỷ đồng, tăng 10,5% so cùng kỳ, tăng 9,4% so với quý III/2018; Doanh thu vận tải trong các Quý đều đạt mức tăng trên 8% so với cùng kỳ ở cả vận tải hàng hóa và hành khách.
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Đời sống dân cư
Do giá tiêu dùng các mặt hàng thiết yếu cơ bản biến động không nhiều; sản xuất công nghiệp tăng cao, sản xuất nông nghiệp nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch, giá bán sản phẩm chăn nuôi tăng cao so với năm 2017, trong khi dịch bệnh lớn trong chăn nuôi không xảy ra nên thu nhập người lao động trong khu vực nông lâm nghiệp thủy sản tăng. Trên địa bàn không xảy ra tình trạng thiếu đói do thiên tai hoặc tháng giáp hạt. Trong khu vực làm công, ăn lương, số lao động làm việc trong ngành công nghiệp ngày càng được thu hút nhiều. Thu nhập bình quân của người lao động trong các doanh nghiệp đạt khoảng 9 triệu đồng/tháng/1 lao động (trong đó thu nhập người lao động thuộc doanh nghiệp có vốn trong nước là 6,9 triệu đồng/tháng, tăng 13,3% so cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp FDI thu nhập của người lao động đạt 10,3 triệu đồng/tháng/lao động, giảm 1,8 triệu đồng/người/tháng so với cùng kỳ). Trong khu vực dịch vụ, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các dịch vụ tăng trên 11% so cùng kỳ... Cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư phát triển, đặc biệt là các xã thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, góp phần nâng cao mức sống, ổn định đời sống dân cư.
2. Công tác giảm nghèo, bảo trợ xã hội và thực hiện chính sách người có công
Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh năm 2018 ước đạt 7%, giảm 2% so với năm 2017 và hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch.
Các ngành, các địa phương, các tổ chức đoàn thể trên địa bàn đã tổ chức triển khai nhiều hoạt động cho các đối tượng chính sách xã hội và người có công trong các dịp Lễ, Tết... Thực hiện trợ cấp thường xuyên gần 37 nghìn đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng. Phối hợp và triển khai Chương trình tài trợ phẫu thuật cho hộ nghèo, khó khăn. Thực hiện cấp phát 30 nghìn tờ rơi tuyên truyền Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016- 2020 cho các huyện, thành, thị.
Kết quả tổ chức các hoạt động an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh nhân dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018 theo báo cáo của cơ quan chức năng như sau: Các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh và Trung ương đã ủng hộ, hỗ trợ, trao tặng quà, tiền mặt và hiện vật, trị giá 51 tỷ đồng cho các gia đình chính sách, người có công có hoàn cảnh khó khăn, các hộ nghèo, hộ cận nghèo, các đối tượng bảo trợ xã hội, các bệnh nhân nghèo, có hoàn cảnh khó khăn.
Chương trình "Tuần cao điểm Tết vì người nghèo năm 2018" đã có 142 đơn vị tham gia ủng hộ, hỗ trợ chương trình và đã huy động các nguồn lực xã hội hỗ trợ cho 36 xã đặc biệt khó khăn 16,6 tỷ đồng; Tặng quà, trợ giúp xã hội cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh trị giá 9,6 tỷ đồng. Quà Tết cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và hoàn cảnh khó khăn: 2.770 suất quà, trị giá 903 triệu đồng…
Thực hiện, giải quyết chế độ chính sách đối với người có công và gia đình người có công theo đúng quy định như: khai thác hồ sơ; giải quyết đơn thư; giải quyết chế độ cho thân nhân người có công từ trần hưởng trợ cấp tuất hàng tháng; kiểm tra hồ sơ; Giải quyết trợ cấp một lần; thực hiện xét tặng, truy tặng đối với hồ sơ đề nghị danh hiệu vinh dự nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng; khai thác, sưu tầm tư liệu thu thập thông tin về Đại đội 915, Đội thanh niên xung phong Đội 91 Bắc Thái. Tổ chức Chương trình Dâng hương tưởng niệm 60 liệt sĩ TNXP Đại đội 915, Đội 91 Bắc Thái hy sinh đêm 24/12/1972; công bố đưa vào sử dụng công trình tu bổ, tôn tạo Nhà tưởng niệm các TNXP Đại đội 915 tại phường Gia Sàng, T.P Thái Nguyên. Thực hiện trao tặng 70 sổ tiết kiệm, trị giá 700 triệu đồng cho những gia đình liệt sĩ và các thương, bệnh binh TNXP Đại đội 915 còn sống sau trận bom đêm 24/12/1972.
3. Tình hình dân số, lao động việc làm
- Công tác dân số: Năm 2018 là năm thứ ba thực hiện giai đoạn 2 của Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản (2011-2020). Ngành chức năng triển khai công tác truyền thông về công tác dân số, KHHGĐ. Tổ chức các hội nghị, các lớp tập huấn phổ biến nội dung các văn bản về công tác DS-KHHGĐ và Tổ chức ký cam kết thực hiện công tác DS-KHHGĐ đến năm 2020 trên địa bàn, nhằm giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh và giảm chỉ tiêu sinh con thứ 3 trở lên.
Dự tính tỷ suất sinh thô năm 2018 giảm 0,1 phần nghìn so với năm 2017, hoàn thành kế hoạch.
Dân số trung bình năm 2018 tỉnh Thái Nguyên ước tính sơ bộ là khoảng 1.268 nghìn người, trong đó, dân số khu vực thành thị chiếm khoảng 35,3% và dân số khu vực nông thôn khoảng 64,7%.
4. Giáo dục, đào tạo
- Mạng lưới trường lớp của các cấp, bậc học tiếp tục được sắp xếp, đáp ứng nhu cầu học tập của con em các dân tộc trên địa bàn tỉnh. Năm học 2018-2019, thực hiện theo Nghị quyết Trung ương trên địa bàn tỉnh đã sát nhập một trường học thuộc các cấp học mầm non, tiểu học và trung học cơ sở.
Sau khi sắp xếp lại, năm học 2018-2019 trên địa bàn toàn tỉnh có 678 trường (bao gồm cả 01 trường nội trú thuộc Trung ương quản lý; công lập 660 trường, ngoài công lập 17 trường), giảm 3 trường so với đầu năm học 2017-2018 và giảm 04 trường so với cuối năm học 2017-2018; trong đó, mầm non có 230 trường (công lập 218, ngoài công lập 12); Tiểu học có 224 trường (công lập 222, ngoài công lập 2); trung học cơ sở có 191 trường (công lập 190, ngoài công lập 1); trung học phổ thông có 33 trường (32 trường thuộc địa phương quản lý, trong đó có 2 trường ngoài công lập; 01 trường nội trú thuộc Trung ương quản lý).
Tổng hợp sơ bộ số liệu lớp, học sinh đầu năm học 2018-2019 theo kế hoạch do địa phương quản lý: Nhìn chung đều tăng hơn so với năm học trước ở các cấp học. Hệ mầm non: có 3.088 lớp với 90.714 học sinh. Cấp tiểu học có 3.781 lớp với 111,8 nghìn học sinh, trong đó tuyển mới vào lớp 1 là  27,9 nghìn học sinh, tăng 26,8% so với cùng kỳ. Trung học cơ sở có 1.925 lớp với 68,6 nghìn học sinh, trong đó tuyển mới vào lớp 6 là 19,8 nghìn học sinh, tăng 19,2% so năm học trước. Trung học phổ thông có 856 lớp với 35,3 nghìn học sinh, trong đó tuyển mới vào lớp 10 là gần 12,5 nghìn học sinh, tăng 2,4% so cùng kỳ.
Công tác chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị năm học mới: Các địa phương, các trường đã tu sửa và chuẩn bị điều kiện về cơ sở vật chất, phòng học để đáp ứng yêu cầu thực hiện chương trình sách giáo khoa, giáo dục phổ thông mới từ năm học 2018-2019 theo đúng chỉ đạo của ngành. Tuy nhiên, để đảm bảo chuẩn hóa lớp học về số học sinh bình quân 1 lớp thì dự kiến số phòng học còn thiếu là khoảng 786 phòng. Bao gồm: Mầm non 367 phòng; Tiểu học 243 phòng; trung học cơ sở 136 phòng và trung học phổ thông là 40 phòng. Ngành chức năng đang thực hiện, triển khai dự án xây mới các trường trung học phổ thông và mở rộng hệ thống các trường phổ thông nội trú.
Kết quả xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia: Thực hiện đề án xây dựng hệ thống trường đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 2016-2020, tính đến thời điểm 21/12/2018, toàn tỉnh có 556/677 trường đạt chuẩn quốc gia đạt tỷ lệ 82,13% (về trước 2 năm so với chỉ tiêu Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh giao); Trong đó: Mầm non có 181/230 trường đạt tỷ lệ 80,43%; Tiểu học: 215/224 trường đạt tỷ lệ 95,98%; THCS có 139/191 trường đạt tỷ lệ 72,77%; THPT có 17/32 trường đạt tỷ lệ 53,13%.
- Công tác tuyển sinh cao đẳng, đại học năm học 2018-2019: Kế hoạch tuyển sinh 12.612 chỉ tiêu. Trong đó, khối ngành y dược vượt chỉ tiêu tuyển sinh (tuyển được gần 1.000 chỉ tiêu, bằng 126,4% kế hoạch); còn lại các khối ngành khác đều chưa đạt kế hoạch. Khoa ngoại ngữ - ĐH Thái Nguyên đạt 690 chỉ tiêu, bằng 98,5% kế hoạch; Đại học Kỹ thuật Công nghiệp tuyển được 1.550 chỉ tiêu, bằng 76,6% kế hoạch; khoa Quốc tế - Đại học Thái Nguyên đạt 117 chỉ tiêu/200 chỉ tiêu kế hoạch; Đại học sư phạm đạt 469 chỉ tiêu, bằng 52,1% kế hoạch; Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh đạt 1.110 chỉ tiêu, bằng 74% kế hoạch; Đại học CNTT và truyền thông  đạt 54,5%; còn lại các trường đạt dưới 50%  chỉ tiêu kế hoạch, trong đó Đại học ngoài công lập tuyển sinh mới chỉ đạt 46 chỉ tiêu/800 chỉ tiêu kế hoạch, bằng 5,75% kế hoạch.
5. Y tế
- Công tác phòng chống dịch và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm được duy trì triển khai. Ngành chức năng đã chỉ đạo thường xuyên việc kiểm tra công tác phòng, chống dịch năm 2018 tại các địa phương; đảm bảo công tác tiêm chủng và hệ thống bảo quản Vắc xin tại các tuyến đúng quy định.
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh không có dịch bệnh lớn xảy ra, tỷ lệ mắc một số bệnh truyền nhiễm giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Tính đến 20/12/2018 có 346 ca mắc bệnh Quai bị, giảm 271 ca so cùng kỳ (600ca); có 31 ca Sốt phát ban dạng sởi/rubella, tăng 20 ca so cùng kỳ (11); Chân tay miệng là 329 ca, tăng 132 ca so cùng kỳ (197 ca); Sốt xuất huyết là 52 ca (giảm nhiều so với mức 415 ca của cùng kỳ); Ho gà 05 ca; bệnh do liên cầu lợn ở người là 04 ca, tử vong do bệnh dại là 3 ca; viêm não nhật bản B  là 3 ca.
Tính riêng 20 ngày đầu tháng 12/2018 có 1 ca tử vong do bệnh dại; 04 ca sốt xuất huyết; 06 ca bệnh tay chân miêng và 03 ca sốt phát ban dang sởi/rubela.
Công tác an toàn vệ sinh thực phẩm: Ngành chức năng đã phối hợp với cơ quan thông tin, truyền thông trên địa bàn thực hiện các hoạt động truyền thông về An toàn thực phẩm bằng nhiều hình thức. Tính từ đầu năm đến 23/12/2018 trên địa bàn  xảy ra 01 có vụ ngộ độc thực phẩm tập thể vào cuối tháng 5 với 15 người mắc, nhập viện 10 người, không có tử vong .
Công tác khám chữa bệnh:  Trong năm các hoạt động khám chữa bệnh, thực hiện quy chế chuyên môn tại các bệnh viện, trạm y tế được duy trì tốt, trong đó chú trọng khám chữa bệnh đối tượng chính sách, trẻ em dưới 6 tuổi.
-  Công tác Dân số và lao động:  Dự ước 11 tháng năm 2018, tổng số trẻ em sinh ra là 14.492 trẻ. Tỷ số giới tính khi sinh (trẻ trai/100 trẻ gái) là 111,6. Số trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên: 1.468 trẻ, chiếm 9,5% của tổng số trẻ sinh; Trong đó, huyện Phú bình có số trẻ sinh ra là 346 trẻ, số trẻ cao nhất so với các địa phương còn lại; tiếp đến là Thành phố Thái Nguyên có 225 trẻ sinh ra; huyện Đồng Hỷ có 182 trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên.
Dự ước dân số trung bình tỉnh Thái Nguyên năm 2018 có 1.268 nghìn người, tăng 1,1% so năm 2017. Trong đó dân số nam 625 nghìn người, nữ 643 nghìn người; Dân số Thành thị khoảng 447,4 nghìn người tăng 1,6% so năm 2017. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước đạt 769 nghìn người, trong đó lực lượng lao động ở nông thôn đạt 540,6 nghìn người, tăng 0,8% so cùng kỳ. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc hàng năm là 766,2 nghìn người, trong đó khối nông lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 311 nghìn người, giảm 6,3% so với năm 2017; khối công nghiệp và xây dựng ước đạt 250 nghìn người, tăng 6,6% so cùng kỳ; khối dịch vụ lực lượng đang làm việc là 205 nghìn người, tăng 7,2% so với năm 2017.
- Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn: Lũy kế đến 30/11/2018 số người nhiễm lũy tích là 10.122 người. Trong đó chuyển giai đoạn AIDS lũy tích là 6.735 người; Số tử vong do HIV/AIDS lũy tích là 3.464 người. Riêng trong tháng 11/2018 có 21 người mới được phát hiện; chuyển giai đoạn AIDS là 1 người; Số tử vong do HIV/AIDS là 7 người.
6. Văn hóa, thể thao
Năm 2018 trên địa bàn tỉnh, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao chào mừng các sự kiện chính trị, ngày lễ kỷ niệm được tổ chức kịp thời, hiệu quả và rộng khắp. Tổ chức thành công Đại hội thể dục thể thao tỉnh Thái Nguyên lần thứ VIII/2018; Hoạt động lễ hội được tổ chức trang trọng, an toàn, tiết kiệm, phát huy được các giá trị truyền thống và đúng quy định của Nhà nước. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, luân chuyển sách phục vụ nhân dân đặc biệt là đồng bào vùng sâu, vùng xa, các đối tượng chính sách; công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá đạt được nhiều kết quả đáng kể; công tác xây dựng Nông thôn mới theo tiêu chí ngành quản lý tiếp tục được triển khai thực hiện. Phối hợp tổ chức thành công các giải thể thao cấp Quốc gia được tổ chức tại Thái Nguyên. Hoạt động giới thiệu, quảng bá du lịch Thái Nguyên tiếp tục được thực hiện có hiệu quả trên các phương tiện truyền thông. Tỉnh Thái Nguyên đã long trọng tổ chức Kỷ niệm 46 năm Ngày hy sinh của 60 Thanh niên xung phong Đại đội 915 Bắc Thái (24/12/1972 - 24/12/2018), công bố và đưa vào sử dụng công trình tu bổ, tôn tạo Nhà tưởng niệm các TNXP Đại đội 915 tại phường Gia Sàng, T.P Thái Nguyên, công trình được xếp hạng Khu di tích lịch sử Quốc gia.
Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm: kiểm tra 102 lượt cơ sở hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch tại các địa phương (huyện Phú Bình, Phú Lương, Định Hóa, Đồng Hỷ, thành Thái Nguyên); biểu diễn nghệ thuật, karaoke, việc thực hiện quảng cáo của các tổ chức, cá nhân, hoạt động bể bơi, doanh nghiệp kinh doanh lữ hành; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch, thu nộp NSNN 04 triệu đồng. Công tác kiểm tra  các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa, du lịch đã chấn chỉnh kịp thời các hành vi sai phạm, góp phần tích cực đưa các cơ sở kinh doanh hoạt động theo đúng quy định (huyện Phú Lương,Võ Nhai, Đồng Hỷ, Đại Từ, thành phố Sông Công,Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính  trên 29 triệu đồng).
Hoạt động bảo tàng: Tổ chức 04 triển lãm với chủ đề "Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phòng dân tộc Việt Nam, nhà văn hóa kiệt xuất”; "Đại tướng Võ Nguyên Giáp với ATK Thái Nguyên",“Trưng bày và giới thiệu về tỉnh Thái Nguyên” phục vụ chương trình gặp mặt, chúc tết người Thái Nguyên ở nước ngoài về quê hương; "Múa Tắc Xình của dân tộc Sán Chay tỉnh Thái Nguyên”. Hoàn thiện bổ sung trưng bày Nhà truyền thống Tỉnh ủy Thái Nguyên; đề cương nội dung và phương án trưng bày Nhà truyền thống Thanh niên xung phong (Đại đội 915, Đội TNXP 91 Bắc Thái). Phối hợp với Viện khảo cổ học tổ chức nghiên cứu chỉnh lý sau khai quật di chỉ mái đá Ngườm (xã Thần Sa, huyện Võ Nhai); tổ chức lễ hội "Hương sắc Trà xuân -Vùng chè đặc sản Tân Cương”. Sưu tầm 107 hiện vật, ảnh phục vụ công tác trưng bày, triển lãm; đón tiếp 14.235 lượt khách tham quan (548lượt khách nước ngoài); tổ chức giám định hiện 1.300 đơn vị tài liệu, hiện vật.
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật, phát hành phim và chiếu bóng: Tổ chức 127  buổi biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị, đối tượng chính sách; tham gia Hội diễn ca múa nhạc chuyên nghiệp toàn quốc đạt (01 Huy chương vàng, 03 Huy chương bạc). Thực hiện 1.080 buổi chiếu phim (790 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị, 98 buổi phục vụ các xã vùng khó khăn, đối tượng chính sách), phục vụ trên 72.360 lượt người xem.
Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở: Tham gia Liên hoan hát Then, đàn Tính các dân tộc Tày-Nùng-Thái toàn quốc lần thứ VI/2018 (đạt 02 giải A, 01 giải B, 02 giải C); đạt 03 Huy chương vàng, 02 Huy chương bạc, giải đạo diễn xuất sắc tại Hội thi sân khấu kịch ngắn, kịch vui không chuyên toàn quốc năm 2018 về công tác bảo vệ môi trường trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch; tham gia “Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch các dân tộc vùng Đông Bắc lần thứ X/2018 đạt (02 giải A, 06 giải B cho tiết mục); được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch tặng Bằng khen. Tổ chức Liên hoan văn hóa, văn nghệ điểm xây dựng mô hình mẫu hình làng, bản văn hóa cơ sở tỉnh Thái Nguyên năm 2018 với sự tham gia của 09 huyện, thành phố, thị xã với 373 diễn viên, nghệ nhân. Hoàn thành công tác xây dựng 10 mô hình, mẫu hình văn hoá văn nghệ; tổ chức 10 buổi văn hoá trà. Thực hiện 121 buổi tuyên truyền và biểu diễn nghệ thuật mừng Đảng, mừng Xuân, phục vụ lễ hội, sự kiện chính trị. Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ chuyên môn các Nhà văn hóa, Trung tâm Văn hoá Thể thao cơ sở; duy trì hoạt động của các Câu lạc bộ văn hoá, thể thao.
Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng Nông thôn mới: ngành chức năng triển khai công tác đăng ký, bình xét các danh hiệu văn hóa năm 2018 và tổ chức ngày đại đoàn kết toàn dân tộc (18/11); thực hiện công tác gia đình; các hoạt động, sơ kết 05 năm thực hiện Đề án tổ chức ngày Quốc tế hạnh phúc 20/3; tổ chức các hoạt động tuyên truyền Ngày gia đình Việt Nam (28/6); tuyên truyền Ngày Quốc tế xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ (25/11). Đánh giá thực hiện Đề án “Tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình Việt Nam giai đoạn 2010-2020”; kết quả triển khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới năm 2017 và kế hoạch năm 2018. Phối hợp thực hiện 22 số chuyên mục truyền hình về phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, “Nếp sống văn hóa và gia đình”; phát hành 3.320 cuốn sách “Chuyện quê hương” tuyên truyền phong trào. Năm 2018, có 90,1% (285.824/317.207) đạt Gia đình văn hóa; có 82%  (2.486/3.032) xóm, tổ dân phố văn hóa; có 94,64% (1.572/1.661) cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa.
Lĩnh vực thể thao: Tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo 181 học sinh năng khiếu hệ nội trú, 40 học sinh bán trú.Tham gia thi đấu 22 giải toàn quốc và quốc tế, đạt 240 huy chương các loại (74 HCV, 65 HCB, 101 HCĐ), giành 08 cờ thưởng đồng đội và toàn đoàn; 23 lượt vận động viên cấp I quốc gia, 03 vận động viên kiện tướng và 02 cúp.
Thể thao thành tích cao: Tham gia thi đấu đạt 148 huy chương các loại (30 HCV,45 HCB, 73 HCĐ): Trong đó đạt (01 HCB, 02 HCĐ) tại giải đua thuyền Cúp canoeing nữ vô địch thế giới tại Hungary, (02HCV, 02 HCB) tại giải vô địch vật Đông Nam Á tổ chức tại Philippines. Vượt chỉ tiêu đề ra tại Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ VIII/2018 với 31 huy chương các loại (07 HCV, 09 HCB, 15 HCĐ); đứng thứ 2/19 các tỉnh miền núi, 21/65 đoàn tham gia. Đạt 01 cờ Nhất, 01 cờ Nhì toàn đoàn; cung cấp cho đội tuyển quốc gia 17 VĐV; 24 VĐV đạt kiện tướng, 41 VĐV cấp I.
7. Tình hình an toàn giao thông
  Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh Thái Nguyên, trong tháng 12/2018 trên địa bàn xảy ra 11 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 5 người chết và 11 người bị thương. Tai nạn liên quan đến ô tô 06 vụ (54,54%); liên quan đến mô tô 5 vụ (45,45%). Thiệt hại tài sản ước tính khoảng 269 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giảm 3 vụ (-21,43%); số người chết giảm 8 người (-61,53%) và số người bị thương giảm 6 người (-35,29%). Tình hình an toàn giao thông đường sắt, đường thủy ổn định, không xảy ra tai nạn giao thông.
Tính riêng theo quý, Quý IV/2018 có 59 vụ tai nạn giao thông, số người chết là 26 người và số người bị thương là 51 người. Quý IV là quý có số vụ, số người bị chết, bị thương do tai nạn giao thông cao nhất so với các quý trong năm 2018; Tuy nhiên so với quý IV/2017 giảm 7,8% về số vụ tai nạn; giảm trên 20% về số người chết và người bị thương. Tiếp đến là quý II/2018 có 51 vụ tai nạn (+45,7%), 18 người bị chết (+50%) và 39 người bị thương (62,5%). Riêng quý II/2018 là quý duy nhất có số vụ, số người chết, số người bị thương tăng so với cùng kỳ; các quý còn lại đều có số vụ, số người chết và số người bị thương giảm so với cùng kỳ.
Tính chung 12 tháng đầu năm 2018, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 169 vụ tai nạn giao thông, làm chết 69 người và 140 người bị thương. So với cùng kỳ năm 2017 số vụ tai nạn giảm 7 vụ (-3,98%), số người bị chết giảm 14 người (-16,87%) và số người bị thương giảm 9 người (-6,04%). Trong đó, địa bàn xảy ra nhiều vụ tai nạn nhất là thành phố Thái Nguyên với 72 vụ (chiếm 42% tổng số), làm 18 người chết (chiếm 26%) và 59 người bị thương (chiếm 42,1%).
Tháng 12/2018 đã kiểm tra lập biên bản xử lý vi phạm 4.735 trường hợp; tước 475 giấy phép lái xe; tạm giữ 133 xe ô tô, 490 xe mô tô; 33 phương tiện khác. Số tiền xử phạt 3,5 tỷ đồng.
8. Thiệt hại do thiên tai                 
Từ đầu năm đến 22/12/2018 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã xảy ra 12 đợt mưa lớn, kèm giông, gió lốc, sấm sét và lũ cuốn gây thiệt hại nhiều về người và tài sản, cụ thể như sau: có 3 người chết (TP Sông Công, huyện Đại từ, huyện Định Hóa) và 4 người bị thương; 02 nhà bị đổ sập 542 nhà bị tốc mái, 14 nhà bị ảnh hưởng do sạt lở, 05 nhà bị di rời và 54 hộ gia đình bị ảnh hưởng; 420,1 ha lúa bị ảnh hưởng, 1.800 m2 giàn leo trồng cây rau mầu ở huyện Đại từ bị gãy đổ; 15 con gia súc và 126 con gia cầm bị chết và cuốn trôi; 19,6 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản bị mất trắng;  sạt lở 544m đường giao thông, khối lượng đất đá 1,5 nghìn m3, 03 cầu dân sinh bị hư hỏng, cuốn trôi; 06 điểm trường và 02 nhà văn hóa bị ảnh hưởng. Ngoài ra thiên tai còn gây ra một số thiệt hại về thủy lợi, thông tin liên lạc và các công trình khác… Tổng thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 8,65 tỷ đồng.
Ngành chức năng đã phối hợp với địa phương khắc phục, xử lý sự cố, đánh giá thiệt hại, huy động lực lượng tại chỗ để tích cực triển khai, trợ giúp các hộ dân khắc phục thiệt hại, đảm bảo ổn định cuộc sống.
9. Phòng chống cháy nổ
Các ngành chức năng của Tỉnh đã tiến hành kiểm tra phòng cháy, chữa cháy tại các cơ quan đơn vị trên địa bàn toàn tỉnh; qua kiểm tra đã nhắc nhở những thiếu sót trong phòng cháy chữa cháy và lập biên bản xử lý các trường hợp vi phạm nhằm hạn chế các vụ cháy, nổ xảy ra.
Trong tháng 12, trên địa bàn xảy ra 11 vụ cháy, không có vụ nổ xảy ra, Ước tính giá trị thiệt hại khoảng 98,4 triệu đồng. Ttrong đó, có 6 vụ cháy xảy ra tại thành phố Thái Nguyên, 2 vụ cháy tại Thị Xã Phổ Yên, 01 vụ tại huyện Phú Bình, 01 vụ tại Thành phố Sông công, 01 vụ tại huyện Phú Lương.
Tính riêng quý IV/2018 có 54 vụ cháy nổ, số người bị thương là 2 người, tăng 74,2% so cùng kỳ và giảm 32,5% so với quý III/2018.
Theo số liệu sơ bộ, tính chung 12 tháng năm 2018 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 171 vụ cháy, nổ, tăng 56,9% vụ so với cùng kỳ năm 2017, thiệt hại 03 người. Ước tính tổng giá trị thiệt hại khoảng 14,7 tỷ đồng, giảm 29,4% so với cùng kỳ 2017.
10. Vi phạm môi trường
 Trong tháng 12 năm 2018 trên địa bàn tỉnh ngành chức năng đã kiểm tra và xử lý 1 vụ vi phạm môi trường. Tổng số tiền xử phạt khoảng 92 triệu đồng.
Tính chung trong 12 tháng đầu năm 2018, các ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra và xử lý 42 vụ vi phạm môi trường, nguyên nhân của các vụ xử lý trên là do các cơ sở sản xuất kinh doanh không thực hiện quan trắc giám sát môi trường theo đề án bảo vệ môi trường được Sở Tài Nguyên Môi trường xác nhận. Tổng số tiền thu và nộp vào ngân sách nhà nước là 745,1 triệu đồng.
C. KHÁI QUÁT CHUNG
1. Một số kết quả nổi bật
Tình hình kinh tế - xã hội năm 2018 trên địa bàn tỉnh tiếp tục đạt được kết quả tích cực. Các chỉ tiêu kinh tế xã hội hầu hết đều hoàn thành và vượt kế hoạch đề ra, trong đó mặt bằng lãi suất ổn định, chỉ số giá tiêu dùng tăng hợp lý; các ngành kinh tế vẫn duy trì được đà tăng trưởng và phát triển, nhất là ngành công nghiệp, tạo động lực cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa; xuất khẩu tăng so với cùng kỳ và duy trì xuất siêu; cung cầu hàng hóa được đảm bảo; các chương trình dự án lớn đã đi vào sản xuất và phát huy hiệu quả, một số dự án phát triển đô thị đang được triển khai đầu tư… góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thu ngân sách. An sinh và phúc lợi xã hội được bảo đảm; các chính sách xã hội được quan tâm, thực hiện đầy đủ, tạo điều kiện ổn định và cải thiện đời sống dân cư; trật tự an toàn giao thông được kiểm soát…
2. Khó khăn, hạn chế
Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi, kinh tế trên địa bàn còn tiềm ẩn nhiều khó khăn, thách thức. Ngoài yếu tố tăng trưởng từ các dự án thuộc khu vực FDI và các dự án lớn trên địa bàn, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh mức tăng trưởng còn thấp, mức độ liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước với khu vực đầu tư nước ngoài còn hạn chế.
Nhu cầu đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội là rất lớn, đặc biệt cho lĩnh vực giáo dục đào tạo, phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, song chưa bảo đảm được nguồn vốn thực hiện, cùng với đó là yêu cầu chặt chẽ về trình tự thủ tục đầu tư theo Luật Đầu tư công, nên nhiều dự án cấp bách chưa được cân đối vốn để thực hiện.
Chỉ số giá tiêu dùng vẫn tiềm ẩn nguy cơ tăng cao; một số sản phẩm công nghiệp truyền thống của tỉnh tiêu thụ còn khó khăn nên ảnh hưởng đến nhịp độ sản xuất và quy mô công nghiệp Nhà nước Trung ương; tiềm năng du lịch trên địa bàn chưa được khai thác hiệu quả.
3. Đề xuất các giải pháp
Tập trung thực hiện các chương trình, đề án, dự án trọng điểm phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công; kịp thời điều chỉnh cắt giảm vốn các dự án chậm triển khai thực hiện để bổ sung vốn cho các dự án đã giải ngân hết kế hoạch vốn, cần bổ sung vốn để đẩy nhanh tiến độ hoàn thành. Kiên quyết thu hồi nếu không triển khai thực hiện theo quy định hoặc có dấu hiệu trục lợi, mua bán dự án. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đầu tư, chất lượng công trình để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
Chú trọng công tác quản lý thu ngân sách nhà nước; xây dựng và triển khai phương án điều hành ngân sách theo hướng tăng dần tỷ trọng chi đầu tư phát triển và giảm tỷ trọng chi thường xuyên. Làm tốt công tác quản lý giá cả, thị trường, tăng cường công tác đấu tranh và kiên quyết xử lý các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng nhằm ổn định giá cả, đảm bảo chất lượng hàng hóa.
Đẩy mạnh phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn và công nghiệp làng nghề, sản xuất hàng xuất khẩu, sản xuất các sản phẩm mũi nhọn có tiềm năng, lợi thế của tỉnh.
Thực hiện có hiệu quả đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp; trong đó, tập trung chuyển dịch cơ cấu nội ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụ; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, đảm bảo an toàn thực phẩm. Làm tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng gắn với phát triển kinh tế đồi rừng. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.
Tăng cường xúc tiến, thu hút các nhà đầu tư có năng lực vào lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, chế biến nông, lâm sản. Làm tốt công tác dự tính, dự báo, chủ động xây dựng và triển khai có hiệu quả các phương án sản xuất nông nghiệp, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh.
Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, triển khai có hiệu quả các chương trình giảm nghèo bền vững, hỗ trợ hộ cận nghèo. Quan tâm thực hiện tốt các chính sách người có công, các đối tượng chính sách xã hội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Tăng cường kiểm tra, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, chăm sóc sức khỏe nhân dân, làm tốt công tác y tế dự phòng, chủ động phòng, chống dịch bệnh, nhất là các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm mùa hè.
Chú trọng việc gắn phát triển du lịch với dịch vụ; xây dựng các sản phẩm du lịch đa dạng, độc đáo mang tính đặc trưng vùng miền; xây dựng các điểm, tuyến du lịch trọng tâm để thu hút khách trong nước và quốc tế, đồng thời đẩy mạnh phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng.
Tăng cường và thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp bảo đảm quốc phòng an ninh, trong đó coi trọng việc đảm bảo trật tự - an toàn xã hội, kiềm chế tai nạn giao thông, phòng, chống cháy, nổ trên địa bàn tỉnh./.

Nguồn tin: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây