Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 năm 2017

Chủ nhật - 25/02/2018 20:25
   BÁO CÁO
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 năm 2017 tỉnh Thái Nguyên
 
A. KINH TẾ
I. Sản xuất nông, lâm nghiệp thủy sản
1. Trồng trọt
* Cây hàng năm
- Sản xuất vụ Mùa: Hiện nay các địa phương đang khẩn trương thu hoạch lúa mùa. Tính đến ngày 31/10 tổng diện tích lúa đã thu hoạch khoảng 33 nghìn ha, bằng 81% tổng diện tích lúa đã cấy.
Nhìn chung lúa Mùa sớm năm nay được mùa, năng suất ước tính tăng hơn so với vụ Mùa 2016, tuy nhiên do diện tích gieo cấy giảm nên sản lượng thu hoạch chỉ tương đương cùng kỳ năm trước.
Công tác thu hoạch các loại cây trồng hàng năm khác đang được các địa phương tích cực triển khai; trong đó, cây ngô thu hoạch khoảng 2.650 ha,  rau các loại đã thu hoạch khoảng 2,4 nghìn ha; khoai lang đạt 500 ha…Dự ước năng suất các cây hàng năm vụ Mùa 2017 tăng so với năm trước, riêng cây khoai lang năng suất thu hoạch tương đương cùng kỳ năm trước.
- Sản xuất vụ Đông 2017 - 2018: Ngay sau khi thu hoạch cây hàng năm và lúa mùa sớm, các địa phương đã khẩn trương tiến hành làm đất gieo trồng cây hàng năm Vụ Đông kịp thời vụ. Vụ Đông năm nay kế hoạch gieo trồng cây hàng năm chủ yếu trên địa bàn tỉnh là 15 nghìn ha, tương đương năm trước, trong đó cây ngô 5,8 nghìn ha, cây rau các loại 6,5 nghìn ha, cây khoai lang 2,5 nghìn ha; cây lạc và đậu tương 270 ha...
Tranh thủ thời tiết thuận lợi các địa phương triển khai xuống giống cho kịp khung thời vụ. Ước tính đến ngày 31/10/2017 toàn tỉnh gieo trồng được khoảng 10 nghìn ha cây trồng vụ Đông, bằng 66% kế hoạch cả vụ, trong đó cây ngô đã trồng được 4,2 nghìn ha, bằng 73% kế hoạch; khoai lang trồng được khoảng 1,5 nghìn ha, bằng 58% kế hoạch; rau các loại trồng được 4 nghìn ha, bằng 62% kế hoạch; các cây đỗ tương, lạc trồng được 173 ha, ước đạt trên  60% kế hoạch. Một số địa phương đã chủ động giảm dần diện tích ngô và tăng diện tích trồng rau màu so với cùng kỳ năm trước, do các loại rau màu cho hiệu quả kinh tế cao hơn.
 
* Cây chè
Công tác trồng mới và trồng cải tạo cây chè được các địa phương triển khai đại trà trong vụ thu và đến nay đã cơ bản hoàn thành. Tính đến ngày 31/10/2017 diện tích chè trồng mới và trồng lại đạt 1.053 ha, bằng 105,3% kế hoạch (riêng chè trồng vụ Xuân đạt 72,2 ha, còn lại chủ yếu là trồng vụ Thu), trong đó chè trồng mới là 210 ha bằng 101,5% kế hoạch cả năm.
Tình hình sâu bệnh hại trên cây chè: Diện tích bị nhiễm sâu bệnh gây hại khoảng 1,2 nghìn ha, trong đó rầy xanh 549 ha, bọ cánh tơ 364,5 ha, bọ xít muỗi 343 ha… nhìn chung diện tích nhiễm sâu bệnh giảm hơn so thời điểm năm trước nên năng suất chè tăng hơn năm trước.
2. Chăn nuôi
Hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh không có dịch bệnh lớn xảy ra nhưng do giá bán lợn hơi vẫn ở mức thấp nên tổng đàn tổng đàn lợn giảm mạnh so cùng kỳ. Riêng đàn bò và đàn gia cầm vẫn duy trì được ổn định và tăng so cùng kỳ.
Ước tính  đến 31/10/2017:  So cùng kỳ đàn trâu khoảng 61,7 nghìn con, giảm 1,4%; Đàn bò khoảng 46,5 nghìn con tăng 4,7%; Tổng đàn lợn khoảng 601 nghìn con, giảm 9%; đàn gia cầm ước khoảng 11,8 triệu con tăng 9,2%, trong đó gà khoảng 10 triệu con và tăng 8% so cùng kỳ.
 Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm đã được các địa phương triển khai và kết quả  tính đến hết tháng 9/2017 như sau: tiêm phòng tụ huyết trùng cho trâu bò đạt khoảng 107 nghìn con; tiêm phòng tụ dấu đạt 351 nghìn con, tiêm phòng dịch tả lợn 472 nghìn con; tiêm phòng lở mồm, long móng trâu, bò, lợn khoảng 119 nghìn con; vắc xim Lepto 5,7 nghin con; Vắc xin Tai xanh 19,4 nghìn con; vắc xin Cúm gia cầm 2,6 triệu con. Bên cạnh đó ngành chức năng duy trì công tác kiểm dịch động vật, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y động vật và sản phẩm động vật tại 9/9 huyện, thành phố, thị xã.
3. Lâm nghiệp
Đến nay công tác trồng rừng đã kết thúc, các địa phương đang triển khai chăm sóc và nghiệm thu diện tích rừng trồng mới.
- Tình hình khai thác lâm sản: Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 10/2017 ước đạt 11 nghìn m3, giảm 4,3% so với cùng kỳ; khai thác tre, nứa, vầu khoảng 2 triệu cây và khoảng 4,8 tấn củ bình vôi. Tính chung 10 tháng sản lượng gỗ khai thác khoảng 110 nghìn m3, giảm 4,4% cùng kỳ; sản lượng củi khai thác khoảng 183 nghìn m3, tăng 6,1% so với cùng kỳ.
- Công tác quản lý bảo vệ rừng: Trong tháng không có vụ cháy rừng nào xảy ra. Các ngành đã tổ chức các lớp tập huấn tuyên truyền về công tác quản lý bảo vệ  và phát triển rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, các chính sách vay vốn ưu đãi để phát triển kinh tế đồi rừng, tổ chức các lớp tập huấn về quản lý giống cây lâm nghiệp cho các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh và sử dụng giống cây lâm nghiệp.
Lũy kế 9 tháng 2017 ngành chức năng đã phát hiện và xử lý 269 vụ vi phạm quản lý bảo vệ rừng (giảm 31,2% so với cùng kỳ năm 2016), tịch thu 453 m3 gỗ các loại (giảm 3,4%); trong đó gỗ quý hiếm quy tròn 64 m3; Thu nộp ngân sách nhà nước 1,9 tỷ đồng; tịch thu 40 phương tiện các loại.
4. Thủy sản
Dự ước sản lượng thủy sản 10 tháng đầu năm 2017 đạt khoảng 7,3 nghìn tấn, tăng 11,2% so với  cùng kỳ năm 2016. Sản xuất được 550 triệu cá bột, 49 triệu cá giống các loại.
Tình hình nuôi thủy sản thương phẩm: Các địa phương tiếp tục thả cá giống, chăm sóc, phòng dịch bệnh, đồng thời phòng chống lụt bão cho các ao hồ nuôi cá trong mùa mưa bão; chỉ đạo hướng dẫn kỹ thuật mô hình nuôi cá thâm canh cá rô phi đơn tính và cá Nheo Mỹ theo kế hoạch năm 2017.
II. Sản xuất công nghiệp
Nhịp độ sản xuất ngành công nghiệp tháng 10/2017 đang được đẩy mạnh để phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ những tháng cuối năm. Chỉ số tiêu thụ tính chung 10 tháng 2017 ước tính tăng 44% so với cùng kỳ, tăng cao ở nhóm sản xuất điện tử và sản xuất trang phục. Bên cạnh đó chỉ số tồn kho của các đơn vị sản xuất công nghiệp tính đến đầu tháng 10/2017 tăng 24,5% so với cùng kỳ năm 2016. Cụ thể, điện thoại thông minh và máy tính bảng tồn trên 4,7 triệu sản phẩm, tăng 1,6% so với cùng kỳ và giảm 0,16% so với tháng trước; xi măng tồn kho khoảng 26,2 nghìn tấn, giảm 50% (-26 nghìn tấn) so với cùng kỳ, giảm 6% so với tháng trước; vonfram và sản phẩm của vonfram tồn 237 tấn, giảm 33,4% so với cùng kỳ và giảm 42% so với tháng trước; sản phẩm may tồn 5,5 triệu sản phẩm...
Với nhịp độ sản xuất và tiêu thụ như trên nên chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tháng 10/2017 ước tính tăng 8,5% so với tháng trước và tăng 15,5% so với cùng kỳ ở tất cả các ngành công nghiệp cấp I. Trong đó, tăng cao nhất so với cùng kỳ là nhóm cung cấp nước và hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 31% (do sản xuất nước máy thương phẩm tăng); nhóm ngành sản xuất và phân phối điện tăng 23,8%; nhóm khai khoáng tăng 15,5% và nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,3%.
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất tháng 10/2017: nhóm sản phẩm có sản lượng tăng cao so với cùng kỳ là: đồng tinh quặng đạt 4,3 nghìn tấn, tăng 48,2%; nước máy thương phẩm đạt 3,3 triệu m3, tăng 30%; sản phẩm may đạt 5,7 triệu sản phẩm, tăng 25,2%; điện sản xuất đạt 112 triệu Kwh, tăng 24,4% (do từ tháng 10/2017 một số tổ máy đã hoạt động lại bình thường); điện thương phẩm đạt 430 triệu Kwh, tăng 23,6%; sắt thép các loại đạt 127,7 nghìn tấn, tăng 20,9%; điện thoại thông minh đạt 8,7 triệu sản phẩm, tăng 18,2%; than khai thác đạt 111,6 nghìn tấn, tăng 13,2%… Các sản phẩm có sản phẩm tăng ít hoặc giảm hơn so với cùng kỳ là: máy tính bảng đạt 2,2 triệu sản phẩm, tăng 0,1%; Vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 1,4 ngìn tấn, giảm 7%; gạch xây dựng đạt 5,4 triệu viên, giảm 12,3%; xi măng đạt 160,6 nghìn tấn, giảm 19%...
Tính chung 10 tháng đầu năm 2017 chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 17,9% so với cùng kỳ năm 2016; trong đó, nhóm ngành công nghiệp chế biến và chế tạo tăng 18,4% (tăng cao nhất là sản xuất trang phục tăng 30,7%); nhóm ngành khai khoáng tăng 19,4% và nhóm ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 23,1% so với cùng kỳ. Riêng nhóm ngành sản xuất và phân phối điện giảm 5,9% (do hoạt động sản xuất điện giảm).
Tính chung 10 tháng đầu năm 2017, nhóm sản phẩm công nghiệp chủ yếu đạt sản lượng tăng cao so với cùng kỳ năm 2016 là: sản phẩm may đạt 49,2 triệu sản phẩm, tăng 30,7%; vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 15,8 nghìn tấn, tăng 24,7%; nước máy thương phẩm đạt 28,7 triệu m3, tăng 22,8%; điện thoại thông minh đạt 82,8 triệu sản phẩm, tăng 21,6%; điện thương phẩm đạt 3.705 triệu Kwh, tăng 14,6%; đồng tinh quặng đạt 35 nghìn tấn, tăng 10%; sắt thép các loại đạt 1,2 triệu tấn, tăng 5,4%; gạch xây dựng đạt 57,2 triệu viên, tăng 2,9%; máy tính bảng đạt 17,7 triệu sản phẩm, tăng 1,4%... Ngoài ra nhóm sản phẩm công nghiệp có sản lượng giảm hơn so với cùng kỳ là: than khai thác đạt 994,4 nghìn tấn, giảm 2,5%; xi măng đạt 1,5 triệu tấn, giảm 13%; điện sản xuất đạt 1.098 triệu Kwh, giảm 13,9%...
III. Thương mại, giá cả và dịch vụ
1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ phục vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng 10/2017 ước đạt 2.318 tỷ đồng, tăng 2,4% so tháng trước và tăng 12,4% so cùng kỳ. Trong đó, khu vực nhà nước ước đạt 166 tỷ đồng, tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 7,8% so với cùng kỳ; khu vực ngoài nhà nước ước đạt 2.144 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 92,5%), tăng 2,5% so với tháng trước và tăng 12,8 so với cùng kỳ; còn lại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chỉ đạt 8,3 tỷ đồng (chiếm 1 phần rất nhỏ trong cơ cấu thị phần), tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 7,7% so với cùng kỳ.
Nếu phân theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ tháng 10/2017 ước đạt 1.957 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 84,4%), tăng 2,4% so với tháng trước và tăng 13,4% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống doanh thu ước đạt 193,4 tỷ đồng, tăng 2% so với tháng trước và tăng 7,5% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ tiêu dùng còn lại ước đạt 165 tỷ đồng, tăng 3,3% so với tháng trước và tăng 8% so với cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành chỉ chiếm một phần rất nhỏ (đạt 3,6 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,16%, giảm 8,9% so với tháng trước nhưng lại tăng 6,2% so với cùng kỳ).
Tính chung 10 tháng 2017, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước đạt 21.988 tỷ đồng, tăng 10% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 1.571 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 7,1%), tăng 4,8% so cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 20.336 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 92,5%), tăng 10,4% so cùng kỳ (riêng khối cá thể tổng mức bán lẻ đạt 13.249 tỷ đồng, chiếm 60,3% thị phần bán lẻ trên địa bàn, tăng 10,9% so với cùng kỳ).
Trong tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội 10 tháng năm 2017, ngành thương nghiệp ước đạt 18.443 tỷ đồng (chiếm 83.9%) tăng 10,4% so cùng kỳ năm trước; ngành khách sạn, lưu trú ăn uống ước đạt 1.956 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 8,9%), tăng 7,8% so với cùng kỳ; ngành du lịch lữ hành ước đạt 16,3 tỷ đồng, tăng 15,3% cùng kỳ; ngành dịch vụ tiêu dùng ước đạt 1.573 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước.
Trong cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hóa 10 tháng năm 2017, tất cả các nhóm mặt hàng đều tăng so với cùng kỳ. Cụ thể nhóm mặt hàng đạt doanh thu bán lẻ lớn nhất là lương thực, thực phẩm đạt 5.837 tỷ đồng, (chiếm tỷ trọng 31,7%), tăng 12,4% so với cùng kỳ; tiếp đến là nhóm xăng dầu các loại đạt 2.234 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 12,1%), tăng 5,2% so với cùng kỳ (do giá xăng dầu tiếp tục tăng); nhóm ô tô các loại đạt 1.953 tỷ đồng, tăng 9.5% so với cùng kỳ; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 1.873 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 10,2%, tăng 11,8% so với cùng kỳ; nhóm hàng may mặc ước đạt 1.433 tỷ đồng, tăng 13,7% so với cùng kỳ năm trước.
2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa
a. Xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu trên địa bàn vẫn duy trì được kết quả cao. Tổng giá trị xuất khẩu tháng 10/2017 ước đạt 1,88 tỷ USD, tăng 8,7% so với cùng kỳ và tăng 2,7% so với tháng trước. Trong đó, giá trị xuất khẩu khu vực trong nước ước đạt 30 triệu USD, tăng 0,3% so với tháng trước, tăng 86,4% so với cùng kỳ (do xuất khẩu sản phẩm may và khoáng sản tăng); khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,85 tỷ USD, tăng 2,7% so với tháng trước và tăng 8% so với cùng kỳ (chiếm tỷ trọng 98,4% tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn).
So với cùng kỳ năm trước, mặt hàng xuất khẩu tăng cao là: kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 21,1 triệu USD, tăng gấp 2,3 lần; sản phẩm may đạt 27,7 triệu USD, tăng 65,3%; chè các loại đạt 310 tấn với giá trị đạt 0,6 triệu USD, tăng 12,7% về lượng và 23,9% về giá trị; điện thoại thông minh sản lượng đạt 8,2 triệu sản phẩm với giá trị đạt 1,4 tỷ USD, sản lượng tương đương so với cùng kỳ nhưng giá trị tăng 21,1%; máy tính bảng đạt sản lượng là 1,8 triệu sản phẩm với giá trị đạt 259,6 triệu USD, giảm 15,6% về sản lượng và tăng 13,8% về giá trị... Một số mặt hàng xuất khẩu giảm hơn so với cùng kỳ là: giấy và các sản phẩm từ giấy đạt 0,2 triệu USD, giảm 0,4%; phụ tùng vận tải đạt 0,4 triệu USD, giảm 1,5%; sản phẩm từ sắt thép đạt 4 triệu USD, giảm 3%; linh kiện điện tử và phụ tùng khác đạt 112,6 triệu USD, bằng 42,8% so với cùng kỳ...
Tính chung 10 tháng đầu năm 2017, giá trị xuất khẩu ước đạt 19,2 tỷ USD, tăng 22,4% so với cùng kỳ. Trong đó, tăng chủ yếu ở các mặt hàng như: kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 184,5 triệu USD, tăng 53,5%; điện thoại thông minh đạt sản lượng 78,1 triệu sản phẩm với giá trị đạt 13,6 tỷ USD, tăng 25,1% về lượng và tăng 39,7% về giá trị; sản phẩm may đạt 210,2 triệu USD, tăng 12,4%; linh kiện điện tử và phụ tùng khác đạt 2,7 triệu USD, tăng 12,2%; máy tính bảng đạt sản lượng 17,2 triệu sản phẩm với giá trị đạt 2,3 tỷ USD, giảm 3,8% về lượng nhưng tăng 7,3% về giá trị; sản phẩm từ sắt thép đạt 43 triệu USD, tăng 5,6%…
b. Nhập khẩu
Tổng giá trị nhập khẩu tháng 10/2017 trên địa bàn ước đạt 1,14 tỷ USD, tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 10,9%  so với cùng kỳ. Khu vực kinh tế trong nước ước đạt 21,4 triệu USD, tăng 6,6% so với tháng trước, tăng 32,1% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 1,9% tổng giá trị nhập khẩu. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,12 triệu USD, tăng 0,5%  so với tháng trước và tăng 10,6% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 98,1% tổng giá trị nhập khẩu.
Nhóm mặt hàng nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong tháng là: linh kiện điện tử ước đạt 1,1 triệu USD, tăng 11,2% so với cùng kỳ; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 13,8 triệu USD, tăng 19,5% so với cùng kỳ; vải và phụ liệu hàng may mặc ước đạt 11,3 triệu USD, tăng 7% cùng kỳ; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 5,7 triệu USD, 24,5% so với cùng kỳ...
Tính chung 10 tháng đầu năm 2017, tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn ước đạt 11,71 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước ước đạt 181,7 triệu USD, chiếm tỷ trọng 1,6% tổng giá trị nhập khẩu. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 11,53 tỷ USD, tăng 21,2% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 98,4% tổng giá trị nhập khẩu. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ là: nguyên liệu và linh kiên điện tử đạt 11,3 tỷ USD, tăng 28,3%; vải và phụ liệu hàng may mặc đạt 104,3 triệu USD, tăng 15%; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 62,8 triệu USD, tăng gấp 2,1 lần so với cùng kỳ…
3. Giá tiêu dùng
Do giá các nhóm mặt hàng giao thông, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống, nhóm nhà ở tăng nên chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2017 tăng 0,25% so với tháng trước và giảm 0,15% so với tháng 10/2016. Bình quân 10 tháng năm 2017 tăng 2,77% so bình quân cùng kỳ, tăng 0,25% so với tháng 12 năm trước.
So với tháng trước có 3/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chỉ số giá tăng, trong đó tăng nhiều nhất là nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,6% (do giá nhà ở  tăng 1,63%; giá ga và các loại chất đốt tăng 4,17%); nhóm giao thông tăng 0,66% (do phương tiện đi lại tăng 0,14%, giá nhiên liệu tăng 1,45%); nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,04% (do giá  lương thực tăng 0,45%, giá thịt gia cầm tươi sống tăng 0,05%, thủy sản tươi sống tăng 1,06%); có 4/11 nhóm hàng hóa giảm, trong đó nhóm văn hóa giải trí và du lịch giảm 0,75% (do giá du lịch trọn gói giảm 1,71%); nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,15% (do nhóm may mặc giảm 0,21%, nhóm quần áo may sẵn giảm 0,22%); tiếp đến là nhóm thiết bị và đồ dùng giảm 0,05%, nhóm hàng hóa và dịch vụ giảm 0,03%. Còn lại 4/11 nhóm hàng hóa tương đương tháng trước như  nhóm đồ uống và thuốc lá, nhóm thuốc và dịch vụ y tế, nhóm bưu chính viễn thông và  nhóm giáo dục.
So với tháng 12/2016, chỉ số giá  tiêu dùng tăng 0,25%. Có 8/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá  tăng. Trong đó tăng cao nhất là nhóm nhà ở và điện nước tăng 4,99% (do nhóm nhà ở tăng 4,76%, nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 4,65%, nhóm dịch vụ sửa chữa nhà ở 5,14%; nhóm nước sinh hoạt tăng 6,94%); nhóm giao thông tăng 3,13% (do giá nhiên liệu tăng 10,25%, giá bảo dưỡng xe tăng 0,77%, giá dịch vụ khác cho phương tiện cá nhân tăng 1,25%); tiếp đến là nhóm giáo dục tăng 3,06% (do nhóm đồ dùng học tập tăng 2,51%, nhóm dịch vụ giáo dục tăng 3,19%);  nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,82%; còn lại 4 nhóm tăng trong khoảng 0,06%-0,81% là nhóm thiết bị và đồ dùng tăng 0,06%, nhóm văn hóa và giải trí tăng 0,27%, nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,49%, nhóm  thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,81%. Có 3/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm như nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 2,83% (do nhóm thực phẩm giảm 4,14,%); nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,46% (do nhóm thiết bị điện thoại giảm 2,53%); nhóm may mặc giảm nhẹ, giảm 0,01%.
So với cùng kỳ (tháng 10/2016), chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2017 giảm 0,15%.  Có 3/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ giảm như  nhóm hàng ăn và dịch vị ăn uống giảm 4,27% (do nhóm thực phẩm giảm 6,08%), nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,46% (do giá thiết bị điện thoại giảm 2,53%), nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,23% (do giá thiết bị văn hóa giảm 2,43%, giá hoa cây cảnh giảm 2,68%); có 8/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng, trong đó có 4 nhóm tăng cao trong khoảng 1,8% - 5% như nhóm nhà ở và điện nước tăng 5% (do giá nhà ở thuê tăng 5,28%, giá nước sinh hoạt tăng 6,38%); nhóm  giao thông tăng 3,85% (do giá nhiên liệu tăng 11,96%); nhóm giáo dục tăng 3,06% ( do dịch vụ giáo dục tăng 3,19%, giá văn phòng phẩm tăng 2,51%); nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,77% (do giá dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 5,37%); còn lại 4 nhóm tăng trong khoảng 0,27% -0,81% đó là nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,81%, nhóm may mặc tăng 0,56%, nhóm đồ uống và thuốc là tăng 0,49%, nhóm tăng ít nhất là nhóm  thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,27%.
 Chỉ số giá vàng: chỉ số giá vàng tháng 10/2017 giảm 2,35% so với tháng trước và tăng 2,56% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá vàng bình quân 10 tháng đầu năm 2017 tăng 3,84% so với  cùng kỳ.
Chỉ số giá Đô la Mỹ: Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 10/2017 giảm 0,02% so tháng trước và tăng 1,89% so với cùng kỳ. Chỉ số giá Đô la Mỹ bình quân 10 tháng  đầu năm 2017 tăng 1,73% so với cùng kỳ.
4. Vận tải
Hoạt động vận tải hành khách và vận tải hàng hóa trên địa bàn duy trì ổn định, đáp ứng nhu cầu sản xuất và đi lại của nhân dân.
Vận tải hành khách: Số lượng hành khách vận chuyển tháng 10/2017 ước đạt 1,02 triệu lượt khách với lượng khách luân chuyển là 60 triệu lượt khách.km, so với tháng trước tăng 4,4% về số lượng hành khách vận chuyển và số hành khách luân chuyển, so với cùng kỳ tăng 8,6% về số lượng hành khách vận chuyển và tăng 9,5% về số hành khách luân chuyển. Tính chung 10 tháng năm 2017, số hành khách vận chuyển ước đạt 11 triệu lượt khách với 642 triệu lượt khách.km, so với cùng kỳ tăng 8,2% về số khách vận chuyển và tăng 7,6% về số hành khách luân chuyển.
Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 10/2017 ước đạt 2,5 triệu tấn với khối lượng luân chuyển ước đạt 103,5 triệu tấn.km; so với tháng trước tăng 5,9% về khối lương hàng hóa vận chuyển và khối lượng hàng hóa luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 6,7% khối lượng hàng hóa vận chuyển và tăng 8,7% khối lượng hàng hóa luân chuyển. Tính chung 10 tháng năm 2017, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 26,7 triệu tấn với khối lượng luân chuyển 1.079 triệu tấn.km; so với cùng kỳ tăng 6,6% về khối lượng hàng hóa vận chuyển và tăng 7,3% về khối lượng hàng hóa luân chuyển.
Tổng doanh thu vận tải trên địa bàn tháng 10/2017 ước đạt 249,6 tỷ đồng, tăng 5,6% so với tháng trước và tăng 8,6% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 40,6 tỷ đồng, tăng 4,4% so với tháng trước và tăng 8,8% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 209 tỷ đồng,  tăng 5,8% so với tháng trước và tăng 8,6% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2017, tổng doanh thu vận tải trên địa bàn ước đạt 2.613 tỷ đồng, tăng 6,5% so với cùng kỳ (trong đó, doanh thu vận tải hành khách tăng 7,3% và doanh thu vận tải hàng hóa tăng 6,3%).
IV. Thu, chi ngân sách
1. Thu ngân sách
Tổng thu trong cân đối ngân sách nhà nước 9 tháng đầu năm 2017 đạt 9.124 tỷ đồng, vượt dự toán cả năm 1,3%, tăng 36,4% so với cùng kỳ 2016. Đây là năm thứ 3 liên tiếp thu ngân sách của tỉnh Thái Nguyên về trước kế hoạch 3 tháng.
 Trong tổng thu, thu nội địa đạt 7.215 tỷ đồng, vượt dự toán 6,7%, tăng 37,1% so với cùng kỳ; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 1.909 tỷ đồng, bằng 84,8% dự toán và tăng 33,6% so với cùng kỳ năm trước. 
Trong thu nội địa, nhìn chung các khoản thu đều tăng cao so với cùng kỳ, có 13/16 khoản thu tăng so với cùng kỳ và đạt cao so với dự toán, cụ thể khoản thu tăng cao nhất đó là thu từ tiền cấp quyền sử dụng đất đạt 1.650 tỷ đồng, gấp 2,6 lần so với cùng kỳ và gấp 2,5 lần so với dự toán; tiếp đến là  thu từ tiền cho thuê đất đạt 295 tỷ đồng, gấp 2,3 lần so với cùng kỳ và bằng 94,2% dự toán cả năm; thu từ khu vực dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 1.362 tỷ đồng, gấp 1,5 lần so với cùng kỳ và vượt 9,6% dự toán cả năm; thu thuế thu nhập cá nhân đạt 769 tỷ đồng tăng 44,4% so với cùng kỳ và bằng 96,1% dự toán cả năm; thu phí, lệ phí đạt 169 tỷ đồng, tăng 39,3% so với cùng kỳ và bằng 99,1% dự toán cả năm…có 3/16 khoản thu đạt thấp hơn so với cùng kỳ đó là: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.404 tỷ đồng, giảm 2,5% so với cùng kỳ năm trước và bằng 88,6% dự toán cả năm; thu sử dụng đất phi nông nghiệp đạt 11 tỷ đồng, giảm 14,4% so với cùng kỳ và bằng 87,1% dự toán cả năm; thu lệ phí trước bạ đạt 223 tỷ đồng, giảm 14,6% so với cùng kỳ và bằng 63,8% dự toán cả năm.
2. Chi ngân sách
Tổng chi ngân sách địa phương 9 tháng đầu năm 2017 đạt 7.074 tỷ đồng, tăng 24,9% so với cùng kỳ và bằng 69,4% dự toán cả năm. Trong đó, chi cân đối ngân sách địa phương đạt 6.422 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 90,8%), tăng 21,2% so với cùng kỳ và bằng 68,9% dự toán cả năm; chi chương trình mục tiêu quốc gia đạt 653 tỷ đồng, tăng gấp 1,77 lần so với cùng kỳ và bằng 75% dự toán cả năm.
Trong chi cân đối ngân sách địa phương, chi đầu tư phát triển đạt 1.398 tỷ đồng, tăng 27,7% so với cùng kỳ năm trước và bằng 85,1% dự toán (trong đó chi xây dựng cơ bản tập trung đạt 649 tỷ đồng, giảm 1% so cùng kỳ và  bằng 99,7% so với dự toán cả năm; chi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng 735 tỷ đồng, tăng gấp 1,9 lần so với cùng kỳ và vượt dự toán 0,4%).
Chi thường xuyên đạt 5.204 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 78,2% trong chi cân đối, tăng 19,6% so với cùng kỳ và bằng 72% dự toán cả năm. Nhìn chung chi thường xuyên đã đáp ứng được các yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị và phát triển sự nghiệp y tế, giáo dục, văn hóa thể thao của địa phương. Có 10/11 khoản chi đạt trên 64% dự toán cả năm; chi sự nghiệp giáo dục đào tào và dạy nghề đạt 1.872 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 39,3% chi thường xuyên), tăng 13,3% so với cùng kỳ và bằng 64% dự toán cả năm; chi sự nghiệp y tế dân số và gia đình đạt 652 tỷ đồng, tăng 40,1% so với cùng kỳ và bằng 79,6% dự toán; chi đảm bảo xã hội đạt 264 tỷ đồng, tăng 25,1% so với cùng kỳ và bằng 92,3% dự toán; chi sự nghiệp kinh tế đạt 544 tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ và bằng 67,5% dự toán cả năm; chi quản lý hành chính đạt 1.141 tỷ đồng tăng 15,8% và bằng 80,7% dự toán; chi sự nghiệp bảo vệ môi trường đạt 200 tỷ đồng, tăng gấp 3,9 lần so với cùng kỳ và bằng 65,2% dự toán… Có 4/11 khoản thu đạt thấp hơn so với cùng kỳ đó là chi sự nghiệp khoa học và công nghệ đạt 20 tỷ đồng, giảm 3,7% so với cùng kỳ và bằng 77,2% dự toán; chi sự nghiệp văn hóa thông tin, TDTT đạt 79 tỷ đồng, giảm 7,2% so với cùng kỳ và bằng 64% dự toán; chi sự nghiệp phát thanh truyền hình đạt 34 tỷ đồng, giảm 4,2% so với cùng kỳ năm trước và bằng 54% dự toán; chi quốc phòng an ninh đạt 150 tỷ đồng, giảm 7,9% so với cùng kỳ và nhưng vượt dự toán 1,2%.
 
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Công tác giảm nghèo, bảo trợ xã hội và thực hiện chính sách người có công
- Công tác giảm nghèo: Các ngành trên địa bàn tỉnh đã tổ chức phát động Chương trình “Thái Nguyên chung tay vì người nghèo - không để ai bị bỏ lại phía sau, tháng cao điểm vì người nghèo năm 2017”.
Tuyên truyền các chính sách giảm nghèo trước, trong Tháng cao điểm vì người nghèo năm 2017, nhằm cung cấp cho cán bộ làm công tác giảm nghèo ở cơ sở và người dân có thêm thông tin về các chính sách giảm nghèo trên địa bàn tỉnh, như cấp 33.000 tờ rơi tuyên truyền, lắp đặt pano tại 20 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn, treo 40 băng zôn tại các huyện, thành phố, thị xã và thực hiện phóng sự về tình hình, kết quả Chương trình giảm nghèo bền vững tỉnh Thái Nguyên 2 năm 2016-2017.
Xây dựng Kế hoạch và tổ chức kiểm tra rà soát hộ nghèo, xã đăng ký hoàn thành nông thôn mới năm 2017.
- Thực hiện chính sách người có công:  Công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng được thông qua các Báo, Tạp chí của ngành, phương tiện thông tin đại chúng.
Ngành chức năng tiếp tục thực hiện  trình các thủ tục về giấy tờ hồ sơ, các chế độ chính sách liên quan đến các đối tượng người có công đến các cấp có thẩm quyền giải quyết.
2. Lao động, việc làm
Các ngành thực hiện chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các doanh nghiệp sử dụng lao động nước ngoài thực hiện quy định về cấp giấy phép lao động cho lao động nước ngoài làm việc tại tỉnh Thái Nguyên qua mạng thông tin điện tử.
Trong tháng ngành chức năng đã phối hợp với Công ty TNHH Sam Sung Electronics Việt Nam Thái Nguyên tuyển dụng lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo tại 2 huyện Võ Nhai và Định Hóa.  Tổ chức 01 hội nghị tập huấn theo kế hoạch tuyên truyền pháp luật lao động.
3. Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em
Ngành chức năng phối hợp với các đơn vị tổ chức chương trình “Vui Tết trung thu” cho trẻ em, trao 220 suất quà cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; trao 500 suất đồ dùng học tập, văn phòng phẩm cho trẻ em của 03 huyện Định Hóa, Phú Lương, Võ Nhai.
Tổ chức 02 lớp tập huấn hướng dẫn cách sơ cứu trẻ em bị tai nạn, thương tích tại xã triển khai mô hình “Bơi an toàn” thuộc huyện Đồng Hỷ, 04 lớp hướng dẫn các nội dung Luật Trẻ em tại huyện Phú Lương, Định Hóa.
Tổ chức kiểm tra, giám sát công tác Bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ năm 2017 tại 18 xã có kế hoạch về đích Nông thôn mới.
4. Y tế
- Tình hình dịch bệnh: Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh không có dịch bệnh lớn xảy ra. Công tác phòng chống dịch và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm được duy trì. Các Chương trình mục tiêu Quốc gia về y tế tiếp tục được triển khai theo kế hoạch. Các điểm tiêm chủng thực hiện đúng quy trình, không xảy ra tình trạng biến chứng bất thường.
 Tuy nhiên, trong tháng 10/2017 có 01 trường hợp tử vong được xác định  nghi bị chó dại cắn. Ngành chức năng đã có biện pháp giám sát, điều tra dịch tễ tình hình dịch bệnh và lập danh sách các trường hợp phơi nhiễm với nguồn lây trên địa bàn;  tư vấn, động viên những người tiếp xúc với nguồn lây nhiễm cần được thăm khám và tiêm vắc xin kịp thời; tuyên truyền, vận động người dân chủ động thực hiện các biện pháp phòng chống  bệnh dại.
- Chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm: Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm được các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh duy trì thường xuyên. Tăng cường công tác truyền thông, kiểm tra công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng ngừa ngộ độc thực phẩm. Trong tháng không có vụ ngộ độc nào xảy ra.
- Chương trình phòng chống HIV/AIDS: Công tác truyền thông, về phòng chống HIV/AIDS và các hoạt động can thiệp giảm tác hại cũng như hoạt động giám sát được ngành chức năng duy trì thường xuyên, duy trì các điểm điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone và điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con.
Tính luỹ tích đến hết tháng 9/2017, tổng số người nhiễm HIV/AIDS toàn tỉnh là 9.631 người, chuyển sang giai đoạn AIDS 6.687 người và 3.395 người đã tử vong do HIV/AIDS. Riêng  trong tháng 9 có 10 người nhiễm HIV/AIDS, chuyển sang giai đoạn AIDS 5 người và 2 người đã tử vong do HIV/AIDS.
- Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình: Hoạt động truyền thông về công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình được quan tâm triển khai thường xuyên. Tính đến hết tháng 9 năm 2017 toàn tỉnh có 12.962 trẻ được sinh ra trong đó trẻ em nam là 6.948, trẻ em nữ là 6.014; số trẻ là con thứ 3 trở lên 960 trẻ, (chiếm tỷ lệ là 7,4%).
5. Văn hóa, thể thao
Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã tổ chức nhiều các hoạt động văn hóa, thể thao, lễ hội, các hoạt động tuyên truyền, biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, triển lãm, chào mừng các ngày lễ, kỷ niệm được tổ chức thiết thực, đạt hiệu quả, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị được giao, tạo không khí vui tươi, sôi nổi trong đời sống tinh thần của nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Tổ chức lễ đón nhận Huân chương lao động hạng Nhất, Cờ thi đua của Chính phủ; kỷ niệm 55 năm Ngày thành lập thành phố Thái Nguyên (19/10/1962-19/10/2017); công bố Quyết định điều chỉnh địa giới hành chính và Quyết định công nhận thành phố Thái Nguyên hoàn thành nhiệm vụ xây dựng Nông thôn mới; Đại hội thể dục thể thao...
Hoạt động bảo tàng: Xây dựng kế hoạch, tổ chức nghiên cứu, sưu tầm tài liệu, hiện vật đợt 5/2017 với chủ đề “Bà mẹ Việt Nam anh hùng; hiện vật cách mạng kháng chiến tỉnh Thái Nguyên”;“Văn hoá dân tộc tỉnh Thái Nguyên”.Phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Thái Nguyên phục vụ cuộc thi “Người đẹp xứ Trà”;  phục vụ 529 lượt khách tham quan (109 lượt khách quốc tế) tại Không gian văn hoá Trà, các phòng trưng bày.
Hoạt động phát hành phim và chiếu bóng: Thực hiện 120 buổi chiếu phim, phục vụ các xã vùng khó khăn, đối tượng chính sách với 7.200 lượt người xem.
Hoạt động thư viện: phục vụ trên 3,5 nghìn lượt bạn đọc, luân chuyển 6 nghìn lượt sách báo. Tổ chức triển lãm sách, báo, ảnh tư liệu và bản đồ tuyên truyền về chủ quyền biển, hải đảo Việt Nam với chủ đề "Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý" tới sinh viên các trường đại học.Tiếp tục triển khai thực hiện phong trào “Xây dựng Thư viện và môi trường văn hóa đọc xanh - sạch - đẹp - thân thiện”.
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật: Tổ chức 10 buổi biểu diễn (02 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị; 08 buổi phục vụ đối tượng chính sách và các xã đặc biệt khó khăn).
Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm: Ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra 22 cơ sở lưu trú du lịch và 08 cơ sở kinh doanh karaoke trên địa bàn tỉnh. Phối hợp với Đoàn Thanh tra  Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch kiểm tra giải vô địch vật cổ điển, vật tự do toàn quốc năm 2017 tổ chức tại Thái Nguyên. Công tác kiểm tra các hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá, du lịch đã chấn chỉnh kịp thời các hành vi sai phạm, góp phần tích cực đưa các cơ sở kinh doanh hoạt động theo đúng quy định.
Hoạt động thể thao: Phối hợp tổ chức 03 giải toàn quốc (cầu lông trung cao tuổi, vô địch vật tự do-vật cổ điển, vô địch uwshu); giải thể thao truyền thống Đảng uỷ Khối các cơ quan tỉnh. Đạt 16 huy chương các loại (05HCV,06 HCB, 05HCĐ); đạt cờ Nhì toàn đoàn tại Ngày hội Văn hoá dân tộc Dao toàn quốc.
Thể thao thành tích cao: Duy trì công tác quản lý, huấn luyện, kiểm tra việc tập luyện của các đội tuyển. Đạt 13 huy chương các loại (02 HCV, 05 HCB, 06 HCĐ);  đội tuyển bóng chuyền xếp thứ Ba vòng chung kết toàn quốc.
6. Tình hình an toàn giao thông
Theo Báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh Thái Nguyên, từ 16/9 đến 15/10 năm 2017, trên địa bàn xảy ra 23 vụ tai nạn giao thông, làm chết 8 người và bị thương 26 người. So với cùng kỳ năm 2016 số vụ tai nạn tăng 01 vụ (+4,55%), tăng 03 người chết (+60,0%), số người bị thương tăng 5 (+23,81%).
Tính chung 10 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn tỉnh xảy ra 135 vụ tai nạn và va chạm giao thông làm chết 56 người và bị thương 109 người. So với cùng kỳ, số vụ giảm 9 vụ (-8,56%); số người chết giảm 17 người (-28,1%); người bị thương giảm 11 người (-13,1%). Trong đó: Thành phố Thái Nguyên xảy ra nhiều nhất với 52 vụ (chiếm 38,5%), có 11 người chết và 47 người bị thương (so với cùng kỳ số vụ tăng 1 vụ, số người chết giảm 1, số người bị thương giảm 8); Thị Xã Phổ Yên xảy ra 21 vụ, làm chết 9 người và 8 người bị thương (so với cùng kỳ số vụ giảm 3, số người chết giảm 7 và số người bị thương giảm 11).
Trong tháng, các cơ quan chức năng đã kiểm tra, lập biên bản và xử lý vi phạm 3.532 trường hợp vi phạm an toàn giao thông; tước 580 giấy phép lái xe; tạm giữ 104 xe ô tô; 535 xe mô tô; 87 phương tiện khác và thu nộp ngân sách 3,3 tỷ đồng.
7Phòng chống cháy nổ
Công tác phòng cháy chữa cháy đã được cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra và nhắc nhở nhằm hạn chế các vụ cháy nổ xảy ra. Trong kỳ (từ 15/9- 15/10/2017) trên địa bàn để xảy ra 12 vụ cháy, không có vụ nổ nào xảy ra; trong đó có 9 vụ cháy xảy ra tại thành phố Thái Nguyên, 2 vụ xảy ra tại Thành phố Sông Công, 1 vụ tại Thị Xã Phổ Yên. Ước tính giá trị thiệt hại của các vụ cháy khoảng 1,7 tỷ đồng.
Tính từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 89 vụ cháy, 1 vụ nổ, không có thiệt hại về người, ước tổng trị giá tài sản thiệt hại hơn 7 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước, giảm 1 vụ cháy; tăng 1 vụ nổ; giá trị thiệt hại tăng gần 3 tỷ đồng.
8. Vi phạm môi trường
Trong kỳ qua trên địa bàn Tỉnh ngành chức năng đã kiểm tra và xử lý 4 vụ vi phạm môi trường, trong đó có 1 vụ ở Thành phố Thái Nguyên và 2 vụ vi phạm ở Thành phố Sông Công  và 1 vụ tại huyện Phú Lương với tổng số tiền phạt là 122 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến ngày 15/10/2017 trên địa bàn Tỉnh đã phát hiện và xử lý 45 vụ vi phạm môi trường, với số tiền xử phạt lên tới 1,3 tỷ đồng. So với cùng kỳ tăng 4 vụ và số tiền xử phạt tăng 0,8 tỷ đồng. Nguyên nhân của các vụ xử lý trên là do các cơ sở sản xuất kinh doanh thực hiện không đúng một trong các nội dung của đề án bảo vệ môi trường chi tiết được duyệt.
9. Tình hình thiệt hại do thiên tai
Tình từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 10/2017 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã có mưa kèm theo dông sét, lượng mưa lớn nhất đo được trong 3 ngày tại huyện Phú Lương là 75mm. Xảy ra sét đánh ở Thành phố Thái Nguyên và huyện Phú Lương. Xảy ra tràn hồ chứa bùn bãi thải của một công ty ở huyện Đồng Hỷ... đã có thiệt hại về người và tài sản như sau:
- Về người: Có 01 người chết do sét đánh (tại phường Túc Duyên, thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên). Ngay trong ngày 03/10, Đoàn công tác cơ quan chức năng và địa phương đã đến thăm hỏi, phúng viếng và trao số tiền hỗ trợ 13 triệu đồng cho gia đình có nạn nhân bị sét đánh tử vong.
 - Về nhà ở: có 4 nhà ngập nước dưới 1m ở huyện Đồng Hỷ, 1 nhà bị sét đánh ở huyện Phú Lương nhưng không có thiệt hại về người.
- Về nông nghiệp, thủy sản: ảnh hưởng đến một số diện tích chè và ao hồ bị tràn:  làm chết 2 nghìn con ếch thịt và ếch giống, 200 con ba ba và khoảng 1 tấn cá...
Công tác khắc phục hậu quả và hỗ trợ đã được triển khai giúp cho người dân sớm dần ổn định cuộc sống.
Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên tháng 10 và 10 tháng đầu năm 2017./.
 
 
 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

CHUYÊN MỤC
dieutradanso2019

hoc tap lam theo HCM

tong cuc thong ke

luat thong ke 1

cong thong tin thai nguyen


Dieu tra DN 2018

anh minh hoa 1
Thống kê website
  • Đang truy cập16
  • Hôm nay
  • Tháng hiện tại
  • Tổng lượt truy cập
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây