Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2018

Thứ năm - 01/03/2018 14:35
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2018
BÁO CÁO
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2018 tỉnh Thái Nguyên
 
I. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
1. Trồng trọt
a. Sản xuất vụ Đông
Hiện nay các địa phương đang thu hoạch đại trà cây trồng vụ Đông, thời tiết tương đối thuận lợi, có mưa, cây trồng đủ nước, phát triển tốt nên hầu hết các loại cây trồng có năng suất tăng hơn so với vụ Đông năm trước. Tuy nhiên diện tích gieo trồng các loại cây vụ Đông hai năm gần đây đều không đạt kế hoạch và năm sau giảm so năm trước, chủ yếu do hiệu quả kinh tế thấp hơn các ngành khác nên nhân lực lao động ngành nông nghiệp chuyển làm việc sang ngành công nghiệp.
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông 2017-2018 đạt 14,2 nghìn ha, bằng 94,5% kế hoạch, giảm 4,6% so vụ Đông năm trước ở hầu hết các loại cây trồng. Trong đó, cây ngô có diện tích 4,9 nghìn ha, giảm 6,4% so với cùng kỳ và bằng 85,9% kế hoạch; cây rau đậu 6,4 nghìn ha, bằng 98,6% kế hoạch, giảm 1,7% so với cùng kỳ; cây đỗ tương ước đạt 50 ha, bằng 91% so cùng kỳ và chỉ bằng 50% kế hoạch; cây khoai lang 2 nghìn ha, bằng 82,5% kế hoạch và giảm 15% so với cùng kỳ.
Dự tính đến hết tháng 01/2018 diện tích thu hoạch cây hàng năm vụ Đông  2017-2018 đạt khoảng 9 nghìn ha, bằng 60% tổng diện tích gieo trồng. Trong đó cây ngô thu hoạch khoảng 2,8 nghìn ha, bằng 56,2% tổng diện tích gieo trồng; cây rau các loại thu hoạch khoảng 3,9 nghìn ha; cây khoai lang 1,4 nghìn ha; cây lạc 70 ha và cây đỗ tương 40 ha.
b. Chuẩn bị sản xuất vụ Xuân 2018
 Năm 2018 tỉnh Thái Nguyên tiếp tục có những chính sách hỗ trợ phát triển cây hàng năm như hỗ trợ giá giống lúa lai, lúa thuần; hỗ trợ giá ngô biến đổi gen; đồng thời quy hoạch vùng sản xuất lúa tập trung, ứng dụng đồng bộ tiến bộ khoa học công nghệ, quy trình kỹ thuật mới, hiệu quả; ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất và thu hoạch sản phẩm.
Ngay sau thu hoạch các cây vụ Đông, các địa phương đang tích cực chuẩn bị công tác sản xuất  cây hàng năm vụ Xuân. Tính đến ngày 30/01/2018 toàn tỉnh diện tích cày ải, làm đất  phục vụ gieo trồng lúa vụ Xuân đạt khoảng 70% tổng diện tích gieo trồng.
c. Cây lâu năm
- Cây chè: Theo kế hoạch năm 2018, tỉnh Thái Nguyên dự kiến trồng mới và trồng thay thế chè là 776 ha. Bao gồm, chè trồng mới 135 ha, trồng thay thế 641 ha.  Dự kiến năm 2018 sản lượng chè búp tươi là 220.000 tấn.
Hiện nay thời tiết ấm áp, có mưa, đủ độ ẩm nên cây chè được đốn cành chuẩn bị chè vụ Xuân; nhiều vùng chè được tưới nước, chăm sóc nên kéo dài thời gian thu hoạch, năng suất ổn định, giá bán cao hơn.
- Cây ăn quả:  Các địa phương dự kiến năm 2018 tiếp tục tăng diện tích một số cây ăn quả đặc sản như: Thanh long, Na, cam, bưởi diễn. Xây dựng vùng sản xuất cây ăn quả tập trung, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, kỹ thuật sản xuất an toàn, đảm bảo chất lượng.
2. Chăn nuôi
Hiện nay đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh phát triển ổn định, không có dịch bệnh xảy ra. Các địa phương và các ngành chức năng mở các lớp tập huấn, tuyên truyền, phổ biến kỹ thuật chăn nuôi, phòng, chống dịch bệnh và kiến thức pháp luật thú y đối với các hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm; tăng cường công tác giám sát chủ động dịch bệnh gia súc, gia cầm, thủy sản trên địa bàn toàn tỉnh; tăng cường công tác kiểm dịch, kiểm soát giết mổ và vận chuyển gia súc, gia cầm chuẩn bị đón Tết Nguyên Đán Mậu Tuất 2018.
Tết Nguyên đán Mậu Tuất đang đến gần, người chăn nuôi vẫn còn gặp nhiều khó khăn do giá thịt lợn hơi thấp, chăn nuôi lỗ. Giá thịt lợn hơi tháng 1/2018 so với tháng trước (12/2017) đã tăng gần 10%, tuy nhiên so với cùng kỳ vẫn giảm 4,67%; giá thịt gà hơi giảm nhẹ 0,08% so tháng cùng kỳ và bằng giá tháng 12/2017.
Ước tính đến hết tháng 01/2018 (thời điểm trước Tết Nguyên đán) tổng đàn trâu khoảng 56,5 nghìn con, bằng 91,1% so cùng kỳ; đàn bò 43,5 nghìn con, bằng 97,8% cùng kỳ; đàn lợn 650 nghìn con, bằng 87% so cùng kỳ; đàn gia cầm đạt khoảng 11,33 triệu con, tăng 6,4% so tháng 01/2017, trong đó đàn gà 9,8 triệu con tăng 6,6% so cùng kỳ. Với số lượng như trên sẽ đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của dân cư trong dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán.
3. Lâm nghiệp
Theo kế hoạch năm 2018 diện tích rừng trồng mới trên địa bàn là 3.545 ha; địa phương trồng rừng tập trung 3.040 ha, trong đó diện tích trồng rừng thay thế 120 ha; rừng sản xuất 2.920 ha. Ngoài ra trồng cây phân tán 675 nghìn cây đảm bảo tỷ lệ che phủ rừng trên 50%.
Tình hình khai thác, chế biến lâm sản: Tháng 01/2018 sản lượng gỗ khai thác ước đạt 15,5 nghìn m3; củi khai thác tận dụng là 18,9 nghìn ste.
4. Thủy sản
Năm  2018 kế hoạch diện tích nuôi trồng thủy sản trên địa bàn toàn tỉnh là 6.000 ha với sản lượng thủy sản thương phẩm là 12.000 tấn. Sản xuất, cung ứng giống thủy sản khoảng 600 triệu con cá bột; 55 triệu con giống thủy sản các loại. Hiện nay các địa phương đang thu hoạch vụ cá cuối năm phục vụ Tết Nguyên đán và chuẩn bị công tác nạo vét, vệ sinh ao hồ thả cá vụ mới.
II. Sản xuất công nghiệp
Do mức tiêu thụ sản phẩm công nghiệp tháng 12/2017 giảm hơn so với tháng trước, cùng với đó do sản lượng sản xuất tăng cao để phục vụ nhu cầu cuối năm nên lượng tồn kho tăng cao hơn so với tháng trước và cùng kỳ. Tính đến đầu tháng 01/2018 chỉ số tồn kho của các sản phẩm công nghiệp tăng 59,8% so với tháng trước và gấp 3,4 lần so với cùng kỳ. Trong đó, điện thoại thông minh và máy tính bảng tồn 9,3 triệu sản phẩm, gấp 2,8 lần; sắt thép tồn kho 185 nghìn tấn, gấp 2,5 lần; sản phẩm may tồn kho 6,8 triệu sản phẩm, tăng 12,6% so với cùng kỳ… Mặt khác, chỉ số tiêu thụ tháng 12/2017 giảm 38,8% so với cùng kỳ và giảm 39,6% so với tháng trước; trong đó, tiêu thụ sản phẩm  ngành sản xuất kim loại giảm 18,3% so với cùng kỳ; tiêu thụ của ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học giảm 42,4%...
Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 1/2018 tăng 1,1% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 15,8%. Trong đó, ngành cung cấp nước và hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,2% so tháng trước và tăng 27,9% cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 1,4% so tháng trước và tăng 16% cùng kỳ; sản xuất phân phối điện tăng 13,8% so tháng trước và tăng 5,6% cùng kỳ; ngành khai khoáng tăng 12,7% cùng kỳ nhưng so tháng trước giảm 24,8% do hạn chế tồn kho nên khai thác than, quặng sắt và khai thác đá cát sỏi xây dựng giảm.
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất trong tháng 1/2018 do là tháng giáp tết nên ngoại trừ các sản phẩm khai khoảng giảm còn lại hầu hết tất cả các sản phẩm công nghiệp đều có sản lượng tăng so với tháng trước và cùng kỳ. Nhóm sản phẩm ước tính sản lượng tăng cao so với cùng kỳ là: xi măng đạt 183 nghìn tấn, tăng 82,1%; đồng tinh quặng (Cu>20%) đạt 4 nghìn tấn, tăng 37,2%; gạch xây dựng đạt 6 triệu viên, tăng 30,5%; nước máy thương phẩm đạt 3 triệu m3, tăng 29,5%; đá khai thác đạt 236,4 nghìn m3, tăng 29,3%; sản phẩm may đạt 5,3 triệu sản phẩm, tăng 27,9%; sắt thép đạt 121,4 nghìn tấn, tăng 21,4%; phân phối điện (điện thương phẩm) đạt 370 triệu Kwh, tăng 16,1%; điện thoại thông minh đạt 8,4 triệu sản phẩm tăng 11,6% so cùng kỳ... Nhóm sản phẩm ước tính tăng thấp hoặc giảm hơn so với cùng kỳ là: điện sản xuất đạt 122 triệu Kwh, tăng 1,3%; Vonfram và sản phẩm Vonfram đạt 2 nghìn tấn, giảm 0,5%; máy tính bảng đạt 1,7 triệu sản phẩm, giảm 8,6%…
III. Thu, chi ngân sách
1. Thu, chi ngân sách
- Thu Ngân sách: Năm 2017 kinh tế trên địa bàn tăng trưởng cao, mặt khác công tác đô thị hóa đang được đẩy mạnh đã thúc đẩy tăng thu ngân sách. Đây là năm đạt kết quả thu ngân sách cao nhất từ trước đến nay.
Tổng thu ngân sách trên địa bàn 2017 ước đạt 12,6 nghìn tỷ đồng (thu cân đối ngân sách ước đạt  12,58 nghìn tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 30,6% và vượt 39,7% dự toán cả năm. Trong tổng thu cân đối, thu nội địa đạt 9,9 nghìn tỷ đồng, bằng 124,3% so với cùng kỳ và bằng 145,9% dự toán cả năm; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 2,7 nghìn tỷ đồng, bằng 160,2% so với cùng kỳ và bằng 120,8% dự toán cả năm. Trong thu nội địa, thu tiền cấp quyền sử dụng đất đạt 2,4 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng cao nhất với mức  24,7%, gấp 2 lần so với cùng kỳ và gấp 3,7 lần so với dự toán; tiếp đến là thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1,9 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 19,4%, bằng 91% so với cùng kỳ và vượt dự toán là 20,6%; thu từ khu vực dịch vụ ngoài quốc doanh ước đạt 1,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 16,6%, bằng 136,5% so với cùng kỳ và vượt 31,8% dự toán cả năm…
Bên cạnh đó, các khoản thu chưa đạt so với dự toán là: thu lệ phí trước bạ 322,5 tỷ, bằng 92,1% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 449 tỷ đồng, bằng 90% dự toán; thu từ bán nhà thuộc sở hữu nhà nước 734 triệu đồng, bằng 24,5% dự toán cả năm.
- Chi ngân sách: Ước tính cả năm 2017, tổng chi ngân sách địa phương đạt 11,2 nghìn tỷ đồng, bằng 85,5% so với cùng kỳ và vượt 9,4% so với dự toán. Trong đó, chi đầu tư phát triển là 3 nghìn tỷ đồng, bằng 91,4% so với cùng kỳ và vượt dự toán 81,1% (do thu năm 2017 tăng cao nên chi cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cao đạt 2 nghìn tỷ, vượt dự toán gấp 2,7 lần). Chi thường xuyên ước đạt 7,3 nghìn tỷ đồng tăng 107,6% so với cùng kỳ và vượt 4,7% dự toán.
Trong chi thường xuyên, chi sự nghiệp giáo dục đạt 2,8 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 37,8%, bằng 111,7% so với cùng kỳ và bằng 94,4% dự toán cả năm; chi quản lý hành chính đạt 1,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 21% tỷ trọng, bằng 105,2% so với cùng kỳ và vượt 11,8% dự toán; chi sự nghiệp kinh tế đạt 847 tỷ đồng, bằng 95,2% so với cùng kỳ và vượt 4,9% dự toán…
2. Hoạt động ngân hàng 
Các Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trên địa bàn đã thực hiện nhiều giải pháp để mở rộng tín dụng, bảo đảm cung ứng vốn cho nền kinh tế, tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp và người dân. Đến 31/12/2017, nguồn vốn tăng trưởng 21,13%, tăng trưởng tín dụng trên địa bàn đạt 17,12%, doanh số cho vay đạt trên 83 nghìn tỷ đồng, doanh số thu nợ đạt trên 76 nghìn tỷ đồng; trong đó 85% dư nợ tín dụng được tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên gắn với đảm bảo chất lượng tín dụng, góp phần hỗ trợ kinh tế trên địa bàn.
- Về nguồn vốn:  Nguồn vốn huy động của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đến 31/12/2017 đạt 46.883 tỷ đồng, tăng 21,13% so với 31/12/2016. (Tiền gửi bằng VNĐ đạt 45.438 tỷ đồng tăng 20,55%; tiền gửi bằng ngoại tệ quy đổi đạt 1.445 tỷ đồng tăng 42,68% so với 31/12/2016).
 Nguồn vốn NH Phát triển khu vực Bắc Kạn - Thái Nguyên đạt 1,51 tỷ đồng, giảm 29,86% so với 31/12/2016.
- Về dư nợ cho vay: Dư nợ cho vay của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tính đến 31/12/2017 đạt 46.181 tỷ đồng, tăng 17,12% so với 31/12/2016. (Dư nợ cho vay bằng VNĐ đạt 43.878 tỷ đồng, dư nợ cho vay bằng ngoại tệ quy đổi đạt 2.303 tỷ đồng; dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 28.066 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung, dài hạn đạt 18.115 tỷ đồng). Dư nợ cho vay hỗ trợ phát triển đạt 4.487 tỷ đồng, giảm 9,2 % so với 31/12/2016.
Trong tổng dư nợ, dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp là 27.709 tỷ đồng, chiếm 60%/tổng dư nợ với 4.600 doanh nghiệp còn dư nợ; dư nợ cho vay đối với khách hàng cá nhân là 18.472 tỷ đồng, chiếm 40%/tổng dư nợ với 331.000 khách hàng còn dư nợ. Trong đó tính riêng dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 11.484 tỷ đồng, tăng 30,3% so với thời điểm 31/12/2016 và chiếm 24,8%/tổng dư nợ của các ngân hàng. Có 3.674 doanh nghiệp nhỏ và vừa còn dư nợ. Nợ xấu là 109 tỷ đồng, chiếm 0,95%/tổng dư nợ của các DN nhỏ và vừa.
- Về nợ xấu, xử lý nợ xấu và cơ cấu lại hệ thống các TCTD: Tổng nợ xấu được xác định theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội (nợ xấu đến thời điểm 15/8/2017) là 724 tỷ đồng, bao gồm: nợ xấu trong bảng kế toán là 340 tỷ đồng, nợ xấu được hạch toán ngoại bảng cân đối kế toán là 295 tỷ đồng và nợ xấu đã bán cho VAMC là 89 tỷ đồng.
Các ngân hàng trên địa bàn đã triển khai quyết liệt và đồng bộ các giải pháp xử lý nợ xấu như đôn đốc khách hàng trả nợ, sử dụng dự phòng rủi ro, bán phát mại tài sản bảo đảm, bán nợ xấu cho VAMC, các hình thức khác... Năm 2017, hệ thống ngân hàng trên địa bàn đã xử lý được 134 tỷ đồng nợ xấu đưa tỷ lệ nợ xấu thường xuyên được kiểm soát ở mức dưới 1%/tổng dư nợ. Nợ xấu được xử lý đã góp phần tích cực vào việc cải thiện thanh khoản, bảo đảm an toàn, hiệu quả hoạt động của ngân hàng, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô.
- Kết quả cho vay một số chương trình tín dụng
Kết quả cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn: doanh số cho vay là 10.260 tỷ đồng, doanh số thu nợ là 8.678 tỷ đồng, dư nợ  đạt 11.090 tỷ đồng tăng 12,2% so với 31/12/2016 với 182.544 khách hàng còn dư nợ, chiếm tỷ trọng 21,8%/tổng dư nợ trên địa bàn. Trong đó, các ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài dư nợ đạt 8.861 tỷ đồng với 63.459 khách hàng còn dư nợ; Ngân hàng Chính sách xã hội dư nợ đạt 3.024 tỷ đồng với 119.084 khách hàng còn dư nợ; Ngân hàng Phát triển khu vực Bắc Kạn - Thái Nguyên dư nợ 205 tỷ đồng với 1 khách hàng còn dư nợ.
Cho vay xây dựng nông thôn mới được tiếp tục ưu tiên nguồn vốn cho vay, đáp ứng nhu cầu vốn của các địa phương xây dựng nông thôn mới nhất là tại 11 xã đăng ký đạt chuẩn năm 2017 và 09 xã xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu giai đoạn 2016-2020 (theo Quyết định số 475/QĐ-UBND ngày 16/02/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên). Kết quả đến hết tháng 12/2017, doanh số cho vay đạt 7.712 tỷ đồng, doanh số thu nợ đạt 7.188 tỷ đồng. Tổng dư nợ đạt 9.452 tỷ đồng với 143.177 hộ dân, 176 doanh nghiệp và 16 hợp tác xã còn dư nợ.
Nguồn vốn ngân hàng đã góp phần hỗ trợ thành phố Thái Nguyên và 12 xã đạt chuẩn nông thôn mới năm 2017. Lũy kế đến hết năm 2017 tỉnh Thái Nguyên có 01 thành phố (Thái Nguyên) và 68 xã đạt chuẩn nông thôn mới.
Cho vay hỗ trợ nhà ở: Mức lãi suất của các ngân hàng thương mại áp dụng trong năm 2017 đối với dư nợ của các khoản cho vay hỗ trợ nhà ở là 5,0%/năm. Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 2 ngân hàng còn dư nợ cho vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ với dư nợ 65 tỷ đồng, 216 khách hàng còn dư nợ. Trong đó tập trung chủ yếu là các cá nhân, hộ gia đình vay vốn mua nhà, xây dựng, cải tạo và sửa chữa nhà ở, mua nhà chung cư.
Chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp và bình ổn thị trường: Hệ thống ngân hàng trên địa bàn tiếp tục thực hiện Chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp, gắn Chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp với Chương trình bình ổn thị trường. Trong năm 2017, các ngân hàng trên địa bàn đã tổ chức được 29 hội nghị đối thoại/kết nối ngân hàng - doanh nghiệp với số tiền cam kết hỗ trợ là 9.131 tỷ đồng cho 301 doanh nghiệp và 6 khách hàng, dư nợ còn 6.420 tỷ đồng. Số tiền cam kết cho vay chương trình bình ổn thị trường đạt 100 tỷ đồng, dư nợ là 58 tỷ đồng với lãi suất 7%/năm.    
Cho vay chăn nuôi lợn: Để kịp thời hỗ trợ người chăn nuôi lợn, giúp người dân, doanh nghiệp vượt qua khó khăn, khôi phục và ổn định sản xuất, NHNN chi nhánh tỉnh Thái Nguyên đã chỉ đạo các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng vay chăn nuôi lợn, sản xuất thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y theo chỉ đạo của NHNN Việt Nam và Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
Các ngân hàng trên địa bàn đã thực hiện cho vay với dư nợ đạt 2.250 tỷ đồng, trong đó kể từ ngày 01/5/2017 đã thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng vay chăn nuôi lợn là 17 tỷ đồng, dư nợ được miễn, giảm lãi vay là 5 tỷ đồng. Nợ xấu của khách hàng vay chăn nuôi lợn là 4 tỷ đồng, chiếm 0,18%/tổng dư nợ cho vay chăn nuôi lợn.
III. Vốn đầu tư trên địa bàn
Tổng vốn đầu tư thực hiện thuộc ngân sách nhà nước ước tháng 1 năm 2018 đạt 123,8 tỷ đồng, tăng 14,1% so với cùng kỳ, trong đó: vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 72,3 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 58,4% và tăng 23,8% so cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 45,5 tỷ đồng, chiếm 36,7% và tăng 12% cùng kỳ; còn lại là vốn thuộc ngân sách cấp xã đạt 6 tỷ đồng, giảm 36,8% so cùng kỳ.
Một số công trình trọng điểm được thực hiện trong kỳ: Xây dựng đường Mỹ Yên, Khôi Kỳ Hoàng Nông huyện Đại Từ tổng mức đầu tư 15,2 tỷ đồng, thực hiện đạt 14,7 tỷ đồng; cải tạo nhà Thiếu Nhi Thành phố Thái Nguyên 12,4 tỷ đồng; Trung tâm thể thao huyện Định Hóa 23,3 tỷ đồng…Xây dựng một số tuyến đường ở Thành phố Thái Nguyên và huyện Đồng Hỷ với 67,9 tỷ đồng; Thực hiện đề án xây dựng tuyến phố văn minh đô thị giai đoạn 2017-2020, trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên đang tiến hành xây dựng lại vỉa hè của 8 tuyến đường trung tâm thành phố với tổng chiều dài là 8.600 m, diện tích trên 95.000 m2, tổng kinh phí khoảng 70 tỷ đồng. 
Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài: Tính chung cả năm 2017 trên địa bàn tỉnh có 14 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư mới với tổng vốn đầu tư đăng ký là 16,3 triệu USD, giảm về cả số dự án và vốn đầu tư đăng ký (thời điểm cùng kỳ là 23 dự án, với tổng vốn đăng ký là 132,85 triệu USD). Ngành nghề đăng ký mới chủ yếu gồm: 8 dự án công nghiệp chế biến chế tạo; 02 dự án dịch vụ lưu trú ăn uống; 01 dự án hoạt động thương mại và 03 dự án hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ).
IV. Thương mại, giá cả và dịch vụ
1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn tỉnh tháng 1 năm 2018 ước đạt 2.672 tỷ đồng, tăng 3,6% so với tháng trước và tăng 8,3% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 180,6 tỷ đồng, tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 11,9% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 2.481,9 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 92,9% thị phần bán lẻ), tăng 3,7% so với tháng trước và tăng 8% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 9,5 tỷ đồng, tăng 4,4% so với tháng trước và tăng 9% so với cùng kỳ.
Nếu phân theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ tháng 1 năm 2018 ước đạt 2.139,7 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 80%), tăng 3,4% so với tháng trước và tăng 8% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 234,3 tỷ đồng, tăng 6,4% so với tháng trước và tăng 9,3% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ tiêu dùng còn lại ước đạt 294,5 tỷ đồng, tăng 3,5% so với tháng trước và tăng 9,4% so với cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành chỉ chiếm một phần rất nhỏ (đạt 3,5 tỷ đồng, chiếm 0,13%, giảm 3,3% so với tháng trước, nhưng lại tăng 8,3% so với cùng kỳ).
Trong cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 1 năm 2018, các nhóm ngành hàng hóa, dịch vụ đều có tổng mức bán lẻ tăng so với cùng kỳ năm trước: nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 662,9 tỷ đồng (chiếm 31% trong tổng mức bán lẻ), tăng 2,6% so với cùng kỳ; nhóm xăng, dầu các loại ước đạt 255,7 tỷ đồng, tăng 11,1%; nhóm hàng may mặc ước đạt 182 tỷ đồng, tăng 9,3%; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 244 tỷ đồng, tăng 9,9%; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 128 tỷ đồng, tăng 13,3%; nhóm phương tiện đi lại (trừ ô tô) ước đạt 154 tỷ đồng, tăng 8%; nhóm ô tô các loại ước đạt 212,7 tỷ đồng, tăng 9,8%; nhóm sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy ước đạt 61  tỷ đồng, tăng 15,6%...
Doanh thu hoạt động dịch vụ trên địa bàn tỉnh tháng 1/2018 ước đạt 294 tỷ đồng, tăng 9,4% so với cùng kỳ. Trong đó khu vực nhà nước ước đạt 44,5 tỷ đồng (chiếm 20,9%), tăng 9,7% so với cùng kỳ; khu vực ngoài nhà nước ước đạt 244 tỷ đồng (chiếm 82,9%), tăng 9,3% cùng kỳ; còn lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chỉ đạt 5,6 tỷ đồng (chiếm 1,9%), tăng 9,6% so với cùng kỳ.
Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành trên địa bàn tỉnh tháng 1 năm 2018 ước đạt 237,8 tỷ đồng, tăng 9,2% so với năm cùng kỳ. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 24,8 tỷ đồng, chiếm 10,4%, tăng 7,9% so cùng kỳ; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 209,5 tỷ đồng, chiếm 88%; dịch vụ lữ hành và hoạt động du lịch  đạt 3,5 tỷ đồng, chiếm 1,5%, tăng 8,3% so với cung kỳ. Nếu phân theo loại hình kinh tế, khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 1,7 tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ; khu vực ngoài nhà nước ước đạt 232,3 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 97,6%, tăng 9,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 3,9 tỷ đồng, tăng 8,3%.
2. Xuất, nhập khẩu
a. Xuất khẩu
Tổng giá trị xuất khẩu tháng 1/2018 ước đạt 1.352,7 triệu USD, giảm  8,9% so với cùng kỳ nhưng tăng 17,3% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 28,1 triệu USD, tăng 2% so với tháng trước, tăng 54,2% so với cùng kỳ. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1.324,6 triệu USD (chiếm tỷ trọng 97,9% tổng kim ngạch), giảm 9,7% so với cùng kỳ, tăng 17,6% so với tháng trước.
Nhóm hàng xuất khẩu có mức tăng cao so với cùng kỳ là: sản phẩm may đạt 20 triệu USD, gấp 2,2 lần; kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 24,6 triệu USD, gấp 2 lần; chè các loại đạt 448 tấn, tăng 52,2%; linh kiện điện tử và phụ tùng khác ước đạt 397,8 triệu USD, tăng 44,5%; giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 9,2%; sản phẩm từ sắt thép ước đạt 4 triệu USD, tăng 3,3% so với cùng kỳ. Nhóm sản phẩm có giá trị xuất khẩu đạt thấp so với cùng kỳ là: máy tính bảng đạt 166,8 triệu USD, giảm 10,8%; điện thoại thông minh đạt 736 triệu USD, giảm 26% so với cùng kỳ.
b. Nhập khẩu
Tổng giá trị nhập khẩu tháng 1/2018 trên địa bàn ước đạt 955,1 triệu USD, tăng 6,3%  so với cùng kỳ, tăng 24,3% so với tháng trước. Khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 13 triệu USD, giảm 30% so với cùng kỳ; Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 942 triệu USD, tăng 7,1% so với cùng kỳ và tăng 24,5% so với tháng trước.
Nhóm mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tháng 1/2018 tăng cao so với cùng kỳ là phân bón đạt 105 nghìn USD, tăng gấp 3,9 lần so với cùng kỳ; giấy các loại đạt 626 nghìn USD, tăng 84,7%, sản phẩm từ sắt thép đạt 3,1 triệu USD, tăng 78,3%; linh kiện điện tử ước đạt 930 triệu USD, tăng 7,9% so với cùng kỳ ... Nhóm hàng có giá trị nhập khẩu đạt thấp hơn so với cùng kỳ là vải và phụ liệu hàng may mặc ước đạt 9,9 triệu USD, giảm 13,9% cùng kỳ; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng, giảm 52,2%; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc bằng 35,4%; chất dẻo (plastic) bằng  6,3% so với cùng kỳ năm trước...
 3. Giá tiêu dùng
Do giá các nhóm mặt hàng như nhóm giao thông; nhóm nhà ở, điện nước; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống; nhóm văn hóa giải trí tăng nên chỉ số giá tháng 1/2018 tăng 0,49% so với tháng 12/2017 và tăng 0,74% so với  cùng kỳ.
 So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng tăng 0,49%. Có 8/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng. Trong đó, tăng nhiều nhất là nhóm Giao thông tăng 1,61% (do nhóm phương tiện đi lại tăng 1,57%; nhóm nhiên liệu tăng 2,05%, trong đó riêng xăng, dầu tăng 2,11%); còn lại 7/11 nhóm hàng hóa tăng nhẹ trong khoảng từ 0,07% đến 0,71% như: nhóm Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,07%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,17%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,32%; nhóm văn hóa, giải trí tăng 0,42%; nhóm hàng ăn tăng 0,51%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,71%. Các nhóm có chỉ số giá tương đương tháng trước như nhóm Thuốc và dịch vụ y tế; nhóm bưu chính viễn thông; nhóm giáo dục. Không có nhóm hàng hóa nào giảm so với tháng trước.
So với cùng kỳ (tháng 1/2017), chỉ số giá tiêu dùng tháng 1/2018 tăng 0,74%.  Có 9/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có chỉ số giá tăng,  trong đó nhóm chỉ số giá tăng cao nhất là nhóm Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 3,76% (do nhóm nhà ở tăng 3,04%; nước sinh hoạt và dịch vụ nước tăng 7,91%); tiếp đến nhóm  giao thông tăng 2,98% (do nhiên liệu tăng 9,41%, riêng xăng dầu tăng 9,62%; bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,77%); nhóm  hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,23%( do nhóm hàng hóa và dịch vụ cá nhân tăng 3,28%); nhóm giáo dục tăng 3,08%;  nhóm hàng hóa tăng trong khoảng từ 0,12% đến 1,93% như nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,12%; nhóm Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,65%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,81%; nhóm may mặc tăng 1,93%. Còn lại 02/11 nhóm hàng hóa có chỉ số giảm như: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,51% (do nhóm thực phẩm giảm 2,95%); nhóm Bưu chính viễn thông giảm 0,65% (do thiết bị điện thoại giảm 3,56%).
 Chỉ số giá vàng: chỉ số giá vàng tháng 1/2018 tăng 2,21% so với tháng trước và tăng 8,57% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số giá Đô la Mỹ: Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 1/2018 giảm 0,03% so tháng trước và tăng 0,26% so với cùng kỳ.
4. Vận tải
Tổng doanh thu vận tải trên địa bàn tháng 1/2018 ước đạt 270 tỷ đồng, tăng 6,7% so với tháng trước và tăng 6,6% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 40,9 tỷ đồng, tăng 4,7% so với tháng trước và so  cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 212,8 tỷ đồng, tăng 7,1% so với tháng trước và tăng 7% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ hỗ trợ ước đạt 16,4 tỷ đồng, tăng 6,2% so với tháng trước và tăng 5,4% so với cùng kỳ.
Vận tải hành khách: Số lượng hành khách vận chuyển tháng 1/2018 ước đạt 1.046,6 nghìn lượt khách với lượng khách luân chuyển là 59,8 triệu hành khách.km, so với tháng trước tăng 5,4% về số lượng hành khách vận chuyển và tăng 4,7% số hành khách luân chuyển, so với cùng kỳ tăng 5,5% về số lượng hành khách vận chuyển và tăng 4,7% về số hành khách luân chuyển.
Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 1/2018 ước đạt 2,8 triệu tấn với khoảng 113,5 triệu tấn.km; so với tháng trước  tăng 7,1% cả về số hàng hóa vận chuyển và số lượng hàng hóa luân chuyển; So với cùng kỳ tăng 7,3% số hàng hóa vận chuyển và tăng 6,7% số hàng hóa luân chuyển.
 B. Một số vấn đề xã hội
1.  Công tác hoạt động xã hội
Hưởng ứng phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo- không để ai bị bỏ lại phía sau” và góp phần chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người nghèo trên địa bàn  trong dip Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018 sắp tới, với phương châm “Nhà nhà đều có Tết, người người đều có Tết”. Hưởng ứng chủ trương của Tỉnh ủy Thái Nguyên về tổ chức “Tuần cao điểm Tết vì người nghèo năm 2018” diễn ra từ ngày 19/01/2018 đến ngày 26/01/2018 (tức ngày 03/12/2017 đến ngày 10/12/2017 âm lịch). Đối tượng hỗ trợ như: Hộ nghèo, cận nghèo, các gia đình chính sách, gia đình có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn, đối tượng bảo trợ xã hội ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn, các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo đang điều trị tại các bệnh viện trên địa bàn toàn tỉnh trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018. Trong đó hướng về cơ sở, tập trung vào 36 xã đặc biệt khó khăn của tỉnh (với 12.686 hộ nghèo) nhằm huy động các nguồn lực xã hội trên tinh thần tự nguyện, tự giác để tổ chức các hoạt động chung tay chăm sóc, giúp đỡ các đối tượng trên.
Thực hiện “Tuần cao điểm Tết vì người nghèo năm 2018”, các Ban ngành, đoàn thể và các địa phương, đơn vị của tỉnh và cấp huyện đã  đến thăm và tặng quà các địa phương. Kết quả tổng hợp tiến độ đến ngày 24/01/2018 các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân đã thực hiện hỗ trợ cho 36 xã đặc biệt khó khăn của tỉnh với số tiền khoảng 10 tỷ đồng. Đến nay công tác thực hiện Tuần cao điểm Tết vì người nghèo vẫn đang tiến hành.
Đồng Thời, Nhân dịp Tết Nguyên đán các Ban ngành trên địa bàn trao tặng quà các gia đình thân nhân cán bộ, chiến sĩ người Thái Nguyên đang công tác tại Quần đảo Trường Sa và Đồn Biên phòng Bản Máy (Hà Giang) mỗi suất quà trị giá 2 triệu đồng. Tại các nơi đến thăm, các thành viên trong Đoàn đã ân cần hỏi thăm, chia sẻ những khó khăn, vất vả của các cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ nơi hải đảo, biên giới xa xôi, đồng thời mong muốn các gia đình tiếp tục thi đua lao động sản xuất, là hậu phương vững chắc để các chiến sĩ yên tâm công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.
Với sự chung tay giúp sức, sẻ chia của các cơ quan, đơn vị có ý nghĩa rất lớn với người dân trên địa bàn tỉnh trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất sắp tới.
* Thực hiện chính sách ưu đãi Người có công: Trong tháng 1/2018  các đoàn đại biểu của tỉnh đã tổ chức đến viếng, dâng hương tại Nghĩa trang liệt sĩ Thái Nguyên - Bắc Kạn thuộc Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn; tổ chức thăm, tặng quà 5 trung tâm điều dưỡng Người có công ở tỉnh ngoài và 01 trung tâm trong tỉnh. Đi thăm tặng quà các đối tượng thương bệnh binh, gia đình liệt sỹ, người có công tiêu biểu ở các huyện, thành phố, thị xã. 
Thực hiện thủ tục di chuyển đi, đến 15 trường hợp thuộc đối tượng Người có công; sắp xếp vào số hồ sơ cho 197 hồ sơ tử sĩ; giải quyết đơn thư 07 trường hợp. Giải quyết chế độ cho 11 trường hợp thân nhân người có công từ trần hưởng trợ cấp tuất hàng tháng. Kiểm tra hồ sơ quyết định giảm và trợ cấp mai táng phí  cho 76 trường hợp Người có công; giải quyết trợ cấp thờ cúng liệt sĩ 16 trường hợp; cấp lại thẻ Thương bệnh bệnh binh, liệt sĩ cho 14 trường hợp…
* Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em: Các ngành phối hợp với tổ chức Plan Việt Nam tham gia đàm phán dự án An toàn giao thông cho trẻ em thành phố Thái Nguyên với tổ chức An toàn giao thông toàn cầu (GRSP) tại Hà Nội; chỉ đạo các huyện, thành phố, thị xã rà soát đối tượng trẻ em bị khuyết tật hệ vận động, dị tật mắt, sứt môi - hở hàm ếch, tim bẩm sinh, các loại bệnh hiểm nghèo để có kế hoạch khám sàng lọc và phẫu thuật. Gửi 08 hồ sơ trẻ em bị bệnh tim bẩm sinh đi phẫu thuật tại Hàn Quốc và Bệnh viện Tim Hà Nội.
2. Lao động, việc làm
 Trong tháng 1/2018 Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên tổ chức tuyển dụng lao động thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo thuộc 02 huyện vào làm việc tại Công ty TNHH Samsung Elecstronics Việt Nam Thái Nguyên và các đơn vị phụ trợ của Công ty TNHH Samsung, kết quả như sau: Tại huyện Phú Lương có 233 người thuộc hộ nghèo và cận nghèo trúng tuyển; tại huyện Đại Từ có 270 người thuộc hộ nghèo và cận nghèo trúng tuyển.
3. Văn hóa, thông tin
Trên địa bàn tỉnh đã có kế hoạch tổ chức nhiều các hoạt động tuyên truyền, biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, triển lãm, thể thao mừng Đảng, mừng xuân, chào mừng các ngày lễ lớn, kỷ niệm, chào mừng kỷ niệm 88 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930- 3/2/2018), mừng xuân Mậu Tuất- Tết Nguyên đán 2018 và phục vụ nhu cầu, tham quan, vui chơi giải trí. Các hoạt động được tổ chức bằng nhiều hình thức phù hợp, thiết thực, an toàn, tiết kiệm, tạo được không khí vui tươi, phấn khởi cho nhân dân đón tết. Nội dung ca ngợi Đảng, Bác Hồ, quê hương, đất nước, ca ngợi truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; vận động nhân dân tiếp tục giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong dịp đón Xuân vui tết cổ truyền, thực hiện nếp sống văn minh trong hoạt động lễ hội.
Công tác thanh tra, kiểm tra: Ngành chức năng tiếp tục triển khai công tác thanh, kiểm tra hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch, lễ hội, các cơ sở kinh doanh karaoke…Công tác kiểm tra đã chấn chỉnh kịp thời các hành vi sai phạm, góp phần tích cực đưa các cơ sở kinh doanh hoạt động theo đúng quy định.
Hoạt động bảo tàng: Trong tháng 1 năm 2018 sưu tầm 35 ảnh hiện vật, tư liệu phục vụ trưng bày bổ sung Nhà truyền thống Tỉnh uỷ Thái Nguyên. Xây dựng kế hoạch sưu tầm hiện vật, bảo quản tài liệu hiện vật bằng hoá chất đợt I/2018; đón tiếp 520 lượt khách tham quan trong đó có 47 lượt khách nước ngoài.
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật, phát hành phim và chiếu bóng: Trong tháng 1 đầu năm 2018 tổ chức 02 buổi biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị; 102 buổi chiếu phim, trong đó có 02 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị, 100 buổi phục vụ các xã vùng  khó khăn; phục vụ 1.175 lượt người xem.
Hoạt động thư viện: Cấp 39 thẻ, phục vụ 3.012 lượt bạn đọc, luân chuyển 5.557 lượt sách. Phối hợp thực hiện 04 cuộc giới thiệu sách trên Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh; chuẩn bị tổ chức Hội báo xuân Mậu Tuất với chủ đề “Mừng Đảng, mừng Xuân, mừng đất nước đổi mới”.
Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở: Phục vụ Hội nghị tổng kết công tác xây dựng Đảng, phong trào thi đua yêu nước, kỷ niệm 88 năm ngày thành lập Đảng (03/02/1930-30/2/2018). Xây dựng chương trình nghệ thuật phục vụ lễ hội tại các huyện, thành phố, thị xã. Thực hiện 02 buổi tuyên truyền; biên soạn 02 tài liệu với chủ đề “Mừng Đảng, mừng Xuân Mậu Tuất năm 2018”, “Cuộc Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968”; duy trì hoạt động 25 CLB.
Lĩnh vực thể thao: Chuẩn bị tổ chức các hoạt động thể thao mừng Đảng, mừng Xuân (cờ tướng, tung còn, chọi gà, bắn súng trường hơi). Phối hợp tổ chức Đại hội liên đoàn quần vợt, cờ. Tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo 161 học sinh năng khiếu hệ nội trú, 40 học sinh bán trú; xây dựng kế hoạch huấn luyện VĐV tham các giải và Đại hội TDTT toàn quốc; đạt 01 HCV giải cờ vua quốc tế tại Lào. Chuẩn bị cơ sở vật chất phục vụ  tổ chức các môn thi đấu trong chương trình Đại hội TDTT tỉnh Thái Nguyên lần thứ VIII, năm 2018.
 Lĩnh vực du lịch: Hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị hoạt động kinh doanh, khu điểm du lịch lớn trên địa bàn tỉnh về tổ chức đón, phục vụ khách lưu trú du lịch trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018 và các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân.
4. Hoạt động Y tế và dân số
Trong năm 2017 công tác tổ chức mạng lưới y tế trên địa bàn đang được sắp xếp nhằm tinh gọn và giảm các đầu mối, phát huy hiệu quả hoạt động và giảm chi phí;  Cùng với đó là đẩy mạnh phát triển y tế chuyên sâu, tạo điều kiện để người dân được tiếp cận với các dịch vụ y tế cơ bản và cả các dịch vụ có chất lượng cao một cách thuận tiện nhất.
Chỉ số hài lòng về dịch vụ y tế công toàn Ngành y tế đạt 95,6%. Kết quả khảo sát sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ Y tế công cho thấy rằng người dân đã và đang đánh giá tích cực về dịch vụ y tế, chứng minh được nỗ lực cải thiện chất lượng dịch vụ y tế của Ngành y tế Thái Nguyên.
Năm 2017, quy mô giường bệnh toàn tỉnh là 3.525 giường, tăng 200 giường so với năm 2016. Các bệnh viện tiếp tục có kế hoạch đầu tư xây dựng, mua sắm trang thiết bị, cải tiến quy trình khám chữa bệnh, quan tâm công tác dinh dưỡng, tiết chế, chăm sóc người bệnh toàn diện, kiểm soát nhiễm khuẩn; đào tạo các kíp kỹ thuật chuyên sâu và triển khai ứng dụng trong năm 2017.
* Công tác phòng chống dịch bệnh và khám chữa bệnh
 - Tình hình dịch bệnh: Năm 2017, trên địa bàn tỉnh không có dịch lớn xảy ra, rải rác còn xẩy ra một số dịch bệnh nhỏ, được phát hiện và khống chế kịp thời: Số ca mắc bệnh Quai bị: 617 ca, giảm nhiều so với năm 2016 (1798 ca); Bệnh Tay chân miệng: 199 ca, giảm so với năm 2016 (359 ca); Số ca mắc sốt phát ban dạng sởi/rubella: 11 ca, giảm  so với năm 2016 (42 ca). Số ca mắc Sốt xuất huyết 415 ca, tăng cao so với năm 2016 (22ca), cao nhất là Thành phố Thái Nguyên: 144 ca, tiếp đến các huyện Phổ Yên, Đại Từ, không có tử vong.  Cao điểm nhất là trong Quý III, toàn tỉnh có 333 ca mắc, đặc biệt trong tháng 8/2017 có tới 176 ca; hầu hết các ca đều có tiền sử đi và đến vùng đang có dịch lưu hành (Hà Nội).
Năm 2017, còn ghi nhận 03 trường hợp tử vong do bệnh dại tại thành phố Thái Nguyên, thị xã Phổ Yên và huyện Đồng Hỷ (giảm 2 ca so với năm 2016). Trong  năm có 9.540 người phải tiêm vắc xin/huyết thanh để phòng và điều trị dự phòng bệnh dại, tăng hơn so với năm 2016 (năm 2016 có 9.473 người).
- Công tác khám chữa bệnh: Năm 2017 các hoạt động khám chữa bệnh, thực hiện quy chế chuyên môn tại các bệnh viện, trạm y tế được duy trì tốt.   Tổng số lượt bệnh nhân đến khám chữa bệnh trong toàn tỉnh năm 2017 đạt 3 triệu lượt, tăng hơn 93,8 nghìn lượt so với năm 2016 (năm 2016: 2,9 triệu lượt), trong đó: Các  đơn vị trực thuộc sở Y tế 2,1 triệu lượt; Bệnh viện đa khoa TW và bệnh viện tư nhân là 0,8 triệu lượt người. (Số lượt khám của các Bệnh viện tư nhân tăng 28 nghìn lượt so với năm 2016 (năm 2016  đạt: 314.084 lượt); Số lượt điều trị nội trú tại các bệnh viện tư nhân đạt 15.666 lượt, riêng tại bệnh viện Quốc tế đạt 12.658 lượt. Số lượt người dân được khám tại các bệnh viện tư nhân đạt 0,27 lượt/người/năm). 
Hoạt động khám chữa bệnh tại tuyến xã, phường tiếp tục duy trì thực hiện tốt, đặc biệt khám chữa bệnh BHYT cho người nghèo, đối tượng chính sách, trẻ em dưới 6 tuổi; Một số trạm y tế đã tích cực ứng dụng y học cổ truyền trong khám chữa bệnh, sử dụng có hiệu quả các phương tiện chẩn đoán như siêu âm, điện tim, xét nghiệm.
Kết quả kiểm tra xã, năm 2017 có 180/180 Trạm y tế xã, phường, thị trấn (100%) xếp loại tốt, cao hơn so với năm 2016 (năm 2016 có 176 trạm y tế xã xếp loại tốt (97,24%), 5 trạm y tế xã xếp loại khá (2,76%).
Năm 2017 triển khai tháng cao điểm Chương trình Khám chữa bệnh nhân đạo và chăm sóc sức khỏe cộng đồng với chủ đề “Hành trình tri ân”. Toàn Ngành đã phối hợp tổ chức nhiều đợt khám khám bệnh, tư vấn sức khỏe và cấp thuốc miễn phí cho các gia đình chính sách, thương bệnh binh, người có công cách mạng, người cao tuổi, nạn nhân chất độc da cam trên địa bàn cho tổng số 12.076 người với kinh phí 1,1 tỷ đồng. Tổ chức khám bệnh, tặng quà cho 39 Mẹ Việt Nam Anh hùng.  Tổ chức khám sàng lọc bệnh huyết áp cho 2.400 người dân trên địa bàn huyện Phú Bình, huyện Đại từ, thành phố Thái Nguyên. Khám sàng lọc cho 4.000 bệnh nhân mắc các bệnh không lây nhiễm tại cộng đồng (30 xã của 6 huyện) do Quỹ Tim mạch tài trợ.  Tổ chức Lễ mít tinh hưởng ứng “Ngày toàn dân hiến máu tình nguyện” và tiếp nhận máu tình nguyện; kết quả thu được 230 đơn vị máu.
- Chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm:  Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) có sự phối hợp hiệu quả giữa  các ngành. Tăng cường các hoạt động truyền thông về an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng chống ngộ độc Rượu, Nấm; Truyền thông 10 nguyên tắc vàng trong chế biến thực phẩm an toàn.  Triển khai các hoạt động kiểm soát, giám sát nguy cơ gây ô nhiễm thực phẩm trên địa bàn tỉnh. Tiến hành giám sát tại 63 cơ sở  kinh doanh dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố; 62 bếp ăn tập thể; 25 cơ sở sản xuất nước uống đóng chai.
Năm 2017, không có các vụ ngộ độc thực phẩm lớn xẩy ra, rải rác có 04 vụ ngộ độc thực phẩm nhỏ với 47 người mắc, không có trường hợp tử vong. Trong đó, có 01 vụ ngộ độc thực phẩm do vi sinh vật và 03 vụ ngộ độc thực phẩm do độc tố tự nhiên có sẵn trong thực phẩm.
- Chương trình phòng chống HIV/AIDS: Công tác phòng chống HIV/AIDS duy trì tốt các hoạt động. Tính đến 31/12/2017 có 3.596 trường hợp đang điều trị HIV/AIDS, trong đó có 3.298 trường hợp tại các cơ sở y tế (128 trẻ em và 3.170 người lớn); 290 bệnh nhân tại Trại giam Phú Sơn 4 và 8 bệnh nhân tại các Cơ sở Tư vấn và Điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh.  Lũy tích số nhiễm HIV/AIDS đến đầu tháng 12/2017 là  9.653, số chuyển sang AIDS: 6.707, số tử vong do AIDS: 3.401. Năm 2017, số HIV quản lý mới: 123, giảm hơn năm 2016 (năm 2016: 191), số chuyển sang AIDS: 118, Tử vong do AIDS: 20 người.
- Chương trình Tiêm chủng mở rộng: Hoạt động tiêm chủng mở rộng được duy trì ổn định tại các tuyến. Công tác giám sát tiêm chủng tại các điểm tiêm được duy trì thường xuyên.  Số mũi tiêm vắc xin các loại tại phòng khám Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật: 44.596 mũi tiêm, so với năm 2016 tăng 5,4% (năm 2016 là 42.329); trong đó mũi tiêm vắc xin và huyết thanh kháng dại là 15.788, chiếm tỷ lệ 35,4%; nhiều nhất vào quý II với 4.366 mũi tiêm.
* Công tác dân số: Năm 2017 toàn tỉnh có 18.913 trẻ được sinh ra (tăng 323 trẻ so với 2016), trong đó trẻ em nam là 10.097, trẻ em nữ là 8.816; số trẻ là con thứ 3 trở lên 1.405 trẻ (chiếm tỷ lệ là 7%, tăng 142 trẻ so năm 2016); trong đó có 04 địa phương có tỷ lệ sinh con thứ 3 nhiều nhất là huyện Phú Bình 272 trẻ (chiếm 19%), huyện Đồng hỷ có 197 trẻ, thành phố Thái Nguyên 183 trẻ, thị xã Phổ Yên 153 trẻ; huyện sinh con ít nhất là huyện Định Hóa có 76 trẻ sinh (chiếm 5% tổng số trẻ sinh con thứ 3).
* Xã đạt chuẩn quốc gia về Y tế:  Các Trạm y tế xã làm tốt chức năng chăm sóc sức khỏe ban đầu, sử dụng phần mềm HMIS trong khám chữa bệnh, thanh toán BHYT, phần mềm báo cáo bệnh truyền nhiễm và tiêm chủng theo chỉ đạo của Bộ Y tế. Đến nay, toàn tỉnh đã có 159/180 xã đạt tiêu chí Quốc gia về Y tế (chiếm 88,3%). Trong quý I/2018, dự kiến sẽ thẩm định 7 xã đạt tiêu chí Quốc gia về y tế.
5. Tình hình trật tự, an toàn giao thông
Nhằm đảm bảo trật tự an toàn giao thông, trật tự xã hội trên các tuyến giao thông, phục vụ việc vận tải hành khách, hàng hóa, đi lại và vui chơi của nhân dân trong dịp tết Nguyên đán Mậu Tuất và các lễ hội đầu xuân 2018, cơ quan chức năng đã mở đợt cao điểm tuần tra kiểm soát, đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên địa bàn. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến các quy định của pháp luật về trật tự an toàn giao thông. Xử lý nghiêm các hành vi, vi phạm sử dụng phương tiện giao thông chở hàng hóa cấm, chở quá khổ, quá tải, nồng độ cồn và không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông. Chỉ đạo các đơn vị doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành khách, hàng hóa, tăng cường phương tiện phục vụ nhân dân, học sinh đị lại trước, trong và sau dịp Tết Nguyên đán, giảm bớt ùn tắc tại các bến tàu, bến xe.
Theo báo cáo của Ban an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, tính từ 16/12/2017 đến 15/01/2018, xảy ra 8 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 8 người và bị thương 7 người, so với cùng kỳ năm trước số vụ giảm 7 vụ (-46,67%), số người bị chết giảm 3 người (-27,27%), nhưng lại tăng 1 người bị thương (+16,67%). 
Trong kỳ các cơ quan chức năng đã kiểm tra, lập biên bản và xử lý vi phạm 3.541 trường hợp; tước 458 giấy phép lái xe; tạm giữ 239 xe ô tô, 438 xe môt tô; 16 phương tiện khác; số tiền xử phạt 4,7 tỷ đồng (vi phạm đường bộ).
Về đường sắt xử lý 3 trường hợp vi phạm do quay đầu xe trong phạm vi đường ngang, xử phạt, thu nộp Kho bạc Nhà nước 2,1 triệu đồng.
Về đường thủy nội địa: xử lý 06 trường hợp vi phạm, thu nộp Kho bạc Nhà nước 9 triệu đồng.
6. Tình hình cháy nổ
Công tác phòng cháy chữa cháy đã được cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra và nhắc nhở nhằm hạn chế các vụ cháy nổ xảy ra. Trong tháng 1 năm 2018 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 2 vụ cháy, không có vụ nổ nào. So với cùng kỳ năm trước số vụ cháy nổ giảm 3 vụ, số người chết và bị thương không có, giá trị thiệt hại ước khoảng 780 tỷ đồng, tăng 734,4 triệu đồng so với cùng kỳ.
7. Vi phạm môi trường
Trong tháng 1 năm 2018 trên địa bàn Tỉnh ngành chức năng đã kiểm tra và xử lý 7 vụ vi phạm môi trường, với tổng số tiền xử phạt khoảng 30 triệu đồng. Nguyên nhân của các vụ xử lý trên là do các cơ sở sản xuất kinh doanh không thực hiện quan trắc giám sát môi trường định kỳ theo đề án bảo vệ môi trường được Sở Tài Nguyên Môi trường xác nhận.
Trên đây là một số tình hình về kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên tháng 01 năm 2018./.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

CHUYÊN MỤC
dieutradanso2019

hoc tap lam theo HCM

tong cuc thong ke

luat thong ke 1

cong thong tin thai nguyen


Dieu tra DN 2018

anh minh hoa 1
 
anh tuyen dung
Thống kê website
  • Đang truy cập16
  • Hôm nay
  • Tháng hiện tại
  • Tổng lượt truy cập
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây