Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 năm 2018 tỉnh Thái Nguyên

Thứ năm - 26/04/2018 15:58
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 năm 2018 tỉnh Thái Nguyên
A. KINH TẾ
I. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
1. Trồng trọt
- Cây lúa: Tổng diện tích gieo cấy lúa vụ Xuân 2018 đạt 29.956 ha, mặc dù giảm 1,1% (tương ứng giảm 325 ha) so với vụ Xuân 2017 nhưng vẫn vượt 3,4% kế hoạch đề ra. Vụ Xuân năm nay toàn bộ 9/9 đơn vị cấp huyện đều hoàn thành và vượt kế hoạch gieo cấy lúa. Tuy nhiên, nếu so với năm trước có 7/9 đơn vị cấp huyện có diện tích gieo trồng giảm; giảm nhiều nhất ở khu vực thành phố Thái Nguyên và huyện Phú lương, giảm trên 3,3% (tương ứng giảm trên 90 ha mỗi huyện) so với cùng kỳ; TP Sông Công giảm gần 3%; còn lại 4/7 đơn vị cấp huyện giảm từ 0,47% đến 1,21%; chỉ có 2 huyện diện tích gieo cấy tăng là huyện Võ Nhai đạt 1.626 ha lúa, tăng 4,8% (tương ứng tăng 74 ha) so với cùng kỳ và huyện Đồng Hỷ diện tích gieo cấy đạt 2.596 ha lúa, tăng  0,12% cùng kỳ.
Trong tổng diện tích gieo cấy lúa, diện tích gieo lúa lai là 3,7 nghìn ha, chiếm 12,5% diện tích gieo cấy, giảm 1,3 nghìn ha so với cùng kỳ; diện tích gieo cấy lúa thuần chất lượng cao đạt 3,9 nghìn ha, chiếm 13,2% diện tích gieo cấy; còn lại là các giống lúa khác. Hình thức gieo thẳng đạt khoảng 3,5 nghìn ha (tương đương cùng kỳ) và chiếm 11,5% diện tích gieo cấy.
Tình hình sâu bệnh trên cây lúa: Hiện nay một số diện tích lúa đã xuất hiện sâu bệnh gây hại, chủ yếu nhiễm bệnh khô vằn, các bệnh khác. Tuy nhiên chỉ xuất hiện rải rác với mật độ thấp, diện tích bị nhiễm bệnh khoảng 1,61 nghìn ha, trong đó có 1,53 nghìn ha nhiễm bệnh khô vằn (tập trung ở TP Thái Nguyên, Sông Công, thị xã Phổ Yên, Đại từ, Phú Lương và huyện Đồng Hỷ); bệnh đạo ôn lá diện tích nhiễm khoảng 44 ha; sâu đục thân khoảng 15 ha. Ngoài ra có khoảng 22 ha lúa bị chuột gây hại. Ngành chức năng luôn bám sát đồng ruộng và phát hiện, thông báo dịch bệnh kịp thời để chỉ đạo phòng trừ hiệu quả, đảm bảo năng suất cây trồng.
- Cây hàng năm khác: Diện tích cây màu các loại vụ Xuân 2018 đều giảm so với vụ Xuân 2017. Nguyên nhân do có sự chuyển dịch lao động trong khu vực nông nghiệp sang làm việc ở các khu vực phi nông nghiệp tăng cao; mặt khác hiệu quả kinh tế cây trồng vụ Xuân thấp hơn các ngành khác nên diện tích gieo trồng giảm. Tính đến hết tháng 4/2018 tổng diện tích cây màu vụ Xuân đạt 16 nghìn ha, giảm 4,2% (tương ứng giảm 704 ha) so với cùng kỳ và giảm ở hầu hết các cây trồng, chỉ có cây rau, đậu là tăng và vượt kế hoạch.
Cây hàng năm chủ yếu vụ Xuân là Cây ngô, cây lạc và rau đậu các loại chiếm 93% tổng số; trong đó, cây ngô gieo trồng đạt 7,4 nghìn ha bằng 103% kế hoạch, giảm 1,3% so cùng kỳ; cây lạc đạt 2,8 nghìn ha, giảm 9,3% cùng kỳ; cây rau đậu các loại đạt 4,6 nghìn ha, bằng 122% kế hoạch và tăng 3,9% so cùng kỳ; ngoài ra các cây hàng năm khác diện tích nhỏ lẻ như: cây khoai lang 701 ha, giảm 35,7% cùng kỳ; cây đỗ tương 398 ha, giảm 18,9%; cây thuốc lá 9 ha, giảm 57% so cùng kỳ... 
- Cây lâu năm: Thời tiết những tháng đầu năm nắng ấm, có mưa nên cây trồng phát triển tốt. Một số cây ăn quả như cây vải, xoài, nhãn...đang phát triển quả non; cây chè đang phát triển búp và cho thu hoạch.
Toàn tỉnh có 33 vườn ươm cây chè với tổng số hom được cắm 52,3 triệu hom, chủ yếu các giống LDP1, Kim Tuyên, TRI 777 và một số giống chè khác. Các địa phương đang triển khai rà soát và tiến hành cho các hộ dân đăng ký nhu cầu trồng mới và trồng thay thế chè năm 2018. Tính đến ngày 30/4/2018, các hộ dân đã đăng ký được khoảng 340 ha trên tổng 776 ha theo kế hoạch, trong đó huyện Đại Từ là 300 ha và Phổ Yên là 40 ha.
Tình hình sâu bệnh trên cây chè: Tổng diện tích bị nhiễm bệnh khoảng 700 ha (ít sâu bệnh hơn so với thời điểm cùng kỳ), trong đó rầy xanh 270 ha; bọ cánh tơ 200 ha; bọ xít muỗi 140 ha ngoài ra bệnh phồng lá, nhện đỏ gây hại thấp khoảng 70 ha. Ngành chức năng tiếp tục chỉ đạo các địa phương theo dõi và hướng dẫn phòng trừ các đối tượng sâu bệnh gây hại trên cây chè.
2. Chăn nuôi
Hiện nay tổng đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn phát triển bình thường, không có dịch bệnh xảy ra. Ngành chức năng thực hiện công tác tuyên truyền và hướng dẫn người chăn nuôi chăm sóc, theo dõi sức khỏe đàn vật nuôi trong điều kiện thời tiết nóng ẩm phức tạp, hướng dẫn kỹ thuật tiêm phòng cho mạng lưới thú y cơ sở, cách nhận biết và phòng chống một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm; tuyên truyền tính nguy hiểm bệnh dại và vận động người dân chủ động tiêm phòng bệnh dại cho đàn chó.
Hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh đã triển khai xong tiêm phòng vắc xin cho đàn gia súc, gia cầm Đợt I/2018. Các loại Vắc xin như tụ huyết trùng, lở mồm long móng trên đàn trâu, bò và lợn; vắc xin dịch tả lợn, tụ - dấu lợn, tai xanh…kết quả đạt khoảng 57% kế hoạch cả năm. Riêng tiêm vắc xin Dại cho đàn chó đạt 108,5 nghìn liều, bằng 66,2% kế hoạch cả năm (số liệu cùng kỳ, Đợt I/2017 đạt 121,6 nghìn liều, bằng 78,5% kế hoạch cả năm); vắc xin Lepto đạt 8 nghìn liều, bằng 100% kế hoạch cả năm.
Sau hơn một năm giá lợn giảm sâu khiến người chăn nuôi thua lỗ nặng.  Từ đầu năm 2018 đến nay chỉ số giá bán sản phẩm chăn nuôi của người sản xuất đạt quý sau tăng hơn quý trước, trong đó giá thịt gà hơi không giảm mà tăng cao so với năm trước nên người chăn nuôi gà có nhiều thuận lợi hơn. Đặc biệt trong tháng 4/2018 giá thịt lợn hơi có xu hướng tăng cao so với cùng kỳ. Giá bán thịt lợn hơi tháng 4/2018 tăng 20,7% so với cùng kỳ, thịt gà ta tăng 10,7% và gà công nghiệp tăng 35,5% so với cùng kỳ. Nguyên nhân giá lợn tăng là do hiệu quả thấp nên nhiều trang trại, gia trại đã bỏ trống chuồng, nguồn cung giảm. Mặc dù giá bán đã tăng nhưng người dân vẫn lo ngại trong việc đầu tư tái đàn.
Dự ước số lượng gia súc, gia cầm trên địa bàn đến thời điểm ngày 30/4/2018 như sau: đàn trâu dự ước khoảng 58 nghìn con, giảm 6% so với cùng kỳ; đàn bò khoảng 45,2 nghìn con, tăng 2,2% so cùng kỳ; đàn lợn khoảng 668 nghìn con, giảm 1,8% cùng kỳ; đàn gia cầm khoảng 11 triệu con, tăng 1% so cùng kỳ, trong đó đàn gà khoảng 10,2 triệu con, tăng 5,2% so cùng kỳ do giá bán ổn định, tốc độ quay vốn nhanh và dễ tiêu thụ sản phẩm.
3. Lâm nghiệp
Công tác trồng rừng: Các địa phương đang triển khai thực hiện các hạng mục tư vấn thiết kế, chuẩn bị các điều kiện về cây giống, phân bón, kiểm tra, nghiệm thu kết quả sản xuất cây con giống phục vụ cho công tác trồng rừng năm 2018. Đã chuẩn bị hiện trường cho trồng rừng được 3,2 nghìn ha; cuốc hố đạt 2,1 nghìn ha trên tổng 3.040 ha kế hoạch 2018 về địa phương trồng rừng tập trung theo chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững. Hiện nay các địa phương đã triển khai trồng mới rừng tập trung với diện tích khoảng 530 ha.   
Tình hình khai thác lâm sản: Bốn tháng đầu năm 2018, ước tính sản lượng gỗ khai thác đạt 46 nghìn m3 gỗ các loại, tăng 3,6% so với cùng kỳ; khai thác củi đạt 54,4 nghìn ste, tăng 5% so cùng kỳ. Riêng tháng 4 khai thác ước đạt 10,1 nghìn m3 gỗ các loại, tăng 3% so với cùng kỳ.
Công tác quản lý bảo vệ rừng: Trong tháng 4 năm 2018 không xảy ra cháy rừng.  Tính hết quý I/2018 ngành chức năng đã xử lý 77 vụ vi phạm luật Bảo vệ và phát triển rừng (giảm 15%) so cùng kỳ; tịch thu 130 m3 gỗ quy tròn các loại; 13 phương tiện và thu nộp ngân sách nhà nước 412 triệu đồng, giảm 26% so quý I/2017. Ngoài ra ngành chức năng chú trọng các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng, đặc biệt chú ý công tác phòng cháy, chữa cháy rừng khi người dân xử lý thực bì để trồng rừng.
4. Thủy sản
Các địa phương tiếp tục chăm sóc, thu hoạch thủy sản thương phẩm, thả cá giống. Tính chung từ đầu năm đến nay sản xuất cá bột đạt khoảng 160 triệu con, cá giống đạt 3,6 triệu con. Sản lượng thủy sản thương phẩm ước đạt 4,2 nghìn tấn, tăng 5% so cùng kỳ.
II. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số tiêu thụ sản phẩm công nghiệp trong tháng 3/2018 tăng 41,1% so với cùng kỳ và chỉ số tồn kho giảm 16,8% đã thúc đẩy nhịp độ sản xuất công nghiệp trong tháng 4/2018. Cụ thể lượng tồn kho của các đơn vị sản xuất công nghiệp tính đến đầu tháng 4/2018 như sau: điện thoại thông minh và máy tính bảng tồn kho 0,7 nghìn sản phẩm, giảm 2,1 triệu sản phẩm so với tồn kho tháng trước và giảm 51% so với tồn kho cùng kỳ; sản phẩm may tồn 5,6 triệu sản phẩm, giảm 15,3% so với cùng kỳ; xi măng tồn 51,4 nghìn tấn, giảm 16,6% cùng kỳ nhưng tăng 14,5% so với tồn kho tháng trước. Riêng mặt hàng sắt thép tồn 206 nghìn tấn, tăng 48% so với cùng kỳ và tăng 24% so với tháng trước nhưng chỉ số tiêu thụ dự ước tháng 4/2018 khá tốt do nhu cầu thị trường đang tăng. 
Với nhịp độ tiêu thụ và tồn kho như trên dự ước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tháng 4/2018 tăng 35,5% so với tháng trước và tăng 8,4% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 36,6% so với tháng trước, tăng 8,2% so với cùng kỳ (chủ yếu tăng cao ở  nhóm các sản phẩm như điện tử, máy vi tính; sản xuất kim loại; sản xuất trang phục, chế biến gỗ, than và giấy); ngành công nghiệp khai khoáng tăng 9,2% so tháng trước và tăng 16,04% so với cùng kỳ; sản xuất và phân phối điện tăng tăng 2,4% so với tháng trước, tăng  16,8% cùng kỳ; ngành cung cấp nước, quản lý, xử lý rác thải, nước thải tăng tăng 4,8% so với cùng kỳ.
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất tháng 4/2018: Nhóm sản phẩm sản xuất ước tính tăng từ 20% trở lên so với cùng kỳ là: sắt thép các loại đạt 141,6 nghìn tần, tăng 65,2%; sản phẩm may 6,8 triệu sản phẩm, tăng 51,7%; than khai thác 147,5 nghìn tấn, tăng 47,5%; điện sản xuất 158 triệu Kwh, tăng 25,5%; máy tính bảng 1,84 triệu sản phẩm, tăng 20%; thiết bị và dụng cụ khác trong y khoa 151 triệu cái, tăng 92,8% cùng kỳ; chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ tăng 24,8% (trong đó dăm gỗ đạt 2,1 nghìn tấn, tăng 51,6% cùng kỳ)… Riêng sản phẩm điện thoại thông minh các loại đạt 9,13 triệu sản phẩm, tăng 6,6% (trong đó sản xuất đang có xu hướng tăng ở nhóm điện thoại tầm trung có giá từ 3 triệu đồng/1 sản phẩm trở lên đạt 6 triệu cái, tăng 63% so tháng trước, tăng 15,4% so cùng kỳ và giảm 8,1% về số lượng ở nhóm điện thoại có giá dưới 3 triệu đồng/1 sản phẩm).
Các sản phẩm sản xuất trong tháng tăng thấp hoặc giảm hơn so với cùng kỳ là: đồng tinh quặng (Cu>20%) đạt 3,3 nghìn tấn, tăng 4,8%; nước máy thương phẩm đạt 2,8 triệu m3, tăng 0,9%; điện thương phẩm đạt 360 triệu Kwh, giảm 2,5%; Vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 1,7 nghìn tấn, giảm 5,1%; xi măng đạt 178 nghìn tấn, giảm 11,5%; gạch xây dựng bằng gốm, sứ đạt 6,1 triệu viên, giảm 35,5% cùng kỳ...
Tính chung 4 tháng đầu năm 2018 chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 12,1% so với cùng kỳ năm 2017; trong đó, nhóm ngành công nghiệp chế biến và chế tạo tăng 12,1% (tăng cao nhất là chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ tăng 51,5%; sản xuất trang phục tăng 24,3%; sản xuất sản phẩm điện tử tăng 12,7%); nhóm ngành khai khoáng tăng 10,8%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 12,3%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,7% so cùng kỳ.
Sản phẩm công nghiệp sản xuất 4 tháng đầu năm 2018, nhóm sản phẩm công nghiệp chủ yếu đạt sản lượng tăng từ 5% trở lên so với cùng kỳ năm 2017 là: than khai thác đạt 514 nghìn tấn, tăng 26,9%; sản phẩm may đạt 22,9 triệu sản phẩm, tăng 24,3%; sắt thép các loại đạt 518 nghìn tấn, tăng 14,1%; đồng tinh quặng (Cu>20%) đạt 13,2 nghìn tấn, tăng 11,9%; thiết bị và dụng cụ khác trong y khoa 500 triệu sản phẩm, tăng 85,3%; tai nghe 18,4 triệu cái, tăng 28,7%; nước máy thương phẩm đạt 10,9 triệu m3, tăng 6,8%; điện thương phẩm đạt 1.408 triệu Kwh, tăng 6,2% ...
Riêng nhóm sản phẩm điện thoại và máy tính bảng ước đạt 36,64 triệu sản phẩm, giảm 4,5% cùng kỳ và bằng 26,6% kế hoạch cả năm (trong đó, điện thoại thông minh ước đạt 30,32 triệu sản phẩm, giảm 3,8%; máy tính bảng 6,32 triệu sản phẩm, giảm 7,8%). Số lượng sản phẩm giảm toàn bộ là ở nhóm điện thoại có giá dưới 3 triệu đồng/1 sản phẩm, ước tính 4 tháng đầu năm 2018 sản xuất đạt 13,2 triệu cái, giảm 25,8%; điện thoại có giá từ 3 triệu đến dưới 6 triệu đồng đạt 9,1 triệu cái, tăng 13,8% và sản xuất tăng cao ở nhóm điện thoại có giá trên 6 triệu đồng/1 sản phẩm, ước đạt 8 triệu cái, tăng 44,1% cùng kỳ và đóng góp lớn vào tốc độ tăng chung của ngành công nghiệp.
Nhóm các sản phẩm dự ước sản xuất 4 tháng 2018 tăng dưới 5% hoặc giảm so với cùng kỳ là: xi măng 650,5 nghìn tấn, giảm 1,6%; Vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 6,1 nghìn tấn, giảm 14,1%; gạch xây dựng bằng gốm sứ 20,6 triệu viên, giảm 15% và bằng 7,4% kế hoạch.
III. Thu, chi ngân sách
1. Thu ngân sách nhà nước
Các tháng đầu năm 2018 ngành chức năng tập trung hướng dẫn doanh nghiệp kê khai thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp cho kỳ quyết toán cả năm 2017; triển khai công tác giám sát kê khai, nộp thuế ngay từ đầu năm; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế; phối hợp đẩy mạnh công tác kiểm tra liên ngành… nên nhìn chung thu ngân sách trên địa bàn đạt cao so dự toán và vượt tiến độ thu bình quân cùng kỳ hàng năm.
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh lũy kế Ba tháng đầu năm 2018 đạt 3.715,3 tỷ đồng, tăng 1% so với cùng kỳ và bằng 28,3% so với dự toán cả năm. Trong đó, thu trong cân đối đạt 3.706 tỷ đồng, tăng 0,7% so cùng kỳ, bằng 28,3% dự toán năm; thu quản lý qua ngân sách đạt 9,3 tỷ đồng.
Trong tổng thu cân đối, thu nội địa đạt 3.022,5 tỷ đồng, giảm 1,9% so với cùng kỳ và bằng 30,5% so với dự toán; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 683,5 tỷ đồng, tăng 13,8% so với cùng kỳ, bằng 21,4% so với dự toán cả năm 2018.
Trong thu nội địa, có 6/14 khoản thu tăng so với cùng kỳ, trong đó thu khác ngân sách đạt 71,6 tỷ đồng, gấp 3,3 lần  so cùng kỳ và bằng 43,4% dự toán cả năm; thu cấp quyền khai thác khoáng sản đạt 108,1 tỷ đồng, gấp 2,1 lần cùng kỳ và bằng 77,2% dự toán năm; thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đạt 379 triệu đồng, gấp 1,8 lần cùng kỳ và bằng 3,2% dự toán cả năm; thu từ hoạt động xổ số kiến thiết đạt 2,8 tỷ đồng, tăng 7,8% so cùng kỳ, bằng 23,2% dự toán cả năm; đóng góp nhiều nhất vào thu nội địa 3 tháng đầu năm 2018 là thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 942,6 tỷ đồng, tăng 7,6% (chiếm  tỷ trọng 25,3%) và bằng 29,7% dự toán cả năm. Các khoản thu giảm so với cùng kỳ nhưng vẫn đạt trên 30% dự toán cả năm như: thu từ khu vực dịch vụ ngoài quốc doanh 528,4 tỷ đồng, giảm 10% cùng kỳ và bằng 35,7% dự toán; thuế thu nhập cá nhân 455,6 tỷ đồng, giảm 11,3% cùng kỳ, bằng 40,3% dự toán. Các khoản thu giảm và đạt dưới 30% dự toán là: thu phí, lệ phí; thuế bảo vệ môi trường; thu từ doanh nghiệp nhà nước trung ương và địa phương; thu từ tiền cho thuê đất và thu cấp quyền sử dụng đất…
2. Chi ngân sách địa phương
Tổng chi ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh Ba tháng đầu năm 2018 đạt 2.131 tỷ đồng, tăng 27,2% so với cùng kỳ và bằng 15,4% dự toán cả năm, trong đó chi cân đối ngân sách địa phương đạt 2.039 tỷ đồng tăng 25% so cùng kỳ và bằng 16,8% dự toán cả năm; chi chương trình mục tiêu quốc gia đạt 91,8 tỷ đồng, gấp hơn 2 lần so cùng kỳ, bằng 5,4% dự toán cả năm.
Trong chi cân đối ngân sách địa phương, chi đầu tư phát triển đạt 359,4 tỷ đồng, tăng 12% so cùng kỳ, bằng 15,2% dự toán cả năm; chi thường xuyên đạt 1.679,8 tỷ đồng, tăng 28,3% so cùng kỳ, bằng 21,3% dự toán năm.
Trong tổng chi thường xuyên có 9/11 khoản chi tăng so cùng kỳ như: chi lớn nhất là chi sự nghiệp giáo dục đào tạo và dạy nghề đạt 675,3 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 40,2%), tăng 26,6% so cùng kỳ, bằng 20,2% dự toán cả năm; chi quản lý hành chính đạt 372,6 tỷ đồng (chiếm  tỷ trọng 22,1%), tăng 9,4% so cùng kỳ, bằng 24,8% dự toán năm; chi sự nghiệp khoa học và công nghệ đạt 18,1 tỷ đồng, tăng 2,5% so cùng kỳ nhưng bằng 65,3% dự toán cả năm; chi bảo vệ môi trường đạt 69,8 tỷ đồng, bằng 6,4 lần so cùng kỳ; chi sự nghiệp phát thanh truyền hình đạt 16,9 tỷ đồng, gấp 2 lần so cùng kỳ. Có 2/11 khoản chi thấp hơn so với cùng kỳ là: chi quốc phòng an ninh đạt 47 tỷ đồng, giảm 7% cùng kỳ và chi khác của ngân sách đạt 7 tỷ đồng, giảm 63,2% cùng kỳ.
IV. Thương mại, dịch vụ, giá cả
1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn tỉnh tháng 4 năm 2018 ước đạt 2.566 tỷ đồng, tăng 2,3% so với tháng trước, tăng 12,2% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 174 tỷ đồng, tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 16,4% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 2.382,4 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 92,8% thị phần bán lẻ), tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 11,9% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 9,6 tỷ đồng, tăng 3,1% so với tháng trước và tăng 8,9% so với cùng kỳ.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2018 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước đạt 10.360 tỷ đồng, tăng 12,1% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước 694,4 tỷ đồng, tăng 14,4%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 9.628,6 tỷ đồng (chiếm 92,9%), tăng 12%. Còn lại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 37,3 tỷ đồng, tăng 7,7% so với cùng kỳ.
Nếu chia theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ 4 tháng đầu năm 2018 ước đạt 8.360 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 80,5%), tăng 13,3% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 872,5 tỷ đồng (chiếm 8,6% trong tổng mức), tăng 7,9% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ tiêu dùng còn lại ước đạt 1.114 tỷ đồng (chiếm 10,8% tổng số), tăng 7% so với cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành đạt 13,8 tỷ đồng, tăng 7,3% so với cùng kỳ.
Trong cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hóa 4 tháng đầu năm 2018, nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 2.639 tỷ đồng (chiếm 31,6% trong tổng mức bán lẻ), tăng 13,4% so với cùng kỳ; nhóm xăng dầu các loại ước đạt 973 tỷ đồng (chiếm 11,6% trong tổng mức bán lẻ), tăng 9,8%; nhóm đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình ước đạt 954 tỷ đồng, tăng 12,3%; nhóm ô tô các loại ước đạt 873 tỷ đồng, tăng 14%; nhóm hàng may mặc đạt 669 tỷ đồng, tăng 18,5%; nhóm phương tiện đi lại ước đạt 592 tỷ đồng, tăng 14,2%; mặt hàng đá quý, kim loại quý 169 tỷ đồng, tăng 15,6% so với cùng kỳ…
2. Giá tiêu dùng
Tháng 4/2018 do tác động tăng giá của nhóm xăng dầu và nhóm hàng ăn, dịch vụ ăn uống nên chỉ số giá tiêu dùng tính chung trên địa bàn tăng 0,24% so với tháng trước; tăng 1,97% so với cùng kỳ; tăng 1,17% so với tháng 12/2017. Bình quân 4 tháng đầu năm tăng 1,31% so với bình quân cùng kỳ.
So với tháng trước, có 7/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng.  Nhóm có chỉ số giá tăng cao nhất là giao thông tăng 0,65% (do giá xăng dầu tăng 2,7%; giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 0,16%); tiếp đến là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,45% (do giá lương thực tăng 0,31%, giá thịt lợn tăng 1,91%; giá thịt gia cầm tươi sống tăng 1,68%; giá mỡ ăn tăng 8,8%; trong khi đó giá rau tươi, khô và chế biến vào vụ thu hoạch nên giảm 3,78% so tháng trước); nhóm giáo dục tăng 0,43% (do giá vở, bút viết các loại tăng); nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng nhẹ trong khoảng từ 0,19% đến 0,23% như nhóm văn hóa và giải trí tăng 0,19% (do giá du lịch trọn gói  trong nước tăng 4,39%, giá khách sạn nhà nghỉ tăng 0,61%), nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,23% (do giá dịch vụ về hiếu tăng 2,74%); còn 02 nhóm tăng nhẹ trong khoảng từ 0,04% đến 0,07% như nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình; nhóm thuốc và dịch vụ y tế. Có 3/11 nhóm hàng hóa tương đương tháng trước là nhóm đồ uống và thuốc lá; nhóm may mặc, giày dép, mũ nón; nhóm bưu chính viễn thông. Có 01 nhóm có chỉ số giá giảm là nhóm  nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,24%.
So với cùng kỳ (tháng 4/2017), chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2018 tăng 1,97%. Có 10/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, trong đó nhóm chỉ số giá tăng cao nhất là nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,78% (do giá dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 6,8%; nhóm về hiếu tăng 11,86%); nhóm giao thông tăng 4,94% (do giá xăng, dầu tăng 13,27%; dầu mỡ nhờn tăng 2,34%; dịch vụ giao thông công cộng tăng 0,52%);  nhóm giáo dục tăng 3,56% (do giá văn phòng phẩm tăng 5,24%; dịch vụ giáo dục tăng 3,19%); Nhóm nhà ở điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,55% (do giá nhà ở thuê tăng 2,6%, do giá vật liệu bảo dưỡng nhà tăng 4,13%; dịch vụ và sửa chữa nhà ở tăng 8,86%, giá nước sinh hoạt và dịch vụ nước tăng 7,67%), nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng trong khoảng 0,9% đến 1,32% như: nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,9%;  nhóm văn hóa, giải trí và dịch vụ khác tăng 1,32%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,18%; nhóm may mặc, giày dép và mũ nón tăng 1,31%. Còn lại 1 nhóm có chỉ số giá giảm 0,19% như là nhóm  bưu chính viễn thông, giảm do giá máy điện thoại di động giảm 1,13%.
So với tháng 12/2017, chỉ số giá tiêu dùng tăng 1,17%. Có 9/11 nhóm  hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng. Tăng nhiều nhất là nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,86% (do giá về đồ trang sức 4,83%; giá hiếu hỉ tăng 6,37%); nhóm tiếp theo có chỉ số giá tăng là nhóm giao thông tăng 2,31% (do giá nhiên liệu tăng 4,57%); nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,1% (do giá gạo tăng 5,39%; giá thịt gia súc tươi sống 3,7%; thịt gia cầm tăng 2,09%,  thủy sản tươi sống tăng 5,83%); còn lại 6/11 nhóm hàng tăng nhẹ trong khoảng 0,07% đến 0,72% như: nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,07%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,45%; nhóm  giáo dục tăng 0,47%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,32%; nhóm nhà và vật liệu xây dựng tăng 0,71%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,72%. Có 01 nhóm có chỉ số giá giảm như nhóm may mặc, giày dép và mũ nón, giảm 0,6% (do giá quần áo may sẵn giảm 0,9%; may mặc khác và mũ nón giảm 0,42%). Có 1/11 nhóm hàng hóa tương đương tháng trước là nhóm bưu chính viễn thông.
 Chỉ số giá vàng: chỉ số giá vàng tháng 4/2018 tăng 0,3% so với tháng trước và tăng 5,69% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 4 tháng đầu năm 2018 tăng 7,31% so bình quân cùng kỳ.
Chỉ số giá Đô la Mỹ: Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 4/2018 tăng 0,15% so tháng trước , tăng 0,33 so với cùng kỳ và bình quân 4 tháng đầu năm 2018 tăng 0,13% so với cùng kỳ.
3. Xuất, nhập khẩu
a. Xuất khẩu
Xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn 2 tháng gần đây đạt cao. Tổng giá trị xuất khẩu tháng 4/2018 ước đạt 2,56 tỷ USD, tăng 3,6% so với cùng kỳ và tăng 3% so với tháng trước. Trong đó, giá trị xuất khẩu khu vực trong nước ước đạt 31,7 triệu USD, giảm 0,3% so với tháng trước, tăng 39% so với cùng kỳ (chủ yếu tăng ở mặt hàng may mặc và kim loại màu). Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 2,53 tỷ USD, tăng 3,1% so với tháng trước và tăng 3,3% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 98,8% tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn.
Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu tháng 4/2018 tăng cao so với cùng kỳ là: giấy và sản phẩm từ giấy đạt 453 nghìn USD, tăng 59,4%; kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 24,2 triệu USD, tăng 33,9%; phụ tùng vận tải đạt 380 nghìn USD, tăng 33,3%; linh kiện điện tử và phụ tùng khác đạt 514 triệu USD, tăng 11,1%... Một số mặt hàng xuất khẩu khác tăng thấp hoặc giảm hơn so với cùng kỳ là: nhóm sản phẩm điện thoại thông minh và máy tính bảng đạt 8,5 triệu sản phẩm với giá trị đạt 2 tỷ USD, giảm 7,7% về lượng nhưng tăng 1,7% về giá trị; sản phẩm may đạt 17,6 triệu USD, tăng 1,4%; sản phẩm từ sắt thép đạt 4,6 triệu USD, giảm 2,9%...
Tính chung 4 tháng đầu năm 2018 giá trị xuất khẩu trên địa bàn ước đạt 8,86 tỷ USD, tăng 19,6% so với cùng kỳ và bằng 35,5% kế hoạch cả năm. Trong đó, xuất khẩu tăng chủ yếu ở các nhóm mặt hàng như: Điện thoại các loại và linh kiện đạt 8,68 tỷ USD, tăng 19,8% cùng kỳ (bao gồm điện thoại thông minh đạt 28,8 triệu sản phẩm với giá trị đạt 5,97 tỷ USD, giảm 5,9% về lượng nhưng tăng 18,9% về giá trị; máy tính bảng đạt 6,7 triệu sản phẩm với giá trị đạt 0,98 tỷ USD, giảm 0,2% về lượng nhưng tăng 6,3% về giá trị;  linh kiện điện tử và phụ tùng khác đạt 1,73 tỷ USD, tăng 32,9% cùng kỳ); kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 84,9 triệu USD, tăng 24,9%; giấy và các sản phẩm từ giấy đạt 1,1 triệu USD, tăng 16,5%; phụ tùng vận tải đạt 1,6 triệu USD, tăng 15,5%; hàng dệt, may đạt 67,5 triệu USD, tăng 4,5% cùng kỳ… Nhóm mặt hàng xuất khẩu giảm so với cùng lỳ là: Quặng sắt 0,3 triệu USD, giảm 34%; gỗ 0,6 triệu USD, giảm 46,6%; sản phẩm từ sắt thép đạt 16,3 triệu USD, giảm 3,6% và chè các loại đạt 308 tấn với giá trị đạt 454 nghìn USD, giảm 58% về lượng và giảm 65,7% về giá trị so với cùng kỳ…
b. Nhập khẩu
Tổng giá trị nhập khẩu tháng 4/2018 trên địa bàn ước đạt 1,5 tỷ USD, tăng 7,5% so với tháng trước nhưng giảm 6,3% so với cùng kỳ (do hầu hết các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tháng giảm). Khu vực kinh tế trong nước ước đạt 6,3 triệu USD, giảm 3,8% so với tháng trước, và giảm 63,2% cùng kỳ. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,49 tỷ USD, tăng 7,5% so với tháng trước nhưng giảm 5,7% so với cùng kỳ.
Mặt hàng nhập khẩu tháng 4/2018 chỉ có một số mặt hàng nhập khẩu giá trị nhỏ đạt cao hơn so với cùng kỳ là: chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 11,3 triệu USD, tăng 10% so với tháng trước nhưng gấp 17 lần cùng kỳ; giấy các loại đạt 0,63 nghìn USD, gấp 12 lần cùng kỳ... Còn lại các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu khác giảm so với cùng kỳ là: nguyên liệu và linh kiện điện tử đạt 1,47 tỷ USD, giảm 4,8%; vải và nguyên phụ liệu dệt may đạt 7 triệu USD, giảm 41,4%; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 2 triệu USD, giảm 53,8%...
Tính chung 4 tháng đầu năm 2018, tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn ước đạt 5,36 tỷ USD, tăng 15,1% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước ước đạt 44,1 triệu USD, giảm 29,5% so với cùng kỳ. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 5,31 tỷ USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 99,2% tổng giá trị nhập khẩu.
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu 4 tháng 2018 tăng từ 10% trở lên so với cùng kỳ là: nguyên liệu và linh kiện điện tử đạt 5,25 tỷ USD, tăng 16,4%; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 31 triệu USD, gấp 3,4 lần; giấy các loại đạt 2,1 triệu USD, tăng 53,7%; nguyên, phụ liệu dệt may đạt 6,2 triệu USD, tăng 28,3% … Nhóm mặt hàng nhập khẩu giảm so với cùng kỳ như: vải các loại đạt 31,9 triệu USD, giảm 9,6%; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 8,9 triệu USD, giảm 52,4%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 13,1 triệu USD, giảm 58,8% so với cùng kỳ; sản phẩm từ sắt thép 8,6 triệu USD, giảm 72,8% cùng kỳ…
4. Vận tải
Hoạt động vận tải hàng hóa và hành khách trên địa bàn vẫn được duy trì ổn định, đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đi lại của nhân dân.
- Vận tải hành khách: Số lượng hành khách vận chuyển tháng 4/2018 ước đạt 1,5 triệu lượt hành khách với khối lượng luân chuyển là 86,8 triệu hành khách.km, so với tháng trước tăng 12% cả về số lượt hành khách vận chuyển và hành khách luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 9,1% về số lượt hành khách vận chuyển và tăng 8,9% về số hành khách luân chuyển.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2018 số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 5,8 triệu lượt người với số lượt luân chuyển là 335 triệu lượt.km, so với cùng kỳ, tăng 8,2% về số hành khách vận chuyển và tăng 7,9% về số hành khách luân chuyển.  
- Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 4/2018 ước đạt 3,1 triệu tấn với khối lượng luân chuyển ước đạt 124,7 triệu tấn.km; so với tháng trước tăng 7,2% về số hàng hóa vận chuyển và tăng 7,3% về số lượng hàng hóa luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 8,2% số hàng hóa vận chuyển và tăng 8,9% số hàng hóa luân chuyển. Tính chung 4 tháng đầu  năm 2018 khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 12,3 triệu tấn với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 497,6 triệu tấn.km, so với cùng kỳ, tăng 6,9% về khối lượng vận chuyển và tăng 7,3% về khối lượng luân chuyển.
Tổng doanh thu vận tải trên địa bàn tháng 4/2018 ước đạt 308,3 tỷ đồng, tăng 8,2% so với tháng trước và tăng 8,9% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 59,3 tỷ đồng, tăng 12,2% so tháng trước và tăng 9% so cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 234 tỷ đồng,  tăng 9% so với tháng trước và tăng 7,3% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 15,1 tỷ đồng, tăng 7% so với tháng trước và tăng 8,2% so với cùng kỳ.
Tính chung doanh thu vận tải 4 tháng đầu năm 2018 ước đạt 1.222,6 tỷ đồng, tăng 7,3% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải  hàng hóa ước đạt 934,4 tỷ đồng (chiếm 76,4% tổng số), tăng 7,4% cùng kỳ; vận tải hành khách ước đạt 229 tỷ đồng, tăng 8,1% và doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 59,2 tỷ đồng, tăng 2,3%.
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Tình hình thực hiện chính sách xã hội, giảm nghèo và cứu trợ xã hội
- Công tác thực hiện chính sách xã hội, giảm nghèo và đối tượng bảo trợ xã hội: Ngành chức năng hướng dẫn các ngành, các cấp thiết thực hưởng ứng Ngày người khuyết tật Việt Nam 18/4, trong đó đã phối hợp Quỹ thiện tâm và Hội Chữ thập đỏ tỉnh triển khai Chương trình tài trợ phẫu thuật cho hộ nghèo, khó khăn tại hệ thống Bệnh viện Đa khoa Vinmec. Hướng dẫn các địa phương thực hiện Dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo năm 2018 tại địa bàn các xã thuộc Chương trình 135 và các xã ngoài Chương trình 135.
- Thực hiện chính sách người có công: Triền khai thực hiện đề án cổng thông tin điện tử về liệt sỹ, mộ liệt sỹ và nghĩa trang liệt sỹ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
 Các ngành chức năng đã phối hợp rà soát 08 hồ sơ đề nghị cấp trên xét tặng, truy tặng đối với danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, trong đó đủ điều kiện là 02 trường hợp; xét đề nghị tặng thưởng Huân chương Độc lập đối với 01 gia đình của huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên.
2. Lao động, việc làm và An toàn lao động
Trong tháng đã tiếp nhận, thẩm định chấp thuận cho 21 lượt đơn vị được sử dụng lao động là người nước ngoài; cấp giấy phép lao động cho 20 lao động nước ngoài, trong đó cấp mới 13 trường hợp và cấp lại 7 trường hợp; xác nhận 2 trường hợp không thuộc diện phải cấp giấy phép lao động.
Tiếp nhận hồ sơ giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho 388 người; ban hành Quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 226 người.
Tổ chức kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về An toàn, vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ năm 2018. Chuẩn bị các điều kiện để tổ chức Lễ phát động và triển khai các hoạt động trong Tháng hành động về an toàn vệ sinh lao động năm 2018.
3. Hoạt động văn hoá, thể thao và du lịch
Trong tháng 4/2018, trên địa bàn tổ chức các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, triển lãm, thể thao nhân dịp giỗ tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch), kỷ niệm 43 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2018), Quốc tế lao động (1/5) tạo không khí vui tươi, sôi nổi trong đời sống tinh thần của nhân dân các dân tộc. Bên cạnh đó tỉnh đã tổ chức Khai mạc Mùa Du lịch với chủ đề "Trải nghiệm du lịch bền vững văn hóa, lịch sử - sinh thái” và chuẩn bị cho Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Thái Nguyên lần thứ VIII/2018 với các môn như: bóng chuyền, bóng chuyền hơi; cầu lông; cờ vua, cờ tướng; quần vợt, bóng đá Bóng đá trong nhà (Futsal), bắn nỏ, kéo co, đẩy gậy, điền kinh.
Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm: Ngành chức năng cấp tỉnh đã tiến hành kiểm tra việc thực hiện quảng cáo của 05 cơ sở, 01 buổi biểu diễn nghệ thuật trên địa bàn thành phố Thái Nguyên. Tại các huyện, thành phố, thị xã đã tổ chức kiểm tra các cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hoá, du lịch nhằm đã chấn chỉnh kịp thời các hành vi sai phạm, góp phần tích cực đưa các cơ sở kinh doanh hoạt động theo đúng quy định
Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: Xây dựng kế hoạch bổ sung sưu tầm tài liệu, hiện vật, khai thác thông tin tư liệu về Đại đội 915 tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Bảo tàng Lịch sử quốc gia, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Sưu tầm ảnh, xây dựng đề cương  chuẩn bị tổ chức triển lãm với chủ đề "Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phòng dân tộc Việt Nam, nhà văn hóa kiệt xuất". Hoàn thiện công tác sưu tầm hiện vật đợt I/2018 với 93 tài liệu hiện vật; phục vụ 1.100 lượt khách tham quan trong đó có 13 lượt khách nước ngoài. Tiếp tục thực hiện đề án “Bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020”, gồm: Khảo sát thực địa, xây dựng báo cáo khoa học, kế hoạch, chương trình đưa phường Rối Cạn của người Tày huyện Định Hoá biểu diễn lâu dài tại Làng văn hóa du lịch cộng đồng Bản Quyên phục vụ du khách.
Tổ chức 10 buổi biểu diễn nghệ thuật (02 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị; 08 buổi phục vụ đối tượng chính sách và các xã đặc biệt khó khăn). Tổ chức thành công Ngày hội sách và văn hóa đọc tỉnh Thái Nguyên lần V/2018 với chủ đề “Sách với gia đình”,  thu hút trên 2.000 lượt bạn đọc và nhân dân đến tham gia. Các huyện, thành phố, thị xã tổ chức Hội thi “Thiếu nhi kể chuyện theo sách”.
Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở: Thực hiện 06 buổi tuyên truyền tại chỗ và cơ sở. Xây dựng kế hoạch, khảo sát xây dựng điểm mô hình, mẫu hình hoạt động văn hóa văn nghệ, nhà văn hóa; tổ chức tập huấn nghiệp vụ;  chuẩn bị tham gia giao lưu văn hoá trà tại lễ hội Đền Hùng. Phục vụ tổ chức các hoạt động (Đại hội Liên đoàn lao động tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2018-2023; kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống ngành xây dựng Việt Nam); duy trì hoạt động của các Câu lạc bộ văn hoá, thể thao. Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng Nông thôn mới được duy trì, ban hành kế hoạch thực hiện các hoạt động thuộc "Đề án tuyên truyền, giáo dục đạo đức lối sống trong gia đình Việt Nam giai đoạn 2010-2020"; đẩy mạnh việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang. Các địa phương đã tăng cường thực hiện phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa; xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, nông thôn mới.
Lĩnh vực thể thao: Tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo 161 học sinh năng khiếu hệ nội trú, 40 học sinh bán trú. Tham gia thi đấu đạt 24 huy chương các loại (11HCV, 08 HCB, 05 HCĐ) tại giải vật nữ Đông Nam Á, cờ vua Châu Á, cử tạ thiếu niên toàn quốc; 01 cờ Nhì đồng đội nữ (cử tạ); 02 cúp (cờ vua, vật nữ).
Thể thao thành tích cao: Các đội tuyển, thể thao thành tích cao (vật nam, nữ; kích boxing, đua thuyền, wushu, bóng đá, bóng chuyền) duy trì công tác quản lý, huấn luyện, kiểm tra việc tập luyện của các đội tuyển. Tham gia thi đấu đạt 44 huy chương các loại (10HCV, 12 HCB, 22 HCĐ), đội tuyển đua thuyền xếp thứ 2 toàn đoàn; đội tuyển kichboxing xếp thứ Nhất toàn  đoàn. Các đội tuyển tiếp tục tập luyện chuẩn bị tham giai Đại hội thể dục thể thao toàn quốc theo kế hoạch.
4. Công tác y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng chống dịch bệnh
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh không có dịch bệnh lớn xảy ra. Công tác phòng chống dịch và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm được duy trì triển khai. Tuy nhiên theo báo cáo các ngành chức năng, tính chung từ đầu năm đến thời điểm ngày 20/4/2018, tỉnh Thái Nguyên số ca mắc bệnh truyền nhiễm giảm hơn so cùng kỳ năm trước: Tay chân miệng 4 ca (cùng kỳ 2017: 8 ca); quai bị là 117 ca (giảm hơn so cùng kỳ 2017: 194 ca); sốt xuất huyết 3 ca; sốt phát ban dạng sởi là 02 ca; thủy đậu 118 người mắc và có 01 ca tử vong do bệnh dại. Tính riêng trong tháng 4/2018 (từ ngày 01/4 đến ngày 20/4) số người mắc  mới như sau quai bị 11 người; tay chân miệng 01 người.
Hoạt động triển khai tiêm chủng tại các huyện, thành phố, thị xã được duy trì thường xuyên, công tác tiêm chủng mở rộng cơ bản an toàn, việc dự trù, bảo quản, sử dụng vắc xin đảm bảo theo quy định.
Công tác khám chữa bệnh: Các hoạt động khám chữa bệnh, thực hiện quy chế chuyên môn tại các bệnh viện được duy trì tốt. Chất lượng khám chữa bệnh tại các bệnh viện tiếp tục được chú trọng, biểu hiện thông qua công tác cải tiến dây chuyền khám, chữa bệnh, nâng cao chất lượng xét nghiệm, chấn chỉnh công tác quản lý và xử lý chất thải y tế, vệ sinh môi trường, chống nhiễm khuẩn; Áp dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ thông tin trong phục vụ người bệnh, giảm số bệnh nhân phải nằm ghép sau 24h nhập viện. Bên cạnh đó ngành chức năng đã tổ chức hội nghị chuyên đề về “Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới”.
Tỉnh Thái Nguyên đã chú trọng trong việc phát triển y tế chuyên sâu và ứng dụng các phương pháp hỗ trợ sinh sản hiện đại. Kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm được triển khai tại Bệnh viện A Thái Nguyên từ tháng 3/2016 với sự hỗ trợ về kỹ thuật của các chuyên gia bệnh viện và trung tâm hỗ trợ sinh sản ở Trung ương. Sau hơn hai năm  triển khai, đến ngày 28/3/2018 đã có 100 em bé ra đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, đánh dấu bước tiến lớn của Thái Nguyên trong phát triển y tế chuyên sâu. Đến nay đội ngũ các y bác sỹ của tỉnh đã làm chủ hoàn toàn được kỹ thuật này, đã khám sàng lọc cho trên 10 nghìn người hiếm muộn và trên 400 bệnh nhân được thực hiện chu kỳ chuyển phôi, tỷ lệ chuyển phôi thành công trên 50%, thuộc nhóm dẫn đầu trong các trung tâm hỗ trợ sinh sản trong cả nước.
Dân số và trẻ em: Trong quý I năm 2018, tổng số trẻ mới sinh ra là 3.736 trẻ (giảm 86 trẻ so với Quý I/2017), trong đó có 1.919 trẻ là nam và 1.817 trẻ là nữ. Tỷ số giới tính khi sinh là 105,6 trẻ nam trên 100 trẻ nữ.  Trong tổng số trẻ sinh ra thì số trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên là 356 trẻ (chiếm 9,5% tổng số trẻ sinh ra) tăng 69 trẻ so với cùng kỳ 2017. Số cán bộ, Đảng viên sinh con thứ 3 trở lên là 19 trường hợp.
Tình hình lây nhiễm HIV/AIDS: Tính lũy kế đến 31/3/2018 số nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh là 9.687 trường hợp, số chuyển sang AIDS là 6.711 người. Trong tổng số 9.687 người nhiễm HIV/AIDS có 3.415 người đã tử vong và có 6.272 người còn sống. Tính riêng Quý I/2018 có 15 người mới phát hiện nhiễm HIV/AIDS, trong đó số người nhiễm AIDS là  2  người và có 8 người chết do HIV/AIDS.
5. Giáo dục
Trong tháng 4 năm 2018 ngành chức năng chuẩn bị công tác ôn tập, thi, kiểm tra học kỳ 2 cho học sinh các cấp.
Tổ chức ôn tập và hướng dẫn cho học sinh tham gia kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh. Kết quả như sau: Thi học sinh lớp 9 có 490 giải (10 giải nhất; 94 giải nhì; 152 giải ba và 234 giải khuyến khích). Lớp 10 có 1.088 giải (27 giải nhất; 215 giải nhì; 357 giải ba và 489 giải khuyến khích). Lớp 11 có 1.060 giải (giải nhất 26 giải; giải nhì 214 giải; 312 giải ba; 508 giải khuyến khích).
Tình hình đăng ký dự thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia. Tính đến ngày 20/4/2018 có 14.490 hồ sơ đăng ký dự thi, tăng hơn 1,3 nghìn hồ sơ đăng ký dự thi so với năm học trước. Dự kiến trên địa bàn tỉnh sẽ có 31 điểm thi.
6. Tình hình trật tự, an toàn xã hội
- An toàn giao thông: Ngành chức năng đã phối hợp với các đơn vị, địa phương thực hiện đồng bộ hóa các giải pháp bảo đảm an toàn giao thông. Tháng 4/2018 có nhiều ngày lễ lớn, mật độ giao thông tăng cao nên tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn trong tháng 4/2018 tăng cả 3 tiêu chí về số vụ tai nạn, số người chết và số người bị thương so cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên tính chung 4 tháng 2018 vẫn giảm ở cả 3 tiêu chí. Đường sắt và đường thủy ổn định, không xảy ra tai nạn giao thông.
Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh, trong tháng 4/2018 trên địa bàn tỉnh xảy ra 19 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 8 người và bị thương 15 người. So với cùng kỳ, số vụ tai nạn tăng 4 vụ (tương đương  tăng 26,7%), tăng 3 người chết và tăng 4 người bị thương. So với tháng trước (tháng 3/2018) số vụ tai nạn tăng 13 vụ (thành phố Thái Nguyên tăng 7 vụ, Phú Lương tăng 2 vụ và Phú Bình tăng 2 vụ); số người chết tăng 6 người và số người bị thương tăng 11 người.
Trong tháng đã kiểm tra lập biên bản xử lý vi phạm 4.039 trường hợp; tước 395 giấy phép lái xe; tạm giữ 113 xe ô tô, 554 xe mô tô; 16 phương tiện khác; số tiền xử phạt 3,56 tỷ đồng; trong đó, đường thủy nội địa đã xử lý 06 trường hợp vi phạm.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2018, tình hình trật tự an toàn giao thông đường sắt, đường thủy ổn định, không xảy ra tai nạn giao thông. Trên đường bộ, đã xảy ra 42 vụ tai nạn giao thông, làm chết 19 người và bị thương 34 người. So với cùng kỳ năm 2017, số vụ tai nạn giao thông giảm 12 vụ
(-22,2%); số người chết giảm 7 người (-26,9%); số người bị thương giảm 9 người (-20,9%). Trong đó, Thành phố Thái Nguyên xảy ra 20 vụ (chiếm 47,6% tổng số, giảm 3 vụ), làm 3 người chết (giảm 2 người so với cùng kỳ) và 23 người bị thương (giảm 1 người); Huyện Phú Lương xảy ra 5 vụ, làm 1 người chết (giảm 3 người so với cùng kỳ) và 3 người bị thương (giảm 5 người); Thị xã Phổ Yên xảy ra 4 vụ, làm chết 4 người  và bị thương 2 người (giảm 4 vụ nhưng số người chết tăng 4 người và tăng 1 người bị thương);  huyện Võ Nhai số vụ tại nạn xảy ra là 2 vụ (tăng 2 vụ, tăng 2 người chết và tăng 3 người bị thương so cùng kỳ).
7.  Phòng chống cháy nổ
Các ngành chức năng trên tiến hành kiểm tra phòng cháy, chữa cháy tại các cơ quan đơn vị trên địa bàn toàn tỉnh; qua kiểm tra đã nhắc nhở những thiếu sót trong phòng cháy chữa cháy và lập biên bản xử lý các trường hợp vi phạm nhằm hạn chế các vụ cháy, nổ xảy ra.
Trong tháng 4 năm 2018 trên địa bàn tỉnh xảy ra 16 vụ cháy và 01 vụ nổ khí ga, trong đó có 9 vụ cháy xảy ra tại Thành phố Thái Nguyên, 2 vụ tại thành phố sông công, 1vụ tại  huyện Đồng Hỷ, 2 vụ tại huyện Phú Lương, 1 vụ tại huyện Định hóa, 1 vụ tại huyện Đại Từ. Ước thiệt hại khoảng 3,5 tỷ đồng.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2018, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 53 vụ cháy và 1 vụ nổ khí ga, không có thiệt hại về người. Ước tính tổng giá trị thiệt hại khoảng 5,6 tỷ đồng.
8. Vi phạm môi trường
Trong tháng 4 năm 2018 trên địa bàn tỉnh, ngành chức năng đã kiểm tra và xử lý 03 vụ vi phạm môi trường. Trong đó huyện Đồng Hỷ có 02 vụ; huyện Phú Bình 01 vụ. Tổng số tiền xử phạt 13 triệu đồng.
Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2018, các ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra và xử lý 20 vụ vi phạm môi trường, nguyên nhân của các vụ xử lý trên là do các cơ sở sản xuất kinh doanh không thực hiện quan trắc giám sát môi trường theo đề án bảo vệ môi trường đã được xác nhận. Tổng số tiền thu và nộp vào ngân sách nhà nước là 89 triệu đồng.
Trên đây là tình hình kinh tế - xã hội chủ yếu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên tháng 4 năm 2018./. 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

CHUYÊN MỤC
dieutradanso2019

hoc tap lam theo HCM

tong cuc thong ke

luat thong ke 1

cong thong tin thai nguyen


Dieu tra DN 2018

anh minh hoa 1
 
anh tuyen dung
Thống kê website
  • Đang truy cập63
  • Hôm nay
  • Tháng hiện tại
  • Tổng lượt truy cập
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây