Tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 năm 2017

Chủ nhật - 25/02/2018 20:26
BÁO CÁO
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 năm 2017 tỉnh Thái Nguyên
 
A. KINH TẾ
I. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp
1. Trồng trọt
Hiện nay trên toàn tỉnh cây hàng năm vụ Mùa 2017 cơ bản đã thu hoạch xong và các địa phương đang triển khai gieo trồng và chăm sóc cây vụ Đông năm 2017-2018.
* Sản xuất vụ Mùa: Vụ mùa năm nay thời tiết diễn biến phức tạp, chịu ảnh hưởng của bão, áp thấp nhiệt đới và do chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở một số địa phương nên tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm giảm so vụ mùa 2016. Riêng chỉ có cây rau và cây lạc diện tích tăng còn lại đều giảm. Tuy nhiên các địa phương đã chủ động trong công tác ứng phó phòng chống thiên tai nên cây trồng chủ lực là lúa và rau các loại đều vượt kế hoạch; còn các cây màu khác như cây ngô, khoai lang, đậu tương và lạc diện tích gieo trồng thấp và không đạt kế hoạch.
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Mùa 2017 đạt 54.605 ha, bằng 98,4% (giảm 1,6% tương ứng giảm 867 ha) so với vụ Mùa năm 2016. Trong đó, cây lúa 40,8 nghìn ha, giảm 1,3% tương ứng giảm 547 ha; cây ngô 4,9 nghìn ha, giảm 5% (-259 ha); cây lấy củ có chất bột giảm 14,2% (-602 ha); nhóm cây công nghiệp giảm 2,9% (- 32 ha). Riêng cây rau diện tích gieo trồng đạt 3,2 nghìn ha, tăng 13,2% cây lạc 611 ha, tăng 1,2% cùng kỳ.
Theo kết quả sơ bộ, năng suất các cây hàng năm vụ Mùa 2017 tăng so với năm trước, riêng cây lạc khả năng năng suất thu hoạch tương đương cùng kỳ năm trước.
Ước tính năng suất lúa vụ mùa đạt 52,6 tạ/ha, bằng 103,21% so kế hoạch tỉnh giao, tăng 0,6% so với vụ Mùa năm 2016; sản lượng ước đạt 214,6 nghìn tấn, bằng 106,6% so với kế hoạch, giảm 0,7% (-1.505 tấn) so với vụ mùa năm trước; Năng suất ngô ước đạt 44,23 tạ/ ha, bằng 99,62% so với kế hoạch, tăng 3,95% so với cùng kỳ, sản lượng ước đạt 21,8 nghìn tấn, bằng 98,06% so với kế hoạch, giảm 1,24% (tương ứng giảm 271 tấn) so với vụ mùa năm 2016.
Sản lượng lương thực có hạt vụ Mùa 2017 ước đạt 236,3 nghìn tấn, bằng 105,7% kế hoạch nhưng giảm 0,75% (giảm 1,7 nghìn tấn) so cùng kỳ.
* Sản xuất vụ Đông 2016-2017: Vụ Đông năm nay kế hoạch gieo trồng cây hàng năm chủ yếu trên địa bàn tỉnh là 15 nghìn ha, tương đương vụ đông năm trước. Trong đó cây ngô 5,8 nghìn ha, cây rau các loại 6,5 nghìn ha, cây khoai lang 2,5 nghìn ha; cây lạc 170 ha và đậu tương 100 ha...
Tính đến ngày 30/11/2017 toàn tỉnh  trồng cây vụ Đông đạt khoảng 13 nghìn ha, bằng 86,26% kế hoạch và bằng 90,17% so với cùng kỳ. Trong đó, cây ngô gieo trồng được 5,2 nghìn ha, bằng 97,67% so cùng kỳ và bằng 90% kế hoạch; cây đậu tương trồng được 90 ha, bằng 90% kế hoạch; cây rau các loại trồng được 5,5 nghìn ha, bằng 84,6% kế hoạch; cây khoai lang 2,1 nghìn ha, bằng 84,4% kế hoạch…
* Cây lâu năm: tháng 11 năm nay trên địa bàn có đợt mưa, cung cấp độ ẩm cho đất làm cho cây chè vẫn phát triển tốt. Một số địa phương có nguồn nước tưới đẩy mạnh sản xuất chè vụ Đông mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Công tác trồng mới và trồng cải tạo thay thế cây chè già cỗi được các địa phương triển khai. Tính đến ngày 30/11/2017 diện tích chè trồng mới và trồng lại ước đạt 1.064 ha, bằng 106,4% so với kế hoạch năm, giảm 16,3% so năm trước, trong đó diện tích chè trồng mới ước đạt 220 ha.
Cây ăn quả: Diện tích trồng mới cây ăn quả trong 11 tháng 2017 khoảng  900 ha, tăng 47,3% so cùng kỳ năm 2016 tập trung ở một số huyện như: Võ nhai, Đại Từ, Đồng hỷ, Phú bình… với cây trồng chủ yếu là chuối, nhãn, na và bưởi.
2. Chăn nuôi
 Từ đầu năm đến nay trên địa tỉnh không xảy ra dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên đàn gia súc, gia cầm. Các ngành chức năng tăng cường công tác kiểm dịch vận chuyển, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y, cơ sở giết mổ đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm .
Theo kết quả điều tra chăn nuôi, tại thời điểm 01/10/2017: Đàn trâu 57,2 nghìn con, giảm 7,7% cùng kỳ; đàn bò 44,2 nghìn con, giảm 0,6%; tổng đàn lợn toàn tỉnh 681 nghìn con, giảm 8,6% (tương ứng giảm 64,2 nghìn con); đàn gia cầm 11,3 triệu con, tăng 4,8% so với thời điểm cùng kỳ (01/10/2016)
Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm được các huyện, thành phố, thị xã tích cực triển khai; thực hiện phun khử trùng tiêu độc sau tiêm phòng vắc xin Đợt II/2017 bằng hóa chất sát trùng định kỳ tại các khu chăn nuôi, kết quả tiêm phòng tính đến hết tháng 10/2017 như sau: Vắc xin THT trâu, bò là 106,7 nghìn con; Vắc xin Lở mồm long móng trâu, bò, lợn là 119,7 nghìn con; Vắc xin dịch tả lợn là 472,5 nghìn con; Vắc xin Tụ dấu lợn là 351,6 nghìn con; Vắc xin Dại chó là 155 nghìn con; Vắc xin Lepto hơn 5,7 nghìn con; Vắc xin tai xanh hơn 19,4 nghìn con; vắc xin Cúm gia cầm 2,6 triệu con.
3. Lâm nghiệp
Đến nay công tác trồng rừng đã kết thúc, các địa phương đang triển khai chăm sóc và nghiệm thu diện tích rừng trồng mới.
Tình hình khai thác gỗ: Sản lượng gỗ khai thác trong  tháng 11/2017 ước đạt 17,8 nghìn m3, tăng 3,6% so cùng kỳ. Tính chung 11 tháng sản lượng gỗ khai thác khoảng 132,2 nghìn m3, tăng 5,5% so với cùng kỳ; sản lượng củi khai thác khoảng 227 nghìn ste, tăng 2,8% so với cùng kỳ.
Công tác phòng cháy chữa cháy rừng: Tính đến tháng 11 trên toàn tỉnh đã xảy ra 05 vụ cháy rừng trồng, diện tích thiệt hại là 9,4 ha rừng trồng.
Kết quả xử lý vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng: Lũy kế 10 tháng đã xử lý 295 vụ vi phạm; tịch thu 497 m3 gỗ quy tròn các loại; tịch thu 44 phương tiện các loại; thu nộp ngân sách nhà nước 1,9 tỷ đồng.
4. Thủy sản
Dự ước sản lượng thủy sản thu hoạch 11 tháng đầu năm 2017 ước đạt 9,5 nghìn tấn. Sản xuất cá bột ước đạt 550 triệu con, cá giống các loại đạt 55 triệu con.
Tình hình nuôi thủy sản thương phẩm: Các địa phương tiếp tục thả cá giống, chăm sóc, phòng dịch bệnh cho các ao hồ nuôi cá;  chỉ đạo kỹ thuật mô hình nuôi cá rô phi đơn tính, mô hình nuôi cá nheo Mỹ trong ao theo kế hoạch năm 2017; hoàn thành kế hoạch chương trình bảo vệ và phát triển nguồn  lợi thủy sản.
II. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến chế tạo tháng 10/2017 tăng 4,7% so với tháng trước, tăng 36,2% so với cùng kỳ; tuy nhiên lượng tồn kho một số sản phẩm vẫn lớn nhằm phục vụ nhu cầu thị trường cuối năm. Tính đến đầu tháng 11/2017 sắt thép tồn 192 nghìn tấn, gấp 2,1 lần so với cùng kỳ; sản phẩm may tồn 6 triệu sản phẩm, gấp 3,3 lần cùng kỳ; gạch xây dựng tồn 7,2 triệu viên, tăng 69,3%; điện thoại thông minh tồn 5,1 triệu sản phẩm, máy tính bảng tồn 0,3 triệu sản phẩm; xi măng tồn 23 nghìn tấn...
Với tình hình như trên dự ước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tháng 11/2017 tăng 12,3% so với tháng trước, tăng 18% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành cung cấp nước và hoạt động quản lý, xử lý rác thải tăng 23,7% cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 18,3%; ngành khai khoáng tăng 17,5% cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 1,5%.
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất tháng 11/2017, nhóm sản phẩm ước tính sản lượng sản xuất tăng cao hơn so với cùng kỳ là: máy tính bảng đạt 3,1 triệu sản phẩm, tăng 27,1%; than khai thác đạt 136,4 nghìn tấn, tăng 26,5%; sản phẩm may đạt 5,3 triệu cái, tăng 25,1%; đồng tinh luyện đạt 4,6 nghìn tấn, tăng 24,7%; nước máy thương phẩm đạt 3.026 nghìn m3, tăng 24%; gạch xây dựng đạt 7,1 triệu viên, tăng 20,4%; điện thoại thông minh đạt 9,4 triệu sản phẩm, tăng 17,4%; điện thương phẩm đạt 379 triệu Kwh, tăng 9,5%; sắt thép các loại đạt 112,8 nghìn tấn, tăng 5,7%... nhóm sản phẩm tăng thấp hơn hoặc giảm so cùng kỳ là: điện sản xuất đạt 125 triệu Kwh, giảm 2,3%; xi măng đạt 187,2 nghìn tấn, giảm 9,3%; vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 1,7 nghìn tấn, giảm 12,1%...
Tính chung 11 tháng 2017, chỉ số sản xuất công nghiệp trên địa bàn tăng 18,3% so với cùng kỳ; trong đó ngành sản xuất, phân phối nước và thu gom rác thải tăng gần 21,8% so cùng kỳ; ngành khai khoáng tăng 19%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 18,7%, chủ yếu do nhóm sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 19,5%, sản xuất trang phục tăng 29%; riêng ngành công nghiệp sản xuất, phân phối điện 11 tháng giảm 5,6%.
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu tính chung 11 tháng năm 2017: nhóm các sản phẩm tăng so với cùng kỳ và đạt từ 85% kế hoạch cả năm trở lên là: sản phẩm may đạt 54,1 triệu sản phẩm, tăng 29% cùng kỳ và bằng 98,4%; nước máy thương phẩm đạt 31,5 triệu m3, tăng 21,8% cùng kỳ và bằng 101,6% kế hoạch; vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 17,5 nghìn tấn, tăng 20% cùng kỳ và bằng 109,4% kế hoạch; sắt thép các loại đạt 1,3 triệu tấn, tăng 4,1% cùng kỳ và bằng 115% kế hoạch; đồng tinh quặng đạt 40 nghìn tấn, tăng 12,1% cùng kỳ và bằng 85% kế hoạch;
Nhóm sản phẩm tăng so với cùng kỳ nhưng đạt dưới 85% kế hoạch là: sản phẩm điện tử đạt 113,2 triệu sản phẩm, tăng 17,9% cùng kỳ và bằng 81,4% kế hoạch (trong đó, điện thoại thông minh đạt 92,1 triệu sản phẩm, máy tính bảng đạt 21,1 triệu sản phẩm); điện thương phẩm đạt 4.054 triệu Kwh, tăng 13,3% cùng kỳ và bằng 73,7% kế hoạch; gạch xây dựng đạt 65,6 triệu viên, tăng 6,8% cùng kỳ và bằng 33,7% kế hoạch;
Nhóm sản phẩm có tốc độ tăng thấp hoặc giảm hơn so cùng kỳ là than khai thác đạt 1,1 triệu tấn, tăng 0,4% cùng kỳ và bằng 98,4% kế hoạch; xi măng đạt 1,8 triệu tấn, giảm 11,6% cùng kỳ và bằng 65,3% kế hoạch; điện sản xuất đạt 1.220 triệu Kwh, giảm 13,1% cùng kỳ và bằng 71,8% kế hoạch...
III. Thương mại, giá cả và dịch vụ
1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng 11/2017 ước đạt 2.497 tỷ đồng, tăng 2,6% so tháng trước và tăng 13,3% so cùng kỳ. Trong đó, khu vực nhà nước ước đạt 173 tỷ đồng, tăng 2,4% so với tháng trước và tăng 10,2% so với cùng kỳ; khu vực ngoài nhà nước ước đạt 2.316 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 92,8%), tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 13,5 so với cùng kỳ; còn lại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chỉ đạt 8,5 tỷ đồng (chiếm 1 phần rất nhỏ trong cơ cấu thị phần), tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 9,3% so với cùng kỳ.
Nếu phân theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ tháng 11/2017 ước đạt 2.023 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 81%), tăng 2,4% so với tháng trước và tăng 14,8% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống doanh thu ước đạt 204 tỷ đồng, tăng 4,6% so với tháng trước và tăng 7,4% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ tiêu dùng còn lại ước đạt 267 tỷ đồng, tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 7,3% so với cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành chỉ chiếm một phần rất nhỏ (đạt 3,4 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,14%, giảm 9,2% so với tháng trước nhưng lại tăng 8,2% so với cùng kỳ).
Tính chung 11 tháng 2017, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước đạt 25.863 tỷ đồng, tăng 10,5% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 1.746 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 6,8%), tăng 5,5% so cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 24.027 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 92,9%), tăng 10,9% so cùng kỳ (riêng khối cá thể tổng mức bán lẻ đạt 14.794 tỷ đồng, chiếm 61,6% thị phần bán lẻ trên địa bàn, tăng 11,4% so với cùng kỳ). Trong đó ngành thương nghiệp là 20.757 tỷ đồng (chiếm 80,3%) tăng 10,8% so cùng kỳ năm trước; ngành khách sạn, lưu trú ăn uống ước đạt 2.174 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 8,4%), tăng 9% so với cùng kỳ; ngành du lịch lữ hành ước đạt 49 tỷ đồng, tăng 9,1% cùng kỳ; ngành dịch vụ tiêu dùng ước đạt 2.883 tỷ đồng, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước.
Trong cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hóa 11 tháng năm 2017, tất cả các nhóm mặt hàng đều tăng so với cùng kỳ. Cụ thể nhóm mặt hàng đạt doanh thu bán lẻ lớn nhất là lương thực, thực phẩm đạt 6.453 tỷ đồng, (chiếm tỷ trọng 31,1%), tăng 12,7% so với cùng kỳ; tiếp đến là nhóm xăng dầu các loại đạt 2.494 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 12%), tăng 6,6% so với cùng kỳ (do giá xăng dầu tiếp tục tăng); nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 2.386 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 11,5%, tăng 11,7% so với cùng kỳ;  nhóm ô tô các loại đạt 2.162 tỷ đồng, tăng 9,8% so với cùng kỳ; nhóm hàng may mặc ước đạt 1.589 tỷ đồng, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm trước.
2. Xuất, nhập khẩu hàng hoá
a. Xuất khẩu
Xuất khẩu trên địa bàn tháng 11/2017 vẫn duy trì mức xuất khẩu cao. Giá trị xuất khẩu ước đạt 2,18 tỷ USD, tăng 19% so cùng kỳ; trong đó khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm chủ đạo với 2,15 tỷ USD (chiếm 98,7% tổng số), tăng 19,1% giá trị xuất khẩu cùng kỳ; khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 28,3 triệu USD tăng 13,6% cùng kỳ.
Mặt hàng xuất khẩu tháng 11/2017 tăng cao so với cùng kỳ là: sản phẩm may đạt 21,8 triệu USD, tăng 82,3%; điện thoại thông minh đạt 7,6 triệu sản phẩm tương ứng với giá trị đạt 1,53 tỷ USD, giảm 7,3% về lượng nhưng tăng 29,2% về giá trị; chè các loại đạt 344 tấn với giá trị đạt 0,6 triệu USD, tăng 69,5% về lượng và tăng 16,8% về giá trị; linh kiện điện tử và phụ tùng khác đạt 345,2 triệu USD, tăng 5% cùng kỳ. Một số mặt hàng xuất khẩu thấp hơn so với cùng kỳ như: kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 17,7 triệu USD, giảm 4,8%; máy tính bảng đạt 2,3 triệu sản phẩm với giá trị đạt 254,4 triệu USD, giảm 19,9% về lượng và giảm 9,6% về giá trị...
Tính chung 11 tháng năm 2017, giá trị xuất khẩu đạt 21,79 tỷ USD, tăng 24,4% cùng kỳ; trong đó khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 21,5 tỷ ,USD, tăng 24,4%; khu vực kinh tế trong nước 286,9 triệu USD, tăng 19% cùng kỳ. Mặt hàng xuất khẩu tăng so cùng kỳ là: kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 198,7 triệu USD, tăng 43,3%; linh kiện điện tử và phụ tùng đạt 3,33 tỷ USD, tăng 24,6%; nhóm sản phẩm điện tử đạt 105,2 triệu sản phẩm với giá trị đạt 17,95 tỷ USD, giảm 10,6% về lượng và tăng 21,8% về giá trị; sản phẩm may đạt 226,3 triệu USD, tăng 13,7%; sản phẩm từ sắt thép đạt 46,9 triệu USD, tăng 5,7%... Ngoài ra còn có các mặt hàng xuất khẩu giảm như: chè đạt 2,6 nghìn tấn với giá trị đạt 4,7 triệu USD, giảm 12,5% về lượng và giảm 17,9% về giá trị; phụ tùng vận tải đạt 3,6 triệu USD, giảm 16%; giấy và các sản phẩm từ giấy đạt 2,6 triệu USD, giảm 1,2%...
b. Nhập khẩu
Giá trị nhập khẩu tháng 11/2017 ước đạt 1,38 tỷ USD, giảm 1,4% so tháng trước, tăng 34% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước ước đạt 18,2 triệu USD, tăng 28,7% so cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 1,3% tổng giá trị nhập khẩu; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,36 tỷ USD chiếm tỷ trọng 98,7% tổng giá trị nhập khẩu, tăng 34,1% so cùng kỳ. Nhóm mặt hàng chiếm tỷ trọng nhập khẩu lớn nhất là linh kiện điện tử, ước đạt 1,35 tỷ USD, tăng 35,5% so cùng kỳ; vải, phụ liệu hàng may mặc 9,8 triệu USD, giảm 14,2%; máy móc thiết bị và dụng cụ phụ tùng đạt 8,6 triệu USD, giảm 17,2%; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 3,8 triệu USD, giảm 7,6%...
Tính chung 11 tháng năm 2017, giá trị nhập khẩu ước đạt 13,35 tỷ USD, tăng 23,7% so với cùng kỳ. Khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu ước đạt 206 triệu USD, giảm 22,3% cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 13,14 tỷ USD, tăng 24,8% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 98,5% tổng giá trị nhập khẩu.
Hàng hóa nhập khẩu tính chung 11 tháng năm 2017 tăng cao nhất là sản phẩm từ sắt thép đạt 52,4 triệu USD, tăng gấp 7,4 lần so với cùng kỳ; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 37,3 triệu USD, gấp 4,6 lần; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 63,5 triệu USD, tăng 88,8%; nguyên liệu và linh kiện điện tử đạt 12,9 tỷ USD, tăng 31,6%; vải các loại đạt 101,9 triệu USD, tăng 16,7%... Nhóm hàng nhập khẩu giảm so với cùng kỳ là: nguyên, phụ liệu dệt may đạt 10,5 triệu USD, giảm 28,7%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 111,9 triệu USD, bằng 16,8% so cùng kỳ năm 2016…
3. Giá tiêu dùng
Tháng 11/2017 giá tiêu dùng nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng nhẹ  so với tháng trước (chủ yếu do giá thực phẩm giảm nhưng giá lương thực lại tăng 2,54%); bên cạnh đó giá xăng dầu, gas, may mặc tăng nên tính chung chỉ số giá tiêu dùng trên địa bàn tỉnh tăng 0,06% so với tháng trước, giảm 0,19% so với cùng kỳ và tăng 0,31% so với tháng 12 năm 2016. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 11 tháng năm 2017 tăng 2,51% so với bình quân cùng kỳ.
Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu để tính chỉ số giá, có 4 nhóm chỉ số giá tăng so với tháng trước. Trong đó, nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng cao nhất, tăng 1,18% (do giá dịch vụ về hiếu hỉ tăng 9,3%); nhóm may mặc, giày dép và mũ nón tăng 0,89% (do giá may mặc tăng 1,16%, quần áo may sẵn tăng 1,01%, may mặc khác tăng 1,19%); nhóm giao thông tăng 0,25% (giá nhiên liệu tăng 1,5%); nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,24% (do giá vật phẩm tiêu dùng khác tăng 1,5%, đồ dùng trong nhà tăng 0,28%). Có 4 nhóm dịch vụ tương đương tháng trước như nhóm giáo dục, thuốc và dịch vụ y tế, nhóm đồ uống và thuốc lá, nhóm bưu chính viễn thông.  Còn lại 3/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ giảm như nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,08% (do giá thực phẩm giảm 0,57%, rau tươi các loại giảm 2,39%); nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,23% (giá vật liệu và bảo dưỡng nhà ở giảm 0,65%, nước sinh hoạt và dịch vụ nước giảm 0,51%); nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,1% (do giá thiết bị văn hóa giảm 0,39%).
So với cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2017 giảm 0,19%. Có 3/11 nhóm giảm: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,13% (do giá thịt gia súc tươi sống giảm 14,7%, thịt gia cầm giảm 3,74%); nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,46% (do giá thiết bị điện thoại giảm 2,53%); nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,38%. Còn lại 8/11 nhóm hàng hóa khác đều tăng, trong đó tăng cao nhất là nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 4,41% (nhóm nhà ở tăng 4,7%; dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 5,14%, nước sinh hoạt tăng 6,1%); nhóm giáo dục tăng 3,06% (do giá đồ dùng học tập và văn phòng tăng 2,51%; nhóm dịch vụ giáo dục tăng 3,19%); nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,99% (do nhóm hàng hóa và dịch vụ cá nhân tăng 2,58%, dịch vụ hiếu hỉ tăng 2,08%). Còn lại các nhóm khác tăng nhẹ trong khoảng từ 0,4%  đến 2%.
So với tháng 12/2016 chỉ số giá tăng 0,31%. Có 9/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng. Trong đó, tăng cao nhất là nhóm  nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 4,74% (do giá nhà ở tăng 4,64%, giá nước sinh hoạt và dịch vụ nước tăng 4,59%); nhóm giao thông tăng 3,38% (do giá nhiên liệu tăng 11,91%; giá dịch vụ khác cho phương tiện cá nhân tăng 1,25%); nhóm giao dục tăng 3,06% (do giá dịch vụ giáo dục tăng 3,19%; giá đồ dùng học tập tăng 2,51%); nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,02% (do nhóm hóa và dịch vụ cá nhân tăng 2,7%). Còn lại 5 nhóm hàng hóa khác tăng nhẹ từ 0,17% đến dưới 1%. Riêng chỉ só 2/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ khác có chỉ số giá giảm như nhóm hàng hóa và dịch vụ ăn uống  giảm 2,91% (do nhóm thực phẩm giảm 4,69%) và nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,46% (do giá thiết bị điện thoại giảm 2,53%).
Chỉ số giá vàng: chỉ số giá vàng tháng 11/2017 tăng 0,28% so với tháng trước; tăng 4,09% so với cùng kỳ năm trước và tăng 6,78% so với tháng 12/2016. Chỉ số giá vàng bình quân 11 tháng năm 2017 tăng 3,86% so với bình quân cùng kỳ.
Chỉ số giá Đô la Mỹ: giá Đô la Mỹ trong tháng 11/2017  giảm 0,04% so với tháng trước, tăng 1,64% so với cùng kỳ và tăng 0,14% so với tháng 12/2016. Chỉ số giá Đô la Mỹ bình quân 11 tháng năm 2017 tăng 1,73% so với cùng kỳ.
4. Vận tải
Vận tải hành khách: Số lượng hành khách vận chuyển tháng 11/2017 ước đạt 977 nghìn lượt khách với lượng khách luân chuyển là 59,4 triệu lượt khách.km, so với tháng trước tăng 4,7% về số lượng hành khách vận chuyển và tăng 4,0% số hành khách luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 7,1% về số lượng hành khách vận chuyển và tăng 5,0% về số hành khách luân chuyển. Tính chung 11 tháng năm 2017, số hành khách vận chuyển ước đạt 11,9 triệu lượt khách với 700 triệu lượt khách.km, so với cùng kỳ tăng 7,6% về số khách vận chuyển và tăng 7,4% về số hành khách luân chuyển.
Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 11/2017 ước đạt 2,7 triệu tấn với khối lượng luân chuyển ước đạt 109,6 triệu tấn.km; so với tháng trước tăng 6,1% về khối lượng vận chuyển và khối lượng luân chuyển; So với cùng kỳ tăng 7,9% về khối lượng vận chuyển và tăng 9,8% về khối lượng luân chuyển. Tính chung 11 tháng năm 2017, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 29,3 triệu tấn với khối lượng luân chuyển 1.170 triệu tấn.km; so với cùng kỳ tăng 6,7% về khối lượng vận chuyển và tăng 6,4% về khối lượng luân chuyển.
Doanh thu hoạt động vận tải trên địa bàn tháng 11/2017 ước đạt 257,4 tỷ đồng, tăng 5,7% so với tháng trước và tăng 8,8% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 39,8 tỷ đồng, tăng 4% so với tháng trước và tăng 7,1% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 217,5 tỷ đồng, tăng 6% so với tháng trước và tăng 9,2% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2017, tổng doanh thu hoạt động vận tải trên địa bàn ước đạt 2,867 tỷ đồng, tăng 6,5% so với cùng kỳ (trong đó, doanh thu vận tải hành khách tăng 7,3% và doanh thu vận tải hàng hóa tăng 6,4%).
IV. Tài chính, tín dụng
1. Thu, chi ngân sách
- Thu ngân sách: Tổng thu trong cân đối ngân sách nhà nước 10 tháng  năm 2017 đạt 10.283 tỷ đồng, vượt dự toán cả năm 14,1%, tăng 44,2% so với cùng kỳ 2016. Trong tổng thu, thu nội địa đạt 8.089 tỷ đồng, vượt dự toán 19,7%, tăng 43,5% so với cùng kỳ; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 2.193,5 tỷ đồng, bằng 97,5% dự toán và tăng 47% so với cùng kỳ năm trước. 
Trong thu nội địa, nhìn chung các khoản thu đều tăng cao so với cùng kỳ, có 13/16 khoản thu tăng so với cùng kỳ và đạt cao so với dự toán, cụ thể khoản thu tăng cao nhất đó là thu từ tiền cấp quyền sử dụng đất đạt 1.723 tỷ đồng, gấp 2,4 lần so với cùng kỳ và gấp 2,6 lần so với dự toán; tiếp đến là  thu từ tiền cho thuê đất đạt 315 tỷ đồng, gấp 2,3 lần so với cùng kỳ và vượt 0,7% dự toán cả năm; thu cấp quyền khai thác khoáng sản đạt 186 tỷ đồng, tăng 68,9% so với cùng kỳ và vượt dự toán 83,1%; thu từ khu vực dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 1.454 tỷ đồng, gấp 1,5 lần so với cùng kỳ và vượt 16,9% dự toán cả năm; thu thuế thu nhập cá nhân đạt 820 tỷ đồng, tăng 44,9% so với cùng kỳ và vượt 2,5% dự toán cả năm; thu phí, lệ phí đạt 186 tỷ đồng, tăng 45,3% so với cùng kỳ và vượt 9,6% dự toán cả năm… có 2/16 khoản thu đạt thấp hơn so với cùng kỳ đó là thu sử dụng đất phi nông nghiệp đạt 13 tỷ đồng, giảm 4,8% so với cùng kỳ và bằng 99,8% dự toán cả năm; thu lệ phí trước bạ đạt 247 tỷ đồng, giảm 13,2% so với cùng kỳ và bằng 70,4% dự toán cả năm.
- Chi ngân sách: Tổng chi ngân sách địa phương 10 tháng năm 2017 đạt 7.784 tỷ đồng, tăng 23,8% so với cùng kỳ và bằng 76,3% dự toán cả năm. Trong đó, chi cân đối ngân sách địa phương đạt 7.103 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 91,3%), tăng 20,8% so với cùng kỳ và bằng 76,2% dự toán cả năm; chi chương trình mục tiêu quốc gia đạt 681 tỷ đồng, tăng gấp 1,6 lần so với cùng kỳ và bằng 78,2% dự toán cả năm.
Trong chi cân đối ngân sách địa phương, chi đầu tư phát triển đạt 1.547 tỷ đồng, tăng 30,6% so với cùng kỳ năm trước và bằng 94,2% dự toán (trong đó chi xây dựng cơ bản tập trung đạt 690 tỷ đồng, giảm 4,2% so cùng kỳ và  vượt 6,1% so với dự toán cả năm; chi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng 843 tỷ đồng, tăng gấp 2 lần so với cùng kỳ và vượt dự toán 15,1%).
Chi thường xuyên đạt 5.556 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 78,2% trong chi cân đối, tăng 18,4% so với cùng kỳ và bằng 79,7% dự toán cả năm. Nhìn chung chi trường xuyên đã đáp ứng được các yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị và phát triển sự nghiệp y tế, giáo dục, văn hóa thể thao của địa phương. Có 8/11 khoản chi tăng cao so với cùng kỳ và cả 11 khoản chi đạt trên 63% dự toán cả năm. Cụ thể: chi sự nghiệp giáo dục đào tào và dạy nghề đạt 2.092 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 37,7% chi thường xuyên), tăng 13,0% so với cùng kỳ và bằng 71,5% dự toán cả năm; chi sự nghiệp y tế dân số và gia đình đạt 684 tỷ đồng, tăng 33,2% so với cùng kỳ và bằng 83,5% dự toán cả năm; chi quản lý hành chính đạt 1.312 tỷ đồng tăng 20,9% và bằng 92,8% dự toán; chi sự nghiệp kinh tế đạt 605 tỷ đồng, tăng 20,3% so với cùng kỳ và bằng 74,9% dự toán cả năm; chi đảm bảo xã hội đạt 288 tỷ đồng, tăng 4,8% so với cùng kỳ và vượt 0,9% dự toán cả nảm; chi sự nghiệp bảo vệ môi trường đạt 204 tỷ đồng, tăng gấp 3,6 lần so với cùng kỳ và bằng 66,8% dự toán… Có 3/11 khoản thu đạt thấp hơn so với cùng kỳ đó là chi sự nghiệp khoa học và công nghệ đạt 22 tỷ đồng, giảm 4,2% so với cùng kỳ và bằng 81,1% dự toán; chi sự nghiệp văn hóa thông tin, TDTT đạt 78 tỷ đồng, giảm 16,6% so với cùng kỳ và bằng 63,1% dự toán; chi quốc phòng an ninh địa phương đạt 158 tỷ đồng, giảm 14,7% so với cùng kỳ nhưng vượt dự toán 6,2%.
2. Ngân hàng
Hiện nay trên địa bàn có gần 30 ngân hàng, chi nhánh ngân hàng và tổ chức tín dụng. Tính đến đầu tháng 10/2017 tăng trưởng tín dụng trên địa bàn đạt 11,4% thấp hơn tăng trưởng tín dụng cả nước.
Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay bằng đồng Việt Nam tiếp tục ổn định so với cuối năm 2016. Lãi suất huy động VNĐ của các tổ chức tín dụng phổ biến ở mức 0,8-1%/năm đối với lãi suất huy động tiền gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng, từ 4,5-5,4%/năm đối với kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng, từ 5,4-7,2%/năm đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VNĐ đối với các lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao là 6,5%/năm. Lãi suất cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 7-9%/năm đối với ngắn hạn, từ 9,3-11%/năm đối với trung và dài hạn. Đối với nhóm khách hàng tốt, tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch, lãi suất cho vay từ 5-6%/năm. Lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 2,8-6%/năm.
- Kết quả hoạt động tín dụng: Tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tính đến 31/10/2017 đạt 45 nghìn tỷ đồng, tăng 16,3% so với 31/12/2016.
Dư nợ cho vay đối với nền kinh tế của các tổ chức tín dụng tính đến 31/10/2017 đạt 44,4 nghìn tỷ đồng, tăng 12,6% so với 31/12/2016 và tăng 17,8% so với cùng kỳ năm trước. Dư nợ tín dụng ưu đãi là 4,63 nghìn tỷ đồng, giảm 6,28% so với 31/12/2016. Nợ xấu được kiểm soát ở mức 1%/tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng
Kết quả dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn đến hết tháng 9/2017 đạt 11.953 tỷ đồng tăng 12,2% so với 31/12/2016 với 181.080 khách hàng còn dư nợ, chiếm tỷ trọng 24,6%/tổng dư nợ trên địa bàn, doanh số cho vay là 9.448 tỷ đồng, doanh số thu nợ là 7.869 tỷ đồng. Trong đó: Các ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài dư nợ đạt 8.810 tỷ đồng với 63.351 khách hàng còn dư nợ; Các ngân hàng chính sách xã hội và cho vay ưu đãi dư nợ đạt 3,1 nghìn tỷ đồng với 117.347 khách hàng còn dư nợ. Tính riêng cho vay đầu tư xây dựng nông thôn mới đạt 8.670 tỷ đồng với 138.445 hộ dân, 165 doanh nghiệp và 12 hợp tác xã còn dư nợ, doanh số cho vay đạt 6.107 tỷ đồng, doanh số thu nợ đạt 4.653 tỷ đồng.
Các ngân hàng trên địa bàn đã thực hiện cho vay chăn nuôi lợn, sản xuất thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y với dư nợ đến hết tháng 9/2017 đạt 2.250 tỷ đồng, trong đó kể từ ngày 01/5/2017 đã thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng vay chăn nuôi lợn là 17 tỷ đồng, dư nợ được miễn, giảm lãi vay là 5 tỷ đồng. Nợ xấu của khách hàng vay chăn nuôi lợn là 4 tỷ đồng, chiếm 0,18%/tổng dư nợ cho vay chăn nuôi lợn.
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Văn hoá, thể thao
Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã tổ chức nhiều các hoạt động văn hóa, thể thao, lễ hội, các hoạt động tuyên truyền, biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, triển lãm, chào mừng các ngày lễ, kỷ niệm được tổ chức thiết thực, đạt hiệu quả, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị được giao, tạo không khí vui tươi, sôi nổi trong đời sống tinh thần của nhân dân các dân tộc trong tỉnh.
Công tác thanh, kiểm tra hoạt động văn hóa: Cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra 05 cơ sở thực hiện quảng cáo, 02 buổi biểu diễn nghệ thuật trên địa bàn thành phố Thái Nguyên; thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật; giải quyết đơn đề nghị của công dân có nội dung phản ánh về tiếng ồn tại 01 cơ sở kinh doanh karaoke.
Hoạt động bảo tàng: Tham gia triển lãm ảnh với chủ đề “Hành trình theo chân Bác và điểm đến du lịch vùng Chiến khu Việt Bắc” tại Chương trình du lịch “Qua những miền di sản Việt Bắc” lần thứ IX và tuần du lịch Ba Bể - Bắc Kạn. Khảo sát nội dung trưng bày Nhà truyền thống Tỉnh uỷ chuẩn bị cho công tác lập đề cương, danh mục, ma két bổ sung trưng bày.Tổ chức khảo sát, sưu tầm tài liệu hiện vật, kỷ vật chủ đề “Cách mạng kháng chiến và Mẹ Việt Nam anh hùng tỉnh Thái Nguyên”; phục vụ 580 lượt khách tham quan (28 lượt khách quốc tế) tại Không gian văn hoá Trà, các phòng trưng bày.
Hoạt động phát hành phim và chiếu bóng: Thực hiện 120 buổi chiếu phim phục vụ các xã vùng khó khăn, đối tượng chính sách với 7.200 lượt người xem.
Hoạt động thư viện: Cấp 54 thẻ, phục vụ 2.997 lượt bạn đọc, luân chuyển 5.702 lượt sách báo; thực hiện 04 cuộc giới thiệu sách trên Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh. Biên mục và xử lý nghiệp vụ 23 bản sách khiếm thị; nhập dữ liệu sách mới bổ sung đợt II/2017. Tiếp tục triển khai thực hiện phong trào “Xây dựng thư viện và môi trường văn hóa đọc xanh - sạch - đẹp - thân thiện”.
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật: Tổ chức 30 buổi biểu diễn phục vụ đối tượng chính sách và các xã đặc biệt khó khăn.
Hoạt động thể thao: Tổ chức 03 giải thể thao cấp tỉnh (cờ vua học sinh phổ thông, vật cổ điển - vật tự do, cầu lông phong trào- vô địch). Đạt 59 huy chương các loại (17 HCV, 20 HCB, 22 HCĐ), xếp thứ Nhất toàn đoàn về thể thao tại Chương trình du lịch Qua những miền di sản Việt Bắc, Nhì toàn đoàn tại Hội thi thể thao dân tộc Dao và hội thi thể thao dân tộc toàn quốc.
Đào tạo học sinh năng khiếu thể dục thể thao: Chỉ đạo Trường Phổ thông NKTDTT tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo 161 học sinh năng khiếu hệ nội trú, 40 học sinh bán trú. Tổ chức tuyển sinh bổ sung đợt III/2017; xây dựng kế hoạch huấn luyện, đào tạo năm 2018.
Thể thao thành tích cao: Duy trì công tác quản lý, huấn luyện, kiểm tra việc tập luyện của các đội tuyển. Đạt 79 huy chương các loại (26HCV, 30 HCB, 23 HCĐ); đạt cờ Nhì toàn đoàn môn khiêu vũ.
2. Y tế
- Tình hình dịch bệnh: Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh không có dịch bệnh lớn xảy ra, tỷ lệ mắc một số bệnh truyền nhiễm giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Công tác phòng chống dịch và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm được duy trì. Các Chương trình mục tiêu Quốc gia về y tế tiếp tục được triển khai theo kế hoạch. Các điểm tiêm chủng thực hiện đúng quy trình, không xảy ra tình trạng biến chứng bất thường.
Tính từ đầu năm đến ngày 22/11/2017  số ca Sốt xuất   404 ca;  tăng so với cùng kỳ năm 2016 (19 ca); Chân tay miệng 189 ca, giảm so với cùng kỳ năm 2016 (350 ca); Quai bị 575 ca,  giảm so với cùng kỳ năm 2016 (1.789 ca); Viêm màng não do não mô cầu: Không ghi nhận ca mắc mới, giảm so với cùng kỳ năm 2016 (1ca); Viêm não nhật bản B - Không ghi nhận ca mắc mới, giảm so với cùng kỳ năm 2016 (4 ca); Ho gà  09 ca, tăng so với cùng kỳ năm 2016 (3 ca); Sốt phát ban nghi sởi 7 ca, giảm so với cùng kỳ năm 2016 (40 ca);
- Chương trình Tiêm chủng mở rộng: Hoạt động tiêm chủng tại các huyện, thành, thị được duy trì thường xuyên, đảm bảo an toàn. Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ của toàn tỉnh  năm 2017 đạt trên 95% so với kế hoạch năm. Tỷ lệ trẻ em được tiêm vắc xin viêm gan B sơ sinh tại các bệnh viện đạt  88,6%, tăng so với cùng kỳ năm 2016 ( 86,4%); tỷ lệ tiêm sởi mũi 2 và DPT mũi 4 có 8 huyện, thành thị đạt trên 70% kế hoạch cả năm.
- Chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm: Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm được các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh duy trì thường xuyên. Tăng cường công tác truyền thông, kiểm tra công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng ngừa ngộ độc thực phẩm. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 02 vụ ngộ độc thực phẩm nhỏ có 32 người mắc, không có trường hợp nào tử vong. Trong tháng 11 trên địa bàn không có vụ ngộ độc thực phẩm nào xảy ra.
- Chương trình phòng chống HIV/AIDS: Chương trình phòng chống HIV/AIDS: Công tác truyền thông, về phòng chống HIV/AIDS và các hoạt động can thiệp giảm tác hại cũng như hoạt động giám sát được ngành chức năng duy trì thường xuyên, duy trì các điểm điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone và điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con. Tính luỹ tích đến hết tháng 10/2017, tổng số người nhiễm HIV/AIDS toàn tỉnh là 9.636 người, chuyển sang giai đoạn AIDS 6.694 người và 3.397 người đã tử vong do HIV/AIDS.
- Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình: Hoạt động truyền thông về công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình được quan tâm triển khai thường xuyên. Tính đến hết tháng 10 năm 2017 toàn tỉnh có 15.012 trẻ được sinh ra trong đó trẻ em nam là 8.041, trẻ em nữ là 6.971; số trẻ là con thứ 3 trở lên 1.134 trẻ, (chiếm tỷ lệ là 7,6%).
3. Giáo dục, đào tạo
* Giáo dục mầm non và phổ thông
Trong tháng 11/2017 Ngành giáo dục đã tổ chức triển khai, thực hiện nghiêm túc khung kế hoạch thời gian năm học 2017-2018.
 Ngành chức năng tổ chức thành công hội thi giáo viên dạy giỏi các môn KHXH cấp THPT toàn tỉnh đảm bảo nghiêm túc và hiệu quả: 147/226 giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh, trong đó có 6 giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi xuất sắc cấp tỉnh; Tổ chức thành công cuộc thi viết về tấm gương Nhà giáo Việt Nam trong tỉnh được Bộ GDĐT tặng bằng khen. Tổ chức  kỷ niệm 35 năm ngày Nhà giáo Việt Nam trong toàn ngành theo đúng hướng dẫn của ngành, thiết thực, tránh phô chương hình thức, nhằm tuyền truyền được những tấm gương sáng của giáo viên trong trường và toàn ngành.
Kết quả xây dựng trường chuẩn quốc gia: Tính đến thời điểm tháng 11/2017 toàn tỉnh đã có 537/678 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 79,2% vượt 3,2 điểm phần trăm so với kế hoạch (trong kế hoạch Đề án 76%). Mầm non 176/229 trường đạt tỷ lệ 76,86%; Tiểu học 217/228 trường đạt tỷ lệ 95,18%; THCS có 128/189 trường đạt tỷ lệ 67,72%; THPT có 16/32 trường đạt tỷ lệ 50%.
 Công tác dạy nghề:  Thực hiện công tác chuyển đổi quản lý theo quy định từ ngày 1/3/2017. Đến nay trên địa bàn tỉnh có 61 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong đó có 12 trường cao đẳng (có 09 trường thuộc bộ, ngành Trung ương; 02 trường công lập thuộc tỉnh và 01 trường tư thục), 12 trường trung cấp (có 02 trường thuộc bộ, ngành Trung ương; 03 trường công lập thuộc tỉnh và 07 trường tư thục), 14 trung tâm giáo dục nghề nghiệp (14 cơ sở công lập), 23 cơ sở khác có tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp (trong đó 14 cơ sở công lập, 9 của tư thục).
4. Công tác giảm nghèo, bảo trợ xã hội và thực hiện chính sách người có công
  Công tác giảm nghèo: Ngành chức năng triển khai thu thập, cập nhật dữ liệu trên hệ thống thông tin quản lý trợ giúp xã hội MIS POSASoft: thu thập và nhập thông tin hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ có người đang hượng trợ cấp xã hội hàng tháng trên địa bàn tỉnh; trong đó phân bổ hỗ trợ trợ 207 triệu đồng cho các huyên, thành, thị để tổ chức thực hiện.
 Thực hiện chính sách người có công: Giải quyết chế độ cho 11 trường hợp thân nhân người có công từ trần hưởng trợ cấp tuất hàng tháng; kiểm tra hồ sơ quyết định giảm và trợ cấp mai táng phí Người có công 71 trường hợp; Giải quyết trợ cấp thờ cúng liệt sĩ 17 trường hợp; thay đổi người thờ cúng liệt sĩ 03 trường hợp; Cấp lại thẻ Thương bệnh bệnh binh 13 trường hợp; Đính chính thông tin trong hồ sơ Liệt sĩ: 12 trường hợp; Đề nghị cấp lại bằng TQGC 25 trường hợp; Sao hồ sơ hoạt động kháng chiến 03 hồ sơ.
Ban hành quyết định trợ cấp, phụ cấp đối với 03 Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Giải quyết chế độ Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học mới 04 trường hợp; Giải quyết trợ cấp một lần cho 33 trường hợp.
Ngành chức năng tiếp tục thực hiện trình các thủ tục về giấy tờ hồ sơ, các chế độ chính sách liên quan đến các đối tượng người có công đến các cấp cỏ thẩm quyền giải quyết.
5. Lao động - Việc làm
Trong tháng ngành chức năng đã phối hợp với Công ty TNHH Sam Sung Electronics Việt Nam Thái Nguyên tuyển dụng lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo tại 2 huyện Võ Nhai và Định Hóa. Kết quả: huyện Võ Nhai có 390 người đăng ký dự tuyển và có 291 lao động thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo trúng tuyển; huyện Định Hóa có 850 người đăng ký dự tuyển, có 779 lao động thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo trúng tuyển.
Ngoài ra ngành chức năng còn ra thông báo kế hoạch tuyển chọn thực tập sinh đi thực tập kỹ thuật tại Nhật Bản năm 2017 tới Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã và thông báo 22 lao động xuất cảnh đi làm việc tại Hàn Quốc; 07 lao động tập trung bồi dưỡng kiến thức cần thiết và bổ túc tiếng Hàn.
 
6. Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em và Bình đẳng giới
Tổ chức 04 lớp tập huấn hướng dẫn kiến thức, kỹ năng phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em tại 02 xã La Hiên và Cúc Đường huyện Võ Nhai triển khai Mô hình “Ngôi nhà an toàn phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em”.
Phối hợp với Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam và Công ty TNHH Bảo Việt nhân thọ AIA Việt Nam trao 30 xe đạp cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại huyện Đại Từ và Phú Lương.
Tham mưu cho Ban VSTBPN tỉnh ban hành Kế hoạch tổ chức Lễ phát động “Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng chống bạo lực trên cơ sở giới” năm 2017 với chủ đề “Chung tay chấm dứt bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái”; Tổng kết 10 năm thi hành Luật Bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh.
7. Tình hình trật tự, an toàn giao thông
Theo Báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh Thái Nguyên, từ 16/10 đến 15/11 năm 2017, trên địa bàn xảy ra 27 vụ tai nạn giao thông, làm chết 14 người và bị thương 23 người. So với cùng kỳ năm 2016 số vụ tai nạn tăng 6 vụ (+28,57%), tăng 5 người chết (+55,56%), số người bị thương tăng 5 người (+27,78%).
Tính chung 11 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn tỉnh xảy ra 162 vụ tai nạn và va chạm giao thông làm chết 70 người và bị thương 132 người. So với cùng kỳ, số vụ giảm 5 vụ (-2,99%); số người chết giảm 11 người (-13,58%); người bị thương giảm 11 người (-7,69%). Trong đó: địa bàn Thành phố Thái Nguyên xảy ra nhiều nhất với 57 vụ (chiếm 35,2%), có 15 người chết và 50 người bị thương (so với cùng kỳ số vụ giảm 1 vụ, số người chết giảm 1 và số người bị thương giảm 7); Thị Xã Phổ Yên xảy ra 26 vụ, làm chết 14 người và 12 người bị thương (so với cùng kỳ số vụ giảm 2, số người chết giảm 5 và số người bị thương giảm 11).
Trong tháng, các cơ quan chức năng đã kiểm tra, lập biên bản và xử lý vi phạm 2.401 trường hợp; tước 369 GPLX; tạm giữ 170 xe ô tô, 322 xe mô tô; 32 phương tiện khác; số tiền xử phạt 3,5 tỷ đồng.
8. Phòng chống cháy nổ
Công tác phòng cháy chữa cháy đã được cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra và nhắc nhở nhằm hạn chế các vụ cháy nổ xảy ra. Trong kỳ (từ 15/10- 15/11/2017) trên địa bàn để xảy ra 3 vụ cháy và 1 vụ nổ đều xảy ra tại thành phố Thái Nguyên. Ước thiệt hại của các vụ cháy nổ khoảng 448 triệu đồng.
Tính từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 92 vụ cháy, 2 vụ nổ, 1 người chết và 1 người bị thương do cháy nổ, ước tổng trị giá thiệt hại do cháy nổ 7,5 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước, giảm 7 vụ cháy nhưng lại tăng 1 vụ nổ; số người bị chết giảm 3 người và số người bị thương giảm 8 người; giá trị thiệt hại tăng gần 3 tỷ đồng.
9. Vi phạm môi trường
Trong kỳ qua trên địa bàn Tỉnh ngành chức năng đã kiểm tra và xử lý 2 vụ vi phạm môi trường, trong đó có 1 vụ ở huyện Phú Lương và 1 vụ ở huyện Phú Bình với tổng số tiền phạt là 1 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến ngày 15/11/2017 trên địa bàn Tỉnh đã phát hiện và xử lý 47 vụ vi phạm môi trường, với số tiền xử phạt lên tới 1,3 tỷ đồng. So với cùng kỳ tăng 3 vụ và số tiền xử phạt tăng 0,6 tỷ đồng. Nguyên nhân của các vụ xử lý trên là do các cơ sở sản xuất kinh doanh không thực hiện giám sát môi trường định kỳ theo đề án bảo vệ môi trường đơn giản được xác nhận.
Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên tháng 11 và 11 tháng đầu năm 2017./.

 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

CHUYÊN MỤC
dieutradanso2019

hoc tap lam theo HCM

tong cuc thong ke

luat thong ke 1

cong thong tin thai nguyen


Dieu tra DN 2018

anh minh hoa 1
 
anh tuyen dung
Thống kê website
  • Đang truy cập71
  • Hôm nay
  • Tháng hiện tại
  • Tổng lượt truy cập
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây