Tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 năm 2018 tỉnh Thái Nguyên

Thứ sáu - 30/11/2018 01:21
 A. KINH TẾ
I. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp
1. Trồng trọt
Hiện nay các trên toàn tỉnh cây hàng năm vụ Mùa 2018 cơ bản đã thu hoạch xong và các địa phương đang triển khai gieo trồng và chăm sóc cây vụ Đông năm 2018-2019.
* Sản xuất vụ Mùa: Do chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở một số địa phương, mặt khác do hiệu quả sản xuất cây công nghiệp hàng năm không cao,  nên tính chung tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm giảm so vụ mùa 2017 và giảm hầu hết ở các loại cây trồng; riêng chỉ có nhóm cây rau, hoa cây cảnh diện tích tăng còn lại đều giảm.
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Mùa 2018 (bao gồm cả cây sắn) đạt 53,97 nghìn ha, bằng 103,1% kế hoạch và giảm 1,2% (tương ứng giảm 667 ha) so với vụ Mùa năm 2017. Trong đó, cây lúa 40,56 nghìn ha, giảm 0,6% (tương ứng giảm 238 ha) và bằng 102,7% kế hoạch; cây ngô 4,8 nghìn ha, giảm 2% (-96 ha) và bằng 106,1% kế hoạch; cây lấy củ có chất bột giảm 13,3% (-498 ha); nhóm cây có hạt chứa dầu giảm 9,5% (- 85 ha). Riêng cây rau diện tích gieo trồng đạt 3,3 nghìn ha, tăng 3,4% so cùng kỳ và bằng 110,3% kế hoạch; cây mía 165 ha, tăng 1,9% cùng kỳ.
Như vậy, về cơ cấu cây trồng vụ Mùa chủ yếu là cây lương thực có hạt (chiếm 84%); tiếp đến là cây rau đậu chiếm 6%; cây chất bột có củ chiếm 6%; còn lại 4% là cây công nghiệp hàng năm và hoa cây cảnh, cây hàng năm khác.
Theo kết quả sơ bộ, năng suất các cây hàng năm vụ Mùa 2018 đều tăng so với năm trước. Ước tính năng suất Lúa vụ mùa đạt 52,9 tạ/ha, bằng 102,5% so kế hoạch tỉnh giao, tăng 2,4% (+1,24 tạ/ha) so với vụ Mùa năm 2017; sản lượng ước đạt 214,6 nghìn tấn, bằng 105,2% so với kế hoạch, tăng 1,8% so với cùng kỳ. Năng suất Ngô ước đạt 46,8 tạ/ha, bằng 106,1% so với kế hoạch, tăng 4,5% so với cùng kỳ, sản lượng ước đạt 22,6 nghìn tấn, bằng 107,9% so với kế hoạch, tăng 2,4% (tương ứng tăng 540 tấn) so với vụ mùa năm 2017.
Sản lượng lương thực có hạt vụ Mùa 2018 ước đạt 237,2 nghìn tấn, bằng 105,5% kế hoạch và tăng 1,9% (tăng 4,3 nghìn tấn) so cùng kỳ.
Sản lượng cây rau ước đạt 54,4 nghìn tấn, tăng 3,6% cùng kỳ và bằng 115,3% kế hoạch (do diện tích và năng suất đều vượt cao so kế hoạch); còn lại các cây hàng năm khác sản lượng đều giảm từ 5-15% do diện tích gieo trồng giảm.
* Sản xuất vụ Đông 2018-2019: Vụ Đông năm nay kế hoạch gieo trồng cây hàng năm chủ yếu trên địa bàn tỉnh là 11,1 nghìn ha, tương đương vụ Đông năm trước. Trong đó cây ngô 4,6 nghìn ha, cây rau các loại 6,5 nghìn ha.
Tiến độ gieo trồng tính đến ngày 30/11/2018, toàn tỉnh gieo trồng được khoảng 12 nghìn ha, bằng 89,4% so với thực hiện vụ Đông năm trước. Các cây trồng theo kế hoạch giao đạt 92%; trong đó, cây Ngô gieo trồng ước đạt 4,4 nghìn ha, bằng 88,3% so cùng kỳ và bằng 96% kế hoạch; cây Rau các loại đạt khoảng 5,8 nghìn ha, bằng 89,2% kế hoạch và 91% cùng kỳ. Cây khoai lang trồng được khoảng 1,8 nghìn ha; cây đậu tương và lạc khoảng 130 ha...
* Cây lâu năm
- Cây chè: Trong tháng 11, ngành chức năng tổ chức được 5 lớp tập huấn với 300 người tham gia về Kỹ thuật trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh trên cây chè; hướng sản xuất, thâm canh chè an toàn, chất lượng theo quy trình VietGAP. Tháng 11 năm nay trên địa bàn có mưa, cung cấp độ ẩm cho đất làm cho cây chè vẫn phát triển tốt. Một số địa phương có nguồn nước tưới đẩy mạnh sản xuất chè vụ Đông mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Công tác trồng mới và trồng cải tạo thay thế cây chè già cỗi được các địa phương triển khai. Tính đến ngày 30/11/2018 diện tích chè trồng mới và trồng lại ước đạt 1.120 ha, bằng 146,2% so với kế hoạch năm, tăng 6,2% so năm trước, trong đó diện tích chè trồng mới ước đạt 385 ha và trồng lại là 735 ha.
Cây ăn quả: Diện tích cây ăn quả toàn tỉnh khoảng 16 nghìn ha, trong đó diện tích cây nhãn, vải vẫn chiếm khoảng 25%. Hiện nay một số địa phương tiếp tục nhân rộng một số mô hình trồng cây ăn quả chất lượng cao và chuyển đổi diện tích có hiệu quả kinh tế thấp sang trồng chè và cây trồng khác.
Diện tích trồng mới cây ăn quả cả năm 2018 ước đạt 973 ha, trong đó, một số loại cây ăn quả có diện tích trồng mới đạt cao như bưởi 232 ha; thanh long 71 ha, chuối 190 ha; cam 45 ha; xoài 31 ha; đu đủ 11 ha; cây na ước đạt 37 ha, tăng 39% cùng kỳ...
2. Chăn nuôi
 Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh không xảy ra dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên đàn gia súc, gia cầm. Các ngành chức năng tăng cường công tác kiểm dịch vận chuyển, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y, cơ sở giết mổ đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Tháng 11, giá bình quân thịt lợn hơi giảm 5,74% so với tháng trước; giá gà ta hơi giảm 2,35%; giá lợn giống giảm 15,8% so với tháng trước. Tuy nhiên với mức giá hiện tại, người chăn nuôi có lãi và tiếp tục tái đàn để đáp ứng nhu cầu thực phẩm cuối năm và chuẩn bị đón Tết Nguyên Đán Kỷ Hợi 2019.
Theo kết quả điều tra chăn nuôi, tại thời điểm 01/10/2018 tổng đàn lợn trên địa bàn toàn tỉnh là 702,6 nghìn con, tăng 3,2% (tương ứng tăng 21,5 nghìn con); đàn gia cầm 12,3 triệu con, tăng 8,8% so với thời điểm cùng kỳ (01/10/2017); trong đó đàn gà đạt 10,7 triệu con, tăng 9,8% so cùng kỳ. Tuy nhiên đàn trâu và đàn bò trên địa bàn đang có xu hướng giảm do thực hiện cơ giới hóa trong khâu làm đất và diện tích chăn thả bị thu hẹp.
Công tác phòng trừ dịch bệnh, tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm được các địa phương triển khai theo kế hoạch. Số lượng tiêm phòng vắc xin 2 đợt tính lũy kế từ đầu năm đến cuối tháng 11/2018 kết quả như sau: Vắc xin Tụ huyết trùng trâu, bò khoảng 95.573 liều/105.000 liều; Vắc xin Lở mồm long móng trâu, bò, lợn 178.375/180.000 liều; Vắc xin Dịch tả lợn 394.480 liều/450.000 liều; Vắc xin Tụ Dấu lợn 294.045liều/330.000 liều; Vắc xin Dại chó là 155.469 liều/164.000 liều; Vắc xin Lepto là 8 nghìn liều đạt 100% kế hoạch; Vắc xin Tai xanh là 15.050 liều/17.000 liều.
3. Lâm nghiệp
Tình hình khai thác gỗ: Sản lượng gỗ khai thác trong  tháng 11/2018 ước đạt 13,4 nghìn m3, tăng 3,2% so cùng kỳ. Tính chung 11 tháng sản lượng gỗ khai thác khoảng 136,5 nghìn m3, tăng 6,8% so với cùng kỳ; sản lượng củi khai thác khoảng 239,4 nghìn ste, tăng 6,5% so với cùng kỳ.
Lũy kế 11 tháng xảy ra 2 vụ cháy rừng, diện tích thiệt hại là 1 ha rừng trồng (nguyên nhân là do xử lý thực bì gây cháy lan). So với cùng kỳ, số vụ cháy rừng giảm 2 vụ, diện tích rừng bị cháy giảm 8,4 ha. Trong năm xảy ra 4 vụ phá rừng với diện tích rừng bị phá là 3,3 ha. So với cùng kỳ số vụ giảm 2 nhưng diện tích rừng bị phá tăng 1 ha.
Kết quả xử lý vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng: Lũy kế 11 tháng đã xử lý 240 vụ vi phạm (giảm 26,6%); tịch thu 359m3 gỗ quy tròn các loại;  thu nộp ngân sách nhà nước 2,2 tỷ đồng, tăng 2% so cùng kỳ.
II. Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp trên địa bàn vẫn duy trì tốc độ tăng cao so với cùng kỳ, trong đó một số sản phẩm đã về trước kế hoạch 1 tháng như sản phẩm may và khai thác than; bên cạnh đó một số sản phẩm truyền thống của tỉnh như xi măng, sắt thép tốc độ tăng sản lượng còn thấp do thị trường tiêu thụ sản phẩm còn hạn chế.
Tính đến thời điểm 01/11/2018 tổng số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 1% so với thời điểm cùng kỳ; trong đó so với cùng kỳ, lao động khu vực nhà nước giảm 1,12%; lao động khu vực ngoài nhà nước tăng 15,5% (do có sự chuyển đổi hình thức sở hữu) và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm 1,6% so với thời điểm 01/11/2017.
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tháng 11/2018 tăng 11,03% so với tháng trước và tăng ở hầu hết các nhóm ngành, trong đó ngành khai khoáng tăng 8,8%; công nghiệp chế biến chế tạo tăng 11,24%; sản xuất và phân phối điện tăng 0,8% và ngành cung cấp nước tăng 4,5%.
So với cùng kỳ chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11/2018 tăng 12,07%, trong đó tăng cao nhất là nhóm ngành sản xuất và phân phối điện với mức tăng 25,65%; nhóm ngành khai khoáng tăng 13,22%; nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,9%.
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất trong tháng 11/2018: Nhóm sản phẩm ước tính sản lượng tăng trên 10% so với cùng kỳ là: quặng sắt và tinh sắt chưa nung kết đạt 180,2 nghìn tấn, tăng 17,9%; đá khai thác đạt 403,2 nghìn m3, tăng 12,3%; sắt thép các loại đạt 150,7 nghìn tấn, tăng 34,6%; tai nghe điện thoại đạt 20,9 triệu sản phẩm, gấp 4,7 lần; điện sản xuất đạt 123 Tr.Kwh, tăng 41,4%; phụ tùng khác của xe có động cơ đạt 6,8 triệu sản phẩm, tăng 24,1%... Nhóm sản phẩm ước tính tăng thấp hoặc giảm hơn so với cùng kỳ là: Điện thoại thông minh 9,2 triệu cái, tăng 2,1%; máy tính bảng 2,7 triệu cái, tăng 1,7%; xi măng 212,6 nghìn tấn, tăng 2,3%; gạch xây dựng bằng gốm sứ 6,4 triệu viên, giảm 9,8%; vonfram và sản phẩm của vonfram 1,7 nghìn tấn, giảm 0,5%; mạch điện tử tích hợp 6,1 triệu cái, giảm 42,6% so với cùng kỳ.
Tính chung 11 tháng năm 2018, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 12,3% so với cùng kỳ. Trong đó, công nghiệp chế biến chế tạo tăng 12,4% (tăng cao nhất là ngành dệt tăng 66,7%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 24,7%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 34%; sản xuất đồ uống tăng 20,6%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 13,4%; nhóm sản xuất kim loại đạt tương đương và nhóm sản xuất phi kim loại, plastic và hóa dược giảm); sản xuất phân phối điện tăng 8,2%; nhóm ngành công nghiệp khai khoáng tăng 7,7%; cung cấp nước và hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,7%.
Sản phẩm sản xuất chủ yếu tính chung 11 tháng 2018 ước tính tăng trên 10% so với cùng kỳ năm 2017 là: giấy và bìa 34,1 nghìn tấn, tăng 43,5%; tai nghe khác 73,2 triệu sản phẩm, tăng 68,4%;  thiết bị và dụng cụ khác trong y khoa 1.324 triệu sản phẩm, tăng 33,9%; than khai thác 1.334,1 nghìn tấn, tăng 18,6% và bằng 111,2% kế hoạch; sản phẩm may 64,5 triệu sản phẩm, tăng 17,7% và bằng 105,7% kế hoạch; đồng tinh quặng (Cu>20%) đạt 44,3 nghìn tấn, tăng 11,6%; đá khai thác 3,6 triệu m3 tăng 16,1%... Nhóm sản phẩm sản lượng tăng dưới 10% như: xi măng 1,8 triệu tấn, tăng 2,4% và bằng 83,5% kế hoạch cả năm; sắt thép các loại đạt 1,3 triệu tấn, tăng 2%; điện sản xuất đạt 1.290 triệu Kwh, tăng 9%; điện thương phẩm đạt 4.328 triệu Kwh, tăng 6,7% so cùng kỳ và bằng 86,6% kế hoạch; nước máy thương phẩm đạt 31,7 triệu m3, tăng 0,8% và bằng 92% kế hoạch... Ngoài ra nhóm sản phẩm công nghiệp có sản lượng tăng thấp hoặc giảm hơn so với cùng kỳ là: quặng sắt và tinh sắt chưa nung đạt 1,7 triệu tấn, giảm 2,7%; gạch xây dựng bằng gốm sứ đạt 63,6 triệu viên, giảm 4,8%; mạch điện tử tích hợp đạt 71,3 triệu cái, giảm 9,2%; camera truyền hình đạt 40,6 triệu cái, giảm 24%; Vonfram và sản phẩm của vonfram 15,7 nghìn tấn, giảm 10% cùng kỳ và bằng 78,6% kế hoạch cả năm.
Riêng nhóm sản phẩm điện tử điện thoại thông minh và máy tính bảng sản xuất cộng dồn 11 tháng 2018 ước đạt 108,4 triệu sản phẩm, giảm 3,4% cùng kỳ và bằng 78,6% kế hoạch sản lượng cả năm (điện thoại thông minh đạt 88,2 triệu sản phẩm, giảm 3,2%; máy tính bảng đạt 20,2 triệu sản phẩm, giảm 2,4%); trong đó nhóm điện thoại có giá bán từ 6 triệu đồng/1 sản phẩm trở lên ước đạt 22,2 triệu cái (chiếm 25,2% tổng số), tăng 42,5% so với cùng kỳ và là yếu tố tác động làm tăng chỉ số sản xuất công nghiệp.
III. Thương mại, giá cả và dịch vụ
1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn tỉnh tháng 11 năm 2018 ước đạt 2.765,2 tỷ đồng, tăng 1,4% so với tháng trước, tăng 12,4% so với cùng kỳ. Trong đó khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 151,4 tỷ đồng, tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 12,4% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 2.599,5 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 94% thị phần bán lẻ), tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 12,4% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 14,4 tỷ đồng, tăng 4,6% so với tháng trước và tăng 8,6% so với cùng kỳ.
Tính chung 11 tháng 2018 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước đạt 29.006 tỷ đồng, tăng 11,8% so với cùng kỳ (nếu loại trừ yếu tố giá thì mức tăng là 8,4%). Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước 1.563 tỷ đồng, tăng 13%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 27.306 tỷ đồng (chiếm 94,1%), tăng 11,8%. Còn lại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài doanh thu dịch vụ ước đạt 138 tỷ đồng, tăng 8% so với cùng kỳ.
Nếu phân theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ 11 tháng 2018 đạt khoảng 23.425 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 80,8%), tăng 12,7%  so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 2.492,6 tỷ đồng (chiếm 8,6% trong tổng mức), tăng 8,1% so với cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành đạt 69,5 tỷ đồng, tăng 9,2% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ tiêu dùng còn lại ước đạt 3.019 tỷ đồng (chiếm 10,4% tổng số), tăng 8,1% so với cùng kỳ;
Trong cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hóa 11 tháng năm 2018, nhóm lương thực, thực phẩm doanh thu ước đạt 7.615 tỷ đồng (chiếm 32,5% trong tổng mức bán lẻ), tăng 14,7% so với cùng kỳ; nhóm xăng dầu các loại ước đạt 2.770 tỷ đồng (chiếm 11,8% trong tổng mức bán lẻ), tăng 9,8%; nhóm đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình ước đạt 2.644 tỷ đồng, tăng 11,2%; nhóm ô tô các loại ước đạt 2.438 tỷ đồng, tăng 14,9%; nhóm hàng may mặc đạt 1.816 tỷ đồng, tăng 13,6%; nhóm phương tiện đi lại ước đạt 1.665 tỷ đồng, tăng 13,1%; mặt hàng đá quý, kim loại quý 293 tỷ đồng, tăng 14,9% so với cùng kỳ…
2. Xuất, nhập khẩu
a. Xuất khẩu
Tổng giá trị xuất khẩu tháng 11/2018 ước đạt 2,2 tỷ USD, tăng 9,7% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 35 triệu USD, tăng 38% so với cùng kỳ. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 2,1 tỷ USD, tăng 9,3% so với cùng kỳ.
Mặt hàng xuất khẩu dự tính tháng 11/2018 tăng cao so với cùng kỳ là chè các loại đạt 0,35 nghìn tấn về lượng và đạt 0,57 triệu USD về giá trị, tăng 49,8% về lượng và 43,5% về giá trị; sản phẩm may đạt 29,2 triệu sản phẩm, tăng 38%; nhóm điện thoại các loại và sản phẩm điện tử, linh kiện ước đạt 2.118,8 triệu USD, tăng 9,8% cùng kỳ (bao gồm, điện thoại thông minh 1.315 triệu USD, tăng 5,7%; máy tính bảng 322 triệu USD, tăng 1,2%; sản phẩm điện tử khác và linh kiện 482 triệu USD, tăng 31,4%)... Nhóm hàng xuất khẩu giảm so với cùng kỳ như: giấy và các sản phẩm từ giấy đạt 0,3 triệu USD, giảm 0,8%; kim loại màu và tinh quặng kim loại màu xuất khẩu khoảng 5 nghìn tấn các loại với giá trị 12,1 triệu USD, so với tháng cùng kỳ giảm 85% về lượng và giảm 43% về giá trị.
Tính chung 11 tháng 2018 giá trị xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn ước đạt 23 tỷ USD, tăng 10,1% so với cùng kỳ, bằng 92% kế hoạch cả năm. Trong đó, xuất khẩu do địa phương quản lý 375,3 triệu USD, tăng 38,6% cùng kỳ và bằng 100,2% kế hoạch cả năm; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 22,6 tỷ USD, tăng 9,7% cùng kỳ.
 Nhóm mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn là sản phẩm điện thoại các loại, máy vi tính và linh kiện điện tử ước đạt 22,33 triệu USD (chiếm 97,2% tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn), tăng 9,6% so với cùng kỳ (trong đó điện thoại thông minh và máy tính bảng đạt 17,7 tỷ USD, tăng 3,7% cùng kỳ và bằng 82,9% kế hoạch; linh kiện và sản phẩm điện tử các loại khác ước đạt 4,7 tỷ USD, tăng 39,4% cùng kỳ và bằng 147,6% kế hoạch cả năm).
Ngoài ra một số mặt hàng đạt tốc độ xuất khẩu tăng cao về trước kế hoạch, đóng góp vào tốc độ tăng của xuất khẩu địa phương là sản phẩm may 282 triệu USD, tăng 24,2% cùng kỳ; kim loại màu và tinh quặng kim loại màu 220,6 triệu USD, tăng 14,3% và bằng 122,6% kế hoạch cả năm; sản phẩm từ sắt thép 51,4 triệu USD, tăng 5,6% cùng kỳ và bằng 98,8% kế hoạch…nhóm mặt hàng xuất khẩu giảm so cùng kỳ là: chè các loại, ước đạt 1,7 nghìn tấn với trị giá xuất khẩu 2,7 triệu USD, giảm 31,5% về lượng và giảm 39,3% về giá trị xuất khẩu và mới bằng 33,7% kế hoạch cả năm.
b. Nhập khẩu
Tổng giá trị nhập khẩu hàng hóa tháng 11/2018 trên địa bàn ước đạt 1,36 tỷ USD, tăng 1,5% so với cùng kỳ; trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 25,8 triệu USD, giảm 15,8%với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,34 tỷ USD, tăng 1,9% so với cùng kỳ.
Nhóm mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tháng 11/2018 ước tính tăng hơn so với cùng kỳ là nguyên, phụ liệu dệt may đạt 1,6 triệu USD, tăng 84,4% cùng kỳ; sản phẩm từ sắt thép đạt 4,4 triệu USD, tăng 69,1% so với cùng kỳ; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 9,5 triệu USD, tăng 79,7%; nguyên liệu và linh kiện điện tử 1,32 tỷ USD, tăng 2,1% so với cùng kỳ; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc 4,1 triệu USD, tăng 7,4%... Nhóm mặt hàng nhập khẩu chủ yếu giảm so cùng kỳ như: máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 11,6 triệu USD, giảm 18,4% cùng kỳ; vải các loại đạt 11,1 triệu USD, giảm 5%; giấy các loại đạt 0,6 triệu USD, giảm 4,2% so với cùng kỳ…
Tính chung 11 tháng 2018, tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn ước đạt 13,25 tỷ USD, tăng 3,4% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 243 triệu USD, tăng 11,1%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 13 tỷ USD, tăng 3,3% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 98,2% tổng giá trị nhập khẩu.
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ là: phế liệu sắt thép đạt 75,8 nghìn tấn với giá trị 28,2 triệu USD (cùng kỳ chỉ nhập 0,5 triệu USD); sắt thép các loại nhập khẩu 34 nghìn tấn với giá trị 16,6 triệu USD, tăng 63% về lượng và gấp 2,9 lần về giá trị; chất dẻo (plastic) ước nhập khẩu 105,5 triệu USD, gấp 2,5 lần; giấy các loại đạt 5 triệu USD, tăng 60,8%; vải và nguyên, phụ liệu dệt may 135,4 triệu USD, tăng 17,4% cùng kỳ.
Riêng nhóm nguyên liệu và linh kiện điện tử 11 tháng nhập khẩu khoảng 12,74 tỷ USD, tăng 3,1% cùng kỳ. Nhóm máy móc thiết bị phụ tùng nhập khẩu đạt 62,8 triệu USD, giảm 46,5% cùng kỳ (do nhập khẩu máy móc phục vụ đầu tư giảm).
3. Giá tiêu dùng
Do giá nhóm thực phẩm, chất đốt, xăng dầu giảm nên chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2018 giảm 0,66% so với tháng trước. So với tháng 12/2017 chỉ số giá tháng 11/2018 tăng 3,75%. Tính chung bình quân 11 tháng 2018 chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,17% so với bình quân cùng kỳ.
So với tháng trước có 5/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chỉ số giá giảm, trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm nhiều nhất, với mức giảm 2% (chủ yếu do nhóm thực phẩm giảm 2,72% như giá thịt lợn tươi sống giảm 8,21%; giá thịt gia cầm tươi sống giảm 1,35%; thủy sản giảm 1,48%); nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,16%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,1%; Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 1,16% (do giá gas giảm 10,5%; tiêu dùng điện, nước giảm nên giá điện bình quân tính theo bậc thang giảm từ 1-2%); nhóm giao thông giảm 1,92% (do giá nhiên liệu xăng, dầu giảm 4,16%; phương tiện đi lại giảm 0,5%). Có 4/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng nhẹ trong khoảng 0,04% đến 0,16% như nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,16%; nhóm giáo dục và hàng hóa dịch vụ khác tăng 0,04%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,01%. Còn lại 02/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chỉ số giá tương đương tháng trước như nhóm thuốc và dịch vụ y tế; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép.
So với tháng 12/2017, chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,75% (trong đó, nhóm hàng hóa tăng 4,18% và nhóm dịch vụ tăng 5,41%). Có 9/11 nhóm hàng hóa và nhóm dịch vụ chủ yếu có chỉ số giá tăng. Tăng nhiều nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống với mức tăng 6,61% (giá lương thực tăng 3,26%, thực phẩm tăng 6,85%); trong đó, gạo tăng 3,26%; thịt gia súc tươi sống tăng 19%, thịt chế biến tăng 17,2%; thịt gia cầm giảm 3,5%; rau các loại giảm 2,6%; quả các loại giảm 2,8% và ăn uống ngoài gia đình tăng 8,88%. Nhóm giao thông tăng 5,89% (do giá xăng, dầu diezen tăng 10,82%; giá bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 9,16%; dịch vụ khác cho phương tiện cá nhân tăng 6,9%); nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,62%; nhóm giáo dục tăng 3,28% (do giá văn phòng phẩm tăng 3,77%; nhóm dịch vụ giáo dục tăng 3,18%); nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,74% (do giá dịch vụ về hiếu hỉ 6,62%). Có 4 nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng trong khoảng 0,33% đến 1,23% như nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,33%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,66%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,23%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,09%. Còn lại 2/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ giảm là nhóm thuốc và dịch vụ y tế giảm 3,07% (do dịch vụ y tế giảm 4,34%); nhóm bưu chính viễn thông giảm 1,12% (do giá thiết bị điện thoại giảm 6,06%).
So với cùng kỳ (tháng 11/2017), chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2018 tăng 3,77%.  Có 9/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ trong rổ hàng hóa tiêu dùng có chỉ số giá tăng. Tăng nhiều nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống với mức tăng 6%; nhóm giao thông tăng 6,98%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,67%; nhóm giáo dục tăng 3,3%, nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,48% (do giá dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 5,07%, hiếu hỉ tăng 6,62%) và còn các nhóm khác tăng trong khoảng từ 0,67% đến 1,64% như nhóm may mặc, giày dép và mũ nón tăng 1,08%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,67%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,64%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,45%. Còn lại 2/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ giảm là nhóm thuốc và dịch vụ y tế giảm 3,07% và nhóm bưu chính viễn thông giảm 1,31%.
Chỉ số giá Vàng tháng 11/2018 tăng 1,71% so với tháng trước và nhưng giảm 0,86% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá Vàng bình quân 11 tháng năm 2018 tăng 2,45% so với bình quân cùng kỳ.
Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 11/2018 giảm 0,06% so tháng trước nhưng tăng 2,69% so với cùng kỳ. Chỉ số giá Đô la Mỹ bình quân 11 tháng  năm 2018 tăng 1,15% so với bình quân cùng kỳ.
4. Vận tải
- Vận chuyển hành khách: Số lượt hành khách vận chuyển tháng 11/2018 ước đạt 1,7 triệu lượt khách với lượng hành khách luân chuyển là 93,8 triệu hành khách.km; tăng 6,7% so với tháng trước số hành khách vận chuyển và tăng 6,8% số hành khách luân chuyển. Tính chung 11 tháng 2018 số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 17,9 triệu lượt hành khách với 990,6 triệu lượt hành khách.km; so với cùng kỳ tăng 8% về số hành khách vận chuyển và tăng 7,6% về số lượng hành khách luân chuyển.
- Vận chuyển hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 11/2018 ước đạt 3,7 triệu tấn với 147,6 triệu tấn.Km, tăng 10,3% so với cùng kỳ về khối lượng hàng hóa vận chuyển và tăng 9,1% về khối lượng hàng hóa luân chuyển. Tính chung 11 tháng 2018, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 35 triệu tấn với 1.470,7 triệu tấn.km, tăng 8% về khối lượng vận chuyển và tăng 8,4% khối lượng luân chuyển so với cùng kỳ.
Tổng doanh thu vận tải trên địa bàn tháng 11/2018 đạt khoảng 383 tỷ đồng, tăng 8,3% so tháng trước và tăng 10,2% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 64,8 tỷ đồng, tăng 6,8% so với tháng trước và tăng 9,5% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa là 300 tỷ đồng, tăng 10,5% cùng kỳ, còn lại là từ dịch vụ hỗ trợ vận tải.
Tính chung 11 tháng 2018, tổng doanh thu vận tải trên địa bàn ước đạt 3.754,4 tỷ đồng, tăng 9,1% cùng kỳ (trong đó, doanh thu vận tải hành khách 688 tỷ đồng, tăng 9,1%, doanh thu vận tải hàng hóa 2.835,1 tỷ đồng, tăng 9,1% và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 231,5 tỷ đồng, tăng 8,6%).
IV. Thu, chi ngân sách
1. Thu ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tính chung Mười tháng năm 2018 đạt 11.266 tỷ đồng, tăng 9,6% so cùng kỳ và bằng 85,9% dự toán cả năm. Trong tổng thu, thu trong cân đối ngân sách nhà nước đạt 11.228,4 tỷ đồng, tăng  9,2% so với cùng kỳ và bằng 85,6% so với dự toán cả năm; thu quản lý qua ngân sách đạt 37,9 tỷ đồng.
Trong tổng thu cân đối, thu nội địa đạt 8.753,2 tỷ đồng, tăng 8,2% so với cùng kỳ và bằng 88,3% so với dự toán cả năm; thu hoạt động xuất nhập khẩu 2.475,1 tỷ đồng, tăng 12,8% so với cùng kỳ và bằng 77,3 % so với dự toán cả năm 2018.
Trong thu nội địa, có 3/14 khoản thu đã thu vượt dự toán và tăng so với cùng kỳ như: Thu Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp ước đạt 16,2 tỷ đồng, bằng  135,2% dự toán, tăng 25% so cùng kỳ; Thu ngân sách xã ước đạt 11,2 tỷ đồng, bằng 111,9% dự toán, tăng 1,7% so cùng kỳ; Thu từ khu vực có dịch vụ ngoài quốc doanh ước đạt 1.523 tỷ đồng, bằng 102,9% so dự toán và tăng 4,7% so cùng kỳ.
Có 8/14 khoản thu tăng so với cùng kỳ,  trong đó thu từ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 2.900,6 tỷ đồng (đây là khoản thu cao nhất, chiếm 33% tổng thu nội địa), tăng 59,6% cùng kỳ; thu khác ngân sách ước đạt 163,8 tỷ đồng, tăng 72,6% so cùng kỳ; Thu lệ phí trước bạ ước đạt 327 tỷ đồng, tăng 32,7%; còn lại một số khoản thu tăng trong khoảng từ 1,7% đến 9% như: Thu từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh ước đạt 1.522,7 tỷ đồng, tăng 4,7%; thuế thu nhập cá nhân đạt 866 tỷ đồng, tăng 5,6%; thu ngân sách xã tăng 1,7%; thu từ hoạt động xổ số kiến thiết đạt 9,6 tỷ đồng, tăng 9%.
Có 6/14 khoản thu đạt thấp so với cùng kỳ như: Thu từ doanh nghiệp nhà nước ước đạt 788 tỷ đồng, bằng 98%; Thu tiền cấp quyền sử dụng đất ước đạt 1288,6 tỷ đồng, bằng 74,8% cùng kỳ, bằng  99,1% dự toán; thu tiền cho thuê đất ước đạt 242,1 tỷ đồng, bằng 76,8%; Thuế bảo vệ môi trường ước đạt 338 tỷ đồng, giảm 16,9%; Thu cấp quyền khai thác khoáng sản ước đạt 133,4 tỷ đồng, giảm 28,3%.
 2. Chi ngân sách địa phương
 Tổng chi ngân sách địa phương trên địa bàn tính chung Mười tháng  năm 2018 đạt 8.861,4 tỷ đồng, tăng 13,8% so với cùng kỳ và bằng 64,1% dự toán cả năm, trong đó chi cân đối ngân sách địa phương đạt 7.906 tỷ đồng tăng 11,3% so cùng kỳ và bằng 65,2% dự toán cả năm; chi chương trình mục tiêu quốc gia đạt 955,4 tỷ đồng, tăng 40,3% so cùng kỳ và bằng 56,3% dự toán cả năm.
Trong chi cân đối ngân sách địa phương, chi đầu tư phát triển đạt 1.974,6 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 25% trong chi cân đối), tăng 27,6% so cùng kỳ, bằng 83,7% dự toán cả năm; chi thường xuyên đạt 5.931,4 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng  75% trong chi cân đối), tăng 6,8% so cùng kỳ, bằng 75,3% dự toán năm.
Trong tổng chi thường xuyên có 8/11 khoản chi tăng so cùng kỳ như: chi lớn nhất là chi sự nghiệp giáo dục đào tạo và dạy nghề đạt 2.291 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 39% tổng chi thường xuyên), tăng 9,5% so cùng kỳ, bằng 68,4% dự toán cả năm; chi sự nghiệp khoa học và công nghệ đạt 25,1 tỷ đồng, tăng 17% so cùng kỳ và bằng 90,4% dự toán năm; chi sự nghiệp văn hóa thông tin, thể dục thể thao đạt 102,4 tỷ đồng, tăng 31,1% so cùng kỳ và bằng 68,5% dự toán năm; chi đảm bảo xã hội đạt 295 tỷ đồng, tăng 2,3% so cùng kỳ và bằng 87,7% dự toán năm; chi quốc phòng an ninh đạt 189,5 tỷ đồng, tăng 20% so cùng kỳ và đạt 92,6% dự toán năm.
Có 3/11 khoản chi đạt thấp hơn so cùng kỳ như: Chi quản lý hành chính ước đạt 1.280 tỷ đồng, giảm 2,4%; Chi sự nghiệp bảo vệ môi trường ước đạt 199,2 tỷ đồng, giảm 2,8%; chi khác của ngân sách ước đạt 56 tỷ đồng, giảm 22,4%.
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin tuyên truyền
        Trong tháng 11/2018, các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, luân chuyển sách phục vụ nhân dân đặc biệt là đồng bào vùng sâu, vùng xa, các đối tượng chính sách được triển khai. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, xây dựng Nông thôn mới, “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” tiếp tục được thực hiện. Tổ chức giới thiệu, quảng bá du lịch Thái Nguyên trên các phương tiện truyền thông.
Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm: Kiểm tra 15 cơ sở lưu trú du lịch, 02 buổi biểu diễn nghệ thuật, việc thực hiện quảng cáo của 12 tổ chức cá nhân; Tổ chức kiểm tra các cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hoá, du lịch. Công tác kiểm tra các hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá, du lịch đã chấn chỉnh kịp thời các hành vi sai phạm, góp phần tích cực đưa các cơ sở kinh doanh hoạt động theo đúng quy định.
 Hoạt động bảo tàng: Tổ chức triển lãm, trưng bày giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể "Múa Tắc Xình của dân tộc Sán Chay của tỉnh Thái Nguyên" tại Không gian văn hoá trà Tân Cương thành phố Thái Nguyên; dàn dựng trưng bày hiện vật tại di tích Thanh niên xung phong; chọn, lập danh mục hiện vật về khảo cổ học Thần Sa và rối Tày Thẩm Rộc với gần 50 đơn vị hiện vật, phục vụ triển lãm "Không gian di sản văn hóa Việt Nam - 2018". Tiếp tục thực hiện công tác sưu tầm hiện vật đợt 4/2018 với chủ đề "Sưu tầm tài liệu, hiện vật về tài nguyên thiên nhiên"; phục vụ trên 780 lượt khách tham quan (trong đó có 80 lượt khách Hàn Quốc).
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật, phát hành phim và chiếu bóng: Tổ chức 29 buổi biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị, đối tượng chính sách và các xã đặc biệt khó khăn. Thực hiện 100 buổi chiếu phim phục vụ các xã vùng khó khăn, đối tượng chính sách; phục vụ 6.230 lượt người xem.
          Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở: Tổ chức thành công Liên hoan văn hóa, văn nghệ điểm xây dựng mô hình mẫu hình làng, bản văn hóa cơ sở tỉnh Thái Nguyên năm 2018 với sự tham gia của 09 huyện, thành phố, thị xã với 373 diễn viên, nghệ nhân. Tham gia “Ngày hội văn hóa thể thao và du lịch các dân tộc vùng Đông Bắc lần thứ X/2018 đạt (02 giải A, 06 giải B cho tiết mục), được Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch, UBND tỉnh Vĩnh Phúc tặng Bằng khen.
Tổ chức kiểm tra, đánh giá hoạt động các Nhà Văn hóa, Trung tâm Văn hóa - Thể thao, các điểm mô hình, mẫu hình hoạt động văn hóa, văn nghệ các huyện, thành phố, thị xã; duy trì sinh hoạt cho các Câu lạc Bộ theo sở thích. Chuẩn bị xây dựng kịch bản chương trình nghệ thuật “Mừng Đảng, mừng Xuân mới” năm 2019; tổ chức 09 buổi tuyên truyền.
Lĩnh vực thể thao: Duy trì công tác quản lý, huấn luyện, kiểm tra  việc tập luyện của các đội tuyển; tổ chức lễ xuất quân của đoàn thể thao Thái Nguyên tham gia Đại hội thể dục thể thao toàn quốc lần thứ VIII/2018;  tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch các dân tộc vùng Đông Bắc lần thứ X/2018 đạt cờ nhì Toàn đoàn và đạt 22 huy chương các loại (06 HCV, 06 HCB, 10HCĐ).
 Thể thao thành tích cao: Tại Giải vô địch vật Đông Nam Á tổ chức tại Philippnies đạt 04 huy chương các loại (02 huy chương Vàng, 02 Huy chương Bạc).
2. Y tế
- Tình hình dịch bệnh: Công tác phòng chống dịch và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm được duy trì triển khai. Tính chung từ đầu năm đến hết ngày 20/11/2018, số ca Quai bị 340 ca, giảm 235 ca so với cùng kỳ (cùng kỳ là 575 ca); Tay chân miệng 274 ca, tăng 45% (+85 ca) so cùng kỳ; sốt phát ban dạng sởi 23 ca, tăng 16 ca (gấp 3,2 lần) so với cùng kỳ; viêm màng não Nhật Bản B 2 ca (cùng kỳ không phát sinh); Ho gà 4 ca, giảm 5 ca so cùng kỳ 2017.
Riêng  20 ngày đầu tháng 11/2018 đã phát hiện  mới 23 ca bệnh tay chân miệng; sốt phát ban dạng sởi 3 ca; sốt xuất huyết 3 ca; viêm não nhật bản B là 01 ca và liên cầu lợn 01 ca.
  • Chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm: các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh duy trì thường xuyên công tác truyền thông, kiểm tra công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng ngừa ngộ độc thực phẩm. Trong tháng 11/2018 không có vụ ngộ độc nào xảy ra.
- Công tác khám chữa bệnh: Các hoạt động khám chữa bệnh, thực hiện quy chế chuyên môn tại các bệnh viện, trạm y tế được duy trì tốt, đặc biệt khám chữa bệnh đối tượng chính sách, trẻ em dưới 6 tuổi.
- Chương trình phòng chống HIV/AIDS: Công tác truyền thông về phòng chống HIV/AIDS và các hoạt động can thiệp giảm tác hại cũng như hoạt động giám sát được ngành chức năng duy trì thường xuyên, duy trì các điểm điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone và điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con.
Tính luỹ tích đến hết tháng 10/2018, tổng số người nhiễm HIV/AIDS toàn tỉnh là 10.101 người, trong đó đã chuyển sang giai đoạn AIDS  là 6.734 người và 3.457 người đã tử vong do HIV/AIDS.
Riêng trong tháng 10/2018, do ngành chức năng đã thực hiện công tác tổng rà soát lại và tăng cường công tác quản lý những đối tượng nhiễm HIV/AIDS chưa được cập nhật trong hệ thống phần mềm để đưa vào danh sách quản lý phần mềm hệ thống; vì vậy, tháng 10/2018 đã bổ sung 200 người nhiễm HIV/AIDS, trong đó chuyển sang giai đoạn AIDS là 6 người và 2 người đã tử vong do HIV/AIDS.
- Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình: Hoạt động truyền thông về công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình được quan tâm triển khai thường xuyên. Tính đến hết tháng 10 năm 2018 toàn tỉnh có 13.716 trẻ được sinh ra, trong đó trẻ em nam là 7.218, trẻ em nữ là 6.498. Tỷ số giới tính khi sinh là 111 trẻ nam/100 trẻ nữ. Số trẻ  sinh ra là con thứ 3 trở lên là 1.318 trẻ (chiếm 9,6% tổng số trẻ mới sinh), tăng 16,2% với cùng kỳ; trong đó, huyện Phú Bình có 324 trẻ và là địa phương sinh con thứ 3 trở lên là cao nhất so với các địa phương khác; thành phố Thái Nguyên là 201 trẻ; huyện Đồng Hỷ 161 trẻ.
3. Giáo dục
Trong tháng 11/2018 Ngành chức năng đã tổ chức triển khai, thực hiện nghiêm túc khung kế hoạch thời gian năm học 2018-2019.
Tháng 11 các trường học trên địa bàn tỉnh đã tổ chức Lễ kỷ niệm và các hoạt động văn hóa thể thao nhằm tri ân và tôn vinh các nhà giáo và chào mừng 36 năm Ngày Nhà giáo Việt nam (20/11/1982-20/11/2018).
Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia được các cấp quan tâm, chỉ đạo nên đạt kết quả cao. Tính đến thời điểm 15/10/2018 toàn tỉnh có 548/675 trường đạt chuẩn quốc gia đạt tỷ lệ 81,19% vượt 5,19% so kế hoạch (kế hoạch đề án là 76%). Trong đó, Mầm non đạt 181/229 trường đạt tỷ 79,04%; Tiểu học đạt 215/224 trường, đạt tỷ lệ 95,98%; Trung học cơ sở đạt 135/190 trường (71,05%); THPT đạt 17/32 trường (53,13%).
4. Công tác bảo trợ xã hội và thực hiện chính sách người có công.
- Công tác Bảo trợ xã hội: Thực hiện trợ cấp hàng tháng 36.545 đối tượng bảo trợ xã hội tại 9 huyện, thành phố, thị xã. Bình quân mỗi tháng là 13,9 tỷ đồng.
- Thực hiện chính sách người có công: Thực hiện kịp thời, đầy đủ các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng; 100% bà mẹ Việt Nam anh hùng được phụng dưỡng; tổ chức thăm và tặng quà cho người có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018. Thăm tặng quà người có công dịp 27/7; Tổ chức đoàn đại biểu của tỉnh viếng, dâng hương tại Nghĩa trang liệt sĩ Thái Nguyên - Bắc Kạn thuộc nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn; dâng hương tại Đài tưởng niệm, nghĩa trang liệt sĩ của tỉnh. Vận động ủng hộ quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” các cấp. Tổ chức đưa đón 798 đối tượng Người có công đi điều dưỡng.
5. Tình hình an toàn giao thông
Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh Thái Nguyên, trong tháng 11/2018 trên địa bàn xảy ra 27 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 12 người chết và 25 người bị thương. So với cùng kỳ, tương đương về số vụ tai nạn; số người chết giảm 1 người (-14,29%) và số người bị thương tăng 2 người (+8,7%). Tình hình an toàn giao thông đường sắt, đường thủy ổn định, không xảy ra tai nạn giao thông.
Riêng thành phố Thái Nguyên đã xảy ra 10 vụ tại nạn giao thông, chiếm 37% tổng số vụ trên toàn tỉnh; làm 2 người chết và 09 người bị thương; so cùng kỳ số người chết giảm 2 người và số người bị thương tăng 6 người. Có 02 địa phương không xảy ra vụ tại nạn giao thông nào như: huyện Định Hóa, huyện Võ Nhai.
Trong tổng số 27 vụ tai nạn thì  có 10 vụ tai nạn liên quan đến ô tô (chiếm 37%), liên quan đến mô tô là 14 vụ (chiếm 51,9%) và liên quan đến phương tiện khác 03 vụ (chiếm 11,1%). Thiệt hại tài sản ước tính khoảng 532,6 triệu đồng.
 Trong tháng 11/2018 ngành chức năng đã kiểm tra lập biên bản xử lý vi phạm 4.066 trường hợp; tước 397 giấy phép lái xe; tạm giữ 130 xe ô tô, 506 xe mô tô; 08 phương tiện khác. Số tiền xử phạt 3,1 tỷ đồng. Đường thủy xử lý vi phạm 4 trường hợp, tổng tiền phạt là 750 nghìn đồng.
Tính chung 11 tháng 2018, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 158 vụ tai nạn giao thông, làm chết 64 người và 129 người bị thương. So với cùng kỳ năm 2017 số vụ tai nạn giảm 4 vụ (-2,46%), số người bị chết giảm 6 người
(-8,57%) và số người bị thương giảm 3 người (-2,27%). Trong đó,  địa bàn xảy ra nhiều vụ tai nạn nhất là thành phố Thái Nguyên với 69 vụ (chiếm 44% tổng số, tăng 12 vụ so cùng kỳ), làm 15 người chết (chiếm 23%, tương đương cùng kỳ) và 59 người bị thương (chiếm 45%, tăng 9 người bị thương so cùng kỳ); thị xã Phổ Yên có 24 vụ tai nạn (giảm 2 vụ, giảm 7,7%), có 15 người chết (tăng 1 người, tăng 7,14%) và 11 người bị thương (giảm 1 người, tương ứng giảm 8,33%). Địa phương xảy ra ít nhất tai nạn giao thông là huyện Võ Nhai và huyện Định hóa có từ 4-6 vụ tai nạn (chiếm khoảng 3%-4% tổng số vụ).
6.  Phòng chống cháy nổ
Các ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra phòng cháy, chữa cháy tại các cơ quan đơn vị trên địa bàn toàn tỉnh; qua kiểm tra đã nhắc nhở những thiếu sót trong phòng cháy chữa cháy và lập biên bản xử lý các trường hợp vi phạm nhằm hạn chế các vụ cháy, nổ xảy ra.
Trong tháng 11 năm 2018 trên địa bàn tỉnh xảy ra 21 vụ cháy, không có vụ nổ nào xảy ra, trong đó có 10 vụ cháy xảy ra tại Thành phố Thái Nguyên, 01 vụ cháy tại thị xã Phổ Yên, 02 vụ cháy tại huyện Phú Bình và 03 vụ xảy ra ở Thành Phố Sông Công, 04 vụ tại huyện Phú Lương, 01 vụ tại huyện Đại Từ.  Các vụ cháy xảy ra không có thiệt hại về người, làm 02 người bị thương. Giá trị tài sản thiệt hại ước tính khoảng 4 tỷ đồng.
Tính chung 11 tháng năm 2018, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 159 vụ cháy và 1 vụ nổ khí ga, không có thiệt hại về người và làm 3 người bị thương. Ước tính tổng giá trị tài sản thiệt hại khoảng 14,6 tỷ đồng.
7. Vi phạm môi trường
 Trong tháng 11 năm 2018 ngành chức năng trên địa bàn tỉnh đã kiểm tra và xử lý 7 vụ vi phạm môi trường xảy ra tại thành phố Thái nguyên, xử phạt thu nộp vào ngân sách Nhà nước 172 triệu đồng.
Tính chung trong 11 tháng 2018, các ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra và xử lý 57 vụ vi phạm môi trường. Nguyên nhân chủ yếu là do các cơ sở sản xuất kinh doanh không thực hiện quan trắc giám sát môi trường theo đề án bảo vệ môi trường được ngành chức năng phê duyệt. Tổng số tiền thu và nộp vào ngân sách nhà nước là 653,1 triệu đồng.
Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên dự ước tháng 11 và 11 tháng năm 2018.  
 
 
 

Nguồn tin: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây