Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 năm 2017

Chủ nhật - 25/02/2018 20:12
 
BÁO CÁO
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 năm 2017 tỉnh Thái Nguyên
 
A. Kinh tế
I. Sản xuất nông, lâm nghiệp
1. Trồng trọt
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Xuân năm 2017 đạt 50,1 nghìn ha, giảm 3,4% so với cùng kỳ, trong đó cây lúa đạt 30,2 nghìn ha bằng 104,4% kế hoạch, giảm 1,22% so cùng kỳ; diện tích cây hoa màu các loại đạt 19,8 nghìn ha giảm 6,4% so cùng kỳ và bằng 104,8% so với kế hoạch.
 Vụ Xuân năm nay, diện tích gieo trồng hầu hết các loại cây màu đều giảm so với vụ Xuân 2016. Trong  tổng diện tích cây màu vụ Xuân, cây ngô có diện tích gieo trồng lớn nhất đạt 7,5 nghìn ha, bằng 97,6% so với kế hoạch, giảm 10,7% (-1,3 nghìn ha) so cùng kỳ; cây khoai lang trên 1 nghìn ha, bằng 170,16% kế hoạch, giảm 5,1% so cùng kỳ; cây đỗ tương bằng 100,2% kế hoạch, giảm 10,07%  so cùng kỳ… Riêng chỉ có cây rau các loại có diện tích gieo trồng cao hơn so với kế hoạch và cùng kỳ (đạt 3,8 nghìn ha, tăng 1,5% kế hoạch, tăng 8,4% so cùng kỳ).
Tình hình sâu bệnh trên cây lúa: Do thời tiết nóng ẩm là điều kiện thuận lợi sâu bệnh phát triển, trên cây lúa đã xuất hiện một số loại sâu bệnh như:  Rầy nâu lưng trắng, sâu đục thân, bọ xít dài, bệnh khô vằn, bệnh đạo ôn. Tổng diện tích bị nhiễm bệnh là 1.570 ha.
 Đến thời điểm hiện nay một số diện tích cây lúa đã cho thu hoạch. Nhìn chung cây lúa năm nay phát triển bình thường. Nếu từ nay đến cuối vụ không có diễn biến thời tiết bất lợi phát sinh, dự ước năng suất lúa sẽ tương đương so với vụ Xuân 2016; do diện tích lúa vụ xuân năm 2017 vượt kế hoạch nên sản lượng lương thực vụ Đông Xuân có hạt sẽ vượt kế hoạch.
Cây lâu năm: Hiện nay các địa phương đang đầu tư chăm sóc, thu hoạch chè. Toàn tỉnh có 30 vườn ươm với tổng số hom cắm 30,4 triệu hom bằng các giống LDP1, giống Kim Tuyên… Hiện nay các địa phương đang tích cực chuẩn bị để triển khai công tác trồng chè vào vụ Thu. Tính đến 15/5 toàn tỉnh thu hoạch được 92,4 tấn chè búp tươi, tăng 1,5% so cùng kỳ.
Tình hình sâu bệnh trên cây chè: Tổng diện tích bị nhiễm bệnh khoảng 1.180 ha. Trong đó rầy xanh 612 ha, bọ cánh tơ, bọ xit 568 ha.
Hiện nay cây chè được chú trọng quan tâm, để nâng cao chất lượng chè Thái Nguyên theo hướng đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, ngành chức năng đã  tập huấn kỹ thuật sản xuất chè an toàn và xây dựng các mô hình sản xuất chế biến khai thác an toàn theo quy trình Vietgap.
2. Chăn nuôi
Tình hình chăn nuôi trên địa bàn từ đầu năm đến nay vẫn gặp nhiều khó khăn, giá bán thịt lợn hơi thấp, chăn nuôi bị lỗ nên hạn chế tái đàn cho chu kỳ tiếp theo. Công tác kiểm dịch vận chuyển, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh an toàn thú y được duy trì thực hiện.
Để tháo gỡ khó khăn cho các hộ chăn nuôi, UBND tỉnh đã tổ chức hội nghị giữa các Sở, ban, ngành có liên quan, UBND các huyện, thành phố, thị xã, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi và một số cơ sở chăn nuôi lớn trên địa bàn để bàn các biện pháp hỗ trợ và tháo gỡ khó khăn cho người chăn nuôi trên địa bàn.
Trên địa bàn tỉnh hiện không có dịch bệnh xảy ra. Công tác tiêm phòng: Các địa phương đã tiến hành triển khai tiêm phòng cho gia súc, gia cầm đợt I/2017, kết quả như sau: Vác xin THT trâu, bò khoảng 63,8 nghìn con; vác xin Dịch tả lợn khoảng 289 nghìn con; vác xin Tụ-Dấu lợn 206 nghìn con; vác xin Lở mồm long móng trâu, bò, lợn khoảng 118 nghìn con; Vác xin Dại chó khoảng 144 nghìn con.
  * Kết quả tổng hợp số lượng gia súc, gia cầm thời điểm 1/4/2017
- Đàn trâu, bò: Tổng đàn trâu, bò khoảng 105,5 nghìn con, giảm 3% so cùng kỳ 2016; trong đó đàn trâu đạt 61,34 nghìn con, giảm 13,8% so với cùng kỳ; đàn bò đạt 44,2 nghìn con, tăng 17,6% cùng kỳ.
- Đàn lợn: Tổng đàn lợn đạt 636 nghìn con, tăng 21,1% so cùng kỳ, trong đó lợn nái có khoảng 132,3 nghìn con, tăng 45,3% so với cùng kỳ; lợn thịt có 502,5 nghìn con, tăng 11,6% cùng kỳ và chiếm 79% tổng đàn lợn.
-  Đàn gia cầm: Tổng đàn gia cầm đạt 11 triệu con, tăng 22% so với cùng kỳ. Trong đó, đàn gà đạt 9,4 triệu con, tăng 19,9% so thời điểm cùng kỳ và chiếm 85,3 % tổng đàn.
3. Lâm nghiệp
Tính đến ngày 17/5/2017 công tác chuẩn bị trồng mới đã được các địa phương trên địa bàn tỉnh hoàn tất và đang triển khai trồng rừng. Thiết kế trồng rừng được 4.241 ha/3.990 ha kế hoạch, đạt 106,3% kế hoạch; đã cấp cây giống được 4.228,3 ha và diện tích rừng trồng mới đạt 4.168 ha rừng/3.990 ha kế hoạch, bằng 104,5% kế hoạch được giao (trong đó rừng sản xuất trồng mới đạt 4.068 ha, rừng phòng hộ trồng mới 100 ha).
Tình hình khai thác lâm sản: Năm tháng đầu năm 2017 sản lượng gỗ khai thác đạt khoảng 46,2 nghìn m3 các loại, tăng 4% so cùng kỳ; củi đạt 66 nghìn ste. Riêng tháng 5/2017 khai thác ước đạt 9,3 nghìn m3 gỗ các loại, giảm 3% so cùng kỳ.
Công tác quản lý bảo vệ rừng:  Trong tháng trên địa bàn hiện không xảy ra cháy rừng. Tháng 4/2017 ngành chức năng đã xử lý 44 vụ vi phạm luật Bảo vệ và phát triển rừng (giảm 18% so cùng kỳ); tịch thu 90m3 gỗ quy tròn các loại; 11 phương tiện  các loại và thu nộp ngân sách nhà nước 154 triệu đồng (giảm 37% so cùng kỳ).
II. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 5/2017 dự ước tăng 0,5% so với tháng trước, tăng 17,1% so với cùng kỳ. Trong đó, công nghiệp chế biến chế tạo tăng 20,6% so với cùng kỳ; cung cấp nước và hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 17,3%; sản xuất phân phối điện tăng 10,7% và ngành khai khoáng tăng 1,4%.
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất trong tháng 5/2017: Nhóm sản phẩm dự ước tăng từ 10% trở lên so với cùng kỳ như: Vonfram và sản phẩm của vonfram ước đạt 1,8 nghìn tấn, tăng 55,6%; công cụ dụng cụ các loại 2,5 triệu sản phẩm, tăng 52,8%; sản phẩm may 5,1 triệu sản phẩm, tăng 33%; gạch xây dựng 19,5 triệu viên, tăng 34,3%; nước máy thương phẩm 2,8 triệu m3, tăng 21,4%; thiết bị và dụng cụ khác trong y khoa 81,4 triệu sản phẩm, tăng 21,1%; điện thoại thông minh 8,8 triệu sản phẩm, tăng 12,4%; máy tính bảng đạt 1,7 triệu sản phẩm, tăng gần 10%... Nhóm sản phẩm tăng thấp hoặc giảm so cùng kỳ là: than khai thác 100,2 nghìn tấn, tăng 1,1%; đồng tinh quặng 3,2 nghìn tấn, tăng 0,5%; sản xuất điện 145 triệu Kwh, giảm 2,5%; phụ tùng khác của xe có động cơ đạt 434 tấn, giảm 6,2%; quặng sắt và tinh quặng sắt chưa nung đạt 9,4 nghìn tấn, giảm 20,8%. Riêng sản phẩm sắt thép các loại ước đạt 78,3 nghìn tấn, giảm 27% cùng kỳ (do chỉ số tiêu thụ thép tháng 4/2017 chỉ bằng 68% và chỉ số tồn kho gấp 2,2 lần cùng kỳ).
Tính chung 5 tháng đầu năm 2017, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 17% so với cùng kỳ. Trong đó, công nghiệp chế biến chế tạo tăng 21,1% (tăng cao ở ngành sản xuất kim loại màu và sản xuất trang phục); sản xuất và phân phối điện tăng 10,9%; cung cấp nước và hoạt động quản lý, xử lý rác thải, nước thải tăng 14,4%. Riêng ngành công nghiệp khai khoáng giảm khoảng 5% do khai thác đá cát sỏi và khai thác than giảm...
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất tính chung 5 tháng đầu năm 2017: nhóm các sản phẩm công nghiệp ước tính tăng cao so với cùng kỳ là: Vonfram và sản phẩm của vonfram 9 nghìn tấn, tăng 51,4% bằng 56,2% kế hoạch cả năm; công cụ dụng cụ các loại 11,8 triệu sản phẩm, tăng 36,2%; sản phẩm may 22,8 triệu sản phẩm, tăng 25,2%; gạch xây dựng 67,6 triệu viên, tăng 22,2%; nước máy thương phẩm 13 triệu m3, tăng 18,7%; điện thương phẩm 1.694 triệu kwh, tăng 15,9%; điện thoại thông minh và máy tính bảng ước đạt 50 triệu sản phẩm, tăng 12% cùng kỳ và bằng 36% kế hoạch sản lượng cả năm (trong đó điện thoại thông minh 41,3 triệu sản phẩm, tăng 13,1%; máy tính bảng 8,6 triệu sản phẩm, tăng 4,4%)... Nhóm sản phẩm ước tính sản lượng tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ là: quặng sắt và tinh quặng sắt chưa nung 45 nghìn tấn, giảm 2,1%; đá khai thác 786,2 nghìn m3, giảm 2,3%; điện sản xuất 642 triệu kwh, giảm 4,6%; than khai thác 440 nghìn tấn, giảm 5,7%; xi măng  1.013 nghìn tấn, giảm 8,6%; đồng tinh quặng 15 nghìn tấn, giảm 10,6%; sắt thép các loại 398 nghìn tấn, giảm 13,8% cùng kỳ và bằng 36,2% kế hoạch cả năm...
III. Thương mại, dịch vụ, giá cả
1. Tổng mức bán lẻ và dịch vụ phục vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng 5/2017 ước đạt gần 2 nghìn tỷ đồng, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 8,4% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 117,8 tỷ đồng tăng 0,5% so với tháng trước và giảm 1,7% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước 1.873,3 tỷ đồng (chiếm 94% tổng mức bán lẻ), tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 9,1% so với cùng kỳ. Nhóm hàng hóa có sức mua tăng trên 10% so với cùng kỳ là: hàng may mặc; nhóm vật phẩm văn hóa giáo dục; trang thiết bị gia đình; gỗ và vật liệu xây dựng… Riêng nhóm lương thực, thực phẩm tháng 5/2017 mức bán lẻ ước đạt 532,5 tỷ đồng, giảm 1,6% so tháng trước do giá thực phẩm tươi sống, rau củ quả giảm.
Tính chung 5 tháng đầu năm 2017, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh ước đạt 9.947,2 tỷ đồng, tăng 9,4% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực nhà nước ước đạt 592 tỷ đồng, tăng 1,1%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 9.342,6 tỷ đồng, tăng 10% so với cùng kỳ; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 12,7 tỷ đồng tăng 17,6% so với cùng kỳ.
Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng 5 tháng đầu năm 2017, ngành thương nghiệp ước đạt 8.574,1 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 86,2%), tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước; ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành đạt 746 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 7,5%), tăng 6,9% so với cùng kỳ; còn lại ngành dịch vụ tiêu dùng khác đạt 627 tỷ đồng, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước.
Hầu hết các mặt hàng thiết yếu bán lẻ, phục vụ nhu cầu tiêu dùng 5 tháng đầu năm 2017 đều có mức tiêu thụ tăng so với cùng kỳ năm trước. Cả 12/12 nhóm hàng đều có doanh thu bán lẻ tăng so với cùng kỳ, các nhóm hàng tăng trên 10% là: hàng may mặc, tăng 15,4% so với cùng kỳ; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình, tăng 14,1%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 8,2%. Các nhóm hàng bán lẻ còn lại đều tăng dưới 10% so với cùng kỳ.
2. Xuất nhập khẩu
a. Xuất khẩu
Giá trị xuất khẩu trên địa bàn tháng 5/2017 ước đạt gần2,5 tỷ USD, tăng 66,3% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước 21,5 triệu USD, tăng 8,8% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 2,46 tỷ USD tăng 67,1% so với cùng kỳ (chủ yếu do xuất khẩu tăng cao ở nhóm hàng điện thoại mẫu mới có giá trị trên 10 triệu đồng Việt Nam/1 sản phẩm).
Mặt hàng xuất khẩu trong tháng 5/2017 dự ước như sau: Nhóm điện thoại các loại và linh kiện 2,44 tỷ USD, tăng 67,4% cùng kỳ (điện thoại 7,7 triệu cái với giá trị 1,75 tỷ USD, tăng 7% về lượng nhưng tăng 71,2% về giá trị; linh kiện điện tử 453 triệu USD, tăng 75,7% dùng kỳ);  kim loại màu và tinh quặng kim loại màu 18,1 triệu USD, tăng 37,7%; sản phẩm may 16,4 triệu USD, tăng 5,3%; sản phẩm từ sắt thép 3,9 triệu USD, tăng 0,2%. Riêng mặt hàng chè các loại ước đạt 222 tấn với giá trị 0,4 triệu USD, giảm 6% về lượng nhưng giảm 12% về giá trị...
Tính chung 5 tháng đầu năm 2017, tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn đạt gần 10 tỷ USD, tăng 36,4% so với cùng kỳ và bằng 47,1% kế hoạch cả năm. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước ước đạt 102 triệu USD, tăng 9,1% và bằng 31% kế hoạch; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 9,8 tỷ USD, tăng 36,7% và bằng 47,4% kế hoạch.
Nhóm  hàng hóa xuất khẩu chiếm tỷ trọng cao như: nhóm hàng điện thoại, máy tính bảng các loại và linh kiện 9,7 tỷ USD (chiếm 98% tổng số), tăng 36,6% cùng kỳ. Trong đó, điện thoại ước đạt 38,3 triệu sản phẩm với giá trị xuất khẩu 6,8 tỷ USD, tăng 15,1% về lượng nhưng giá trị tăng 36,2%; máy tính bảng 8,3 triệu sản phẩm với giá trị đạt 1,2 tỷ USD, tăng 7,2% về lượng và tăng 16,4% về giá trị; linh kiện điện tử và phụ tùng khác đạt 1,7 tỷ USD, tăng 56,5%. Kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 86,1 triệu USD, tăng 44% và bằng 53,8% kế hoạch (trong đó Volfram và sản phẩm Volfram chiếm khoảng 70% giá trị, còn lại là khoáng Fluorit, Bismuth cement…); sản phẩm may 81,1triệu USD, tăng 10,6%; sản phẩm từ sắt thép đạt 20,8 triệu USD, tăng 10,2% cùng kỳ...
b. Nhập khẩu
Giá trị nhập khẩu trên địa bàn tháng 5/2017 ước đạt 1,61 tỷ USD, tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 32% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 18,5 triệu USD, chỉ bằng 25% so với cùng kỳ (do trong tháng không phát sinh nhập khẩu sắt thép và phế liệu sắt thép); khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,59 tỷ USD (bằng 98,9% tổng giá trị nhập khẩu), tăng 38,8% so với cùng kỳ.
Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tháng 5/2017: nguyên liệu và linh kiện điện tử ước đạt 1,57 tỷ USD, tăng 61,8% so với cùng kỳ; sản phẩm từ sắt thép 18,3 triệu USD, gấp 12 lần so với cùng kỳ; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 6,2 triệu USD, gấp 5,5 lần… Nhóm mặt hàng nhập khẩu giảm là: vải và nguyên, phụ liệu dệt may 11,5 triệu USD, giảm 12,6%; máy móc thiết bị, dụng cụ đạt 6,5 triệu USD, chỉ bằng 2,8% so với cùng kỳ…
Tính chung 5 tháng đầu năm 2017, giá trị nhập khẩu trên địa bàn ước đạt 6,27 tỷ USD, tăng 22,6% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 81,1 triệu USD, giảm 53,6%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 6,19 tỷ USD (chiếm 98,7% tổng giá trị nhập khẩu), tăng 25,3% cùng kỳ.
Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu 5 tháng đầu năm 2017: nguyên liệu và linh kiện điện tử ước đạt 6,08 tỷ USD, tăng 33,5% so với cùng kỳ; sản phẩm từ sắt thép đạt gần 50 triệu USD, gấp 10 lần giá trị nhập khẩu 5 tháng 2016; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc ước đạt 24,8 triệu USD, gấp 3,2 lần; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 9,8 triệu USD, gấp 2,6 lần… Nhóm mặt hàng nhập khẩu tăng thấp hoặc giảm so cùng kỳ là: vải và nguyên phụ liệu may mặc 51,6 triệu USD, tăng 1,2%; máy móc thiết bị, phụ tùng 38,3 triệu USD, giảm 90%; sắt thép phế và phôi thép, sắt thép 6,2 triệu USD, giảm 89%; phân bón giảm 44,8%; nguyên liệu giấy các loại giảm 62%...
3. Giá tiêu dùng
Do giá các nhóm mặt hàng giao thông, nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm nên chỉ số giá tháng 5/2017 giảm 0,47% so với tháng trước, giảm 0,92% so với tháng 12 năm trước và tăng 2,47% so với tháng 5/2016.
 So với tháng trước chỉ số giá tiêu dùng giảm 0,47%. Có 3/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng có chỉ số giá giảm 0,3% -1,2%, trong đó giảm nhiều nhất là nhóm hàng ăn và dịch v ụ ăn uống giảm 1,22% (do giá thịt gia súc tươi sống giảm 3,28%; giá dầu mỡ ăn và chất béo  giảm 4,04%), nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,42%; nhóm giao thông giảm 0,3%. Có 4/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng từ  nhẹ từ 0,1% - 0,3%, nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,1%; nhóm giáo dục tăng 0,17%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,2%; nhóm may mặc tăng 0,3%. Còn lại 4/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tương đương tháng trước như nhóm đồ uống và thuốc là; nhóm thuốc và dịch vụ y tế, nhóm văn hóa, nhóm bưu chính viễn thông.
So với tháng 12/2017, chỉ số giá  tiêu dùng  giảm 0,92%. Có 5/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá  giảm. Trong đó, giảm nhiều nhất là  nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 3,66% (giá thịt gia súc tươi sống giảm 11,5%, giá thịt gà giảm 3,95%, giá thịt chế biến giảm 9,06%, giá rau giảm 4,28%...), còn lại 4 nhóm hàng hóa giảm từ 0,02-0,45% như nhóm thiết bị đồ dùng gia đình giảm 0,11%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,02%...Có  6/11 nhóm hàng hóa tăng:  nhóm có chỉ số giá tăng từ 0,1% - 0,4%  là nhóm đồ uống, nhóm may mặc, nhóm giáo dục;  nhóm có chỉ số giá tăng từ 1,09%- 1,53% là nhóm hàng hóa và dịch vụ khác, nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng; nhóm giao thông tăng 1,53% (do giá nhiên liệu tăng 4,96%, giá dịch vụ khác cho phương tiện cá nhân tăng 1,25%).
So với cùng kỳ (tháng 5/2016), chỉ số giá tiêu dùng tháng 5/2017 tăng 2,47%.  Có 8 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có chỉ số giá tăng,  trong đó nhóm chỉ số giá tăng cao nhất là nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 73,84% (do giá dịch vụ khám sức khỏe tăng gấp hơn 2 lần);  nhóm giáo dục tăng 10,7% ( là do giá dịch vụ giáo dục tăng 13,13%, đồ dùng học tập tăng 0,6%); nhóm giao thông tăng 6,6% (do giá nhiên liệu tăng 17,3%, giá dịch khác cho phương tiên cá nhân tăng 1,53%, giá bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,77%),  nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,93% (giá nhà ở thuê tăng 2,73%, giá nước sinh hoạt tăng 6,6%); còn lại 4 nhóm hàng hóa và dịch tăng trong khoảng 0,8% – 1,1% như nhóm đồ uống, nhóm may mặc, nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình, nhóm hàng hóa và dịch vụ khác. Còn lại 03/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giảm như hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 7,7% (giá giá thịt  gia súc, gia cầm giảm); nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,68%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,56%.
 Chỉ số giá vàng: chỉ số giá vàng tháng 5/2017 giảm 0,12% so với tháng trước và tăng 4,16% so với cùng kỳ năm trước . Chỉ số giá vàng bình quân 5 tháng đầu năm 2017 tăng 6,57% so với  cùng kỳ.
Chỉ số giá Đô la Mỹ: Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 5/2017 tăng 0,01% so tháng trước và tăng 1,95% so với cùng kỳ. Chỉ số giá Đô la Mỹ bình quân 5 tháng  đầu năm 2017 tăng 1,64% so với cùng kỳ.
4. Giao thông vận tải
- Vận chuyển hành khách: Số lượt hành khách vận chuyển tháng 5/2017 ước đạt 1.140 nghìn lượt khách với lượng hành khách luân chuyển là 77,5 triệu hành khách.km; so với tháng trước tăng 9,6% về số hành khách vận chuyển; tăng 7,7% số hành khách luân chuyển; so với cùng kỳ tăng trên 9,5% về số lượng hành khách vận chuyển và số hành khách luân chuyển. Tính chung 5 tháng đầu năm 2017 số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 5,2 triệu lượt hành khách với 365,1 triệu lượt hành khách.km; so với cùng kỳ tăng 6,7% về số hành khách và tăng 6,3% về số lượng hành khách luân chuyển. Trong đó, kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 5 triệu lượt khách với 330,4 triệu hành khách.km (chiếm 95,2% tổng số), tăng trên 6,9% về số hành khách vận chuyển và số hành khách luân chuyển so với cùng kỳ.
- Vận chuyển hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 5/2017 ước đạt 2,1 triệu tấn với  76,6 triệu tấn, tăng 4,7% so với tháng trước về khối lượng vận chuyển và khối lượng luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 10% về khối lượng hàng hóa vận chuyển và tăng 9,5% về khối lượng hàng hóa luân chuyển. Tính chung 5 tháng đầu năm 2017, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 10 triệu tấn với 359,2 triệu tấn.km, tăng 4% về khối lượng vận chuyển và tăng 5,5% khối lượng luân chuyển so với cùng kỳ.
Tổng doanh thu vận tải trên địa bàn tháng 5/2017 ước đạt 194,8 tỷ đồng, tăng 5,1% so với tháng trước và tăng 7,4% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 40,2 tỷ đồng, tăng 7,8% so với tháng trước và  tăng 9,7% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa là 154,6 tỷ đồng, tăng 4,5% so tháng trước và tăng 6,8% cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm 2017, tổng doanh thu vận tải trên địa bàn ước đạt 914,8 tỷ đồng, tăng 4,5% cùng kỳ (doanh thu vận tải hành khách ước tăng 6,7%, doanh thu vận tải hành hóa tăng 4%).
IV. Thu, chi ngân sách
1. Thu ngân sách
Thu trong cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn 4 tháng đầu năm 2017 đạt 4.665,3 tỷ đồng, tăng 20,2 % so với cùng kỳ và bằng 51,8 % so với dự toán cả năm. Trong đó, thu nội địa đạt 3.847,8 tỷ đồng, tăng 22,7 % so với cùng kỳ và bằng 56,9% so với dự toán cả năm; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 817,5 tỷ đồng tăng 9,6% so với cùng kỳ và bằng 36,3% so với dự toán cả năm.
Trong thu nội địa, nhìn chung các khoản thu đều tăng cao so với cùng kỳ, có 13/16 khoản thu tăng so với cùng kỳ như: thu từ doanh nghiệp nhà nước đạt 362,3 tỷ đồng, tăng 3,6% so với cùng kỳ và bằng 39,6% so với dự toán cả năm; thu từ khu vực sản xuất và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 884,2 tỷ đồng, tăng 114,8% và bằng 71,1% so với dự toán cả năm; thu tiền cấp quyền sử dụng đất đạt 497,1 tỷ đồng, gấp 2,6 lần cùng kỳ và bằng 76,5% so với dự toán; thu tiền cho thuê đất đạt 90,6 tỷ đồng, gấp 3,5 lần so với  cùng kỳ và bằng 28,9% so với dự toán cả năm… có 3/16 khoản thu đạt thấp so với cùng kỳ đó là: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 914,9 tỷ đồng, giảm 29,1% so với cùng kỳ và bằng 57,7% so với dự toán; thu từ sử dụng đất phi nông nghiệp đạt 0,4 tỷ đồng, giảm 80,2% so với cùng kỳ và bằng 2,7% so với dự toán; thu lệ phí trước bạ đạt 116,5 tỷ đồng, giảm 5,3% so với cùng kỳ và bằng 33,3% so với dự toán cả năm.
2. Chi ngân sách
Tổng chi ngân sách địa phương 4 tháng đầu năm 2017 đạt 2.344,5 tỷ đồng, tăng 9,9% so với cùng kỳ và bằng 23% so với dự toán cả năm. Trong đó, chi cân đối ngân sách địa phương đạt 2.256,5 tỷ đồng, tăng 12,7% so với cùng kỳ và bằng 24,2% so với dự toán cả năm. Chi chương trình mục tiêu quốc gia đạt 88 tỷ đồng, giảm 32,5% so với cùng kỳ và mới bằng 10,1% so với dự toán cả năm.
Trong chi cân đối: chi đầu tư phát triển đạt 506,5 tỷ đồng, tăng 45,8% so với cùng kỳ và bằng 30,8% so với dự toán cả năm. Chi thường xuyên đạt 1.750 tỷ đồng, tăng 5,7% so với cùng kỳ và bằng 25,1% dự toán cả năm.
Trong tổng chi thường xuyên, có 8/11 khoản chi tăng so với cùng kỳ, lớn nhất là chi sự nghiệp giáo dục và dạy nghề đạt 711,1 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 40,6%), tăng 9% so với cùng kỳ và bằng 24,3% so với dự toán cả năm; chi quản lý hành chính đạt 457 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 26,1% tổng chi thường xuyên), tăng 11,6% so với cùng kỳ và bằng 32,3% so với dự toán cả năm; riêng chi cho sự nghiệp khoa học và công nghệ 4 tháng năm 2017 đạt 18,1 tỷ đồng, bằng 68,5% dự toán cả năm. Các khoản chi đạt thấp hơn so với cùng kỳ và đạt dưới 30% dự toán cả năm là : chi sự nghiệp văn hóa thông tin đạt 26,3 tỷ đồng, giảm 4% so với cùng kỳ và bằng 21,2% dự toán cả năm; chi sự nghiệp phát thanh truyền hình đạt 10,9 tỷ đồng, giảm 22,7% so với cùng kỳ và bằng 17,4% so với dự toán cả năm; chi đảm bảo xã hội đạt 75,2 tỷ đồng, giảm 39,4% so với cùng kỳ và bằng 26,3% so với dự toán năm.
3. Ngân hàng
- Lãi suất: Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay bằng đồng Việt Nam tiếp tục ổn định so với cuối năm 2016. Lãi suất huy động VNĐ của các tổ chức tín dụng phổ biến ở mức 0,8-1%/năm đối với lãi suất huy động tiền gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng, từ 4,5-5,4%/năm đối với kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng, từ 5,4-7,2%/năm đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VNĐ đối với các lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao là 7%/năm. Lãi suất cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 7-9%/năm đối với ngắn hạn, từ 9,3-11%/năm đối với trung và dài hạn. Đối với nhóm khách hàng tốt, tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch, lãi suất cho vay từ 5-6%/năm. Lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 2,8-6%/năm.
- Nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng đến đầu tháng 5/2017 đạt 41,6 nghìn tỷ đồng, tăng 7,5% so với 31/12/2016.
- Dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đến đầu tháng 5/2017 đạt 41nghìn tỷ đồng, tăng 4% so với 31/12/2016. Nợ xấu là 320 tỷ đồng, chiếm 0,77%/ tổng dư nợ. Riêng dư nợ cho vay ưu đãi đầu tư phát triển đạt 5 nghìn tỷ đồng, tăng 1,17% so với thời điểm 31/12/2016.
Kết quả cho vay đầu tư xây dựng nông thôn mới đạt 8.280 tỷ đồng tăng 2,29% so với 31/12/2016 chiếm 18,34%/tổng dư nợ toàn địa bàn với 132.080 hộ dân, 142 doanh nghiệp và 12 hợp tác xã còn dư nợ, doanh số cho vay đạt 737 tỷ đồng, doanh số thu nợ đạt 389 tỷ đồng.
B. Một số vấn đề xã hội
1. Hoạt động văn hóa, thể thao
Ngành chức năng và các địa phương đã tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật hưởng chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn: 42 năm ngày giải phóng hoàn toàn Miền nam thống nhất đất nước, 131 năm ngày Quốc tế lao động và đặc biệt trên địa bàn đã diễn ra nhiều hoạt động nhân kỷ niệm 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và 70 năm Ngày Bác Hồ về ATK Định Hóa như: Chương trình nghệ thuật đặc biệt kỷ niệm 70 năm Ngày Bác Hồ về ATK Định Hóa cùng Trung ương Đảng, Chính phủ lãnh đạo cuộc kháng chiến Chống thực dân Pháp (20/5/1947 - 20/5/2017) và Kỷ niệm 127 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2017); Chương trình cầu truyền hình trực tiếp “ATK - Nghĩa nặng ân tình” tại 2 điểm cầu: Di tích đồi Khau Tý, xã Điềm Mặc, (Định Hóa) và Thủ đô Hà Nội... Chương trình nhằm ghi nhớ công lao to lớn của Bác với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, phát huy những giá trị lịch sử của vùng đất ATK Định Hóa; qua đó, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ hôm nay. 
Hoạt động bảo tàng: Tổ chức triển lãm ảnh với chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh từ ATK Thái Nguyên đến Phủ Chủ tịch Hà Nội (1947-1969). Triển lãm trưng bày 185 bức ảnh tư liệu và 29 tài liệu, hiện vật quý gắn với Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người ở và làm việc tại ATK Thái Nguyên. Các bức ảnh, tư liệu được trưng bày tại triển lãm xoay quanh 3 nội dung: Những hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại ATK Thái Nguyên (1947 - 1954); Những hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch Hà Nội (1954 - 1969); Đảng bộ và nhân dân Thái Nguyên thực hiện việc “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Hoàn thiện hồ sơ khoa học 60 hiện vật sưu tầm đợt 1 năm 2017; phục vụ 1.182 lượt khách tham quan bảo tàng, các triển lãm, Không gian Văn hoá trà; tham gia khai quật, cung cấp thông tin  kết quả khảo cổ học ở di chỉ mái đá Ngườm tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai.
Hoạt động phát hành phim và chiếu bóng: Thực hiện 81 buổi chiếu phim, trong đó có 04 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị, 77 buổi phục vụ các xã vùng khó khăn, đối tượng chính sách; phục vụ 1.165 lượt người xem.
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật: Tổ chức 17 buổi biểu diễn (07 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị; 10 buổi phục vụ đối tượng chính sách và các xã đặc biệt khó khăn).
* Lĩnh vực thể thao 
Đăng cai tổ chức giải vô địch vật dân tộc toàn quốc; tổ chức giải Bóng chuyền - Bóng chuyền hơi, Cầu lông - Bóng bàn CNVC lao động tỉnh. Phối hợp tổ chức các giải cấp ngành (cầu lông - bóng bàn - cờ tướng ngành quản lý thị trường; Hội thao các ngân hàng tỉnh, Tổng Công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc). Tổ chức các lớp tập huấn (bơi, cứu nạn, cứu hộ; hướng dẫn viên thể dục dưỡng sinh, trọng tài bóng chuyền). Phối hợp tổ chức Đại hội Liên đoàn cầu lông nhiệm kỳ V (2017-2021).
Đào tạo học sinh năng khiếu thể dục thể thao: Chỉ đạo Trường Phổ thông NKTDTT tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo 161 học sinh năng khiếu hệ nội trú, 40 học sinh bán trú. Các đội tuyển (vật nam, nữ; karatedo, điền kinh trẻ) tham gia thi đấu theo kế hoạch.
Thể thao thành tích cao: Duy trì công tác quản lý, huấn luyện, kiểm tra  việc tập luyện của các đội tuyển. Đạt 12 huy chương các loại (03HCV, 01HCB, 08HCĐ) tại giải boxing, cầu lông, vật dân tộc, đẩy gậy toàn quốc.
2. Y tế
Từ đầu năm đến nay công tác tuyên truyền phòng chống dịch, bệnh  được duy trì thường xuyên. Hiện nay trên địa bàn tỉnh không có dịch lớn xẩy ra, không xẩy ra các vụ ngộ độc thực phẩm hàng loạt. Ngành chức năng nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, cải tiến chất lượng bệnh viện, đảm bảo việc khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Trong tháng 5 có 01 ca tử vong vì bệnh dại, nguyên nhân là do bị chó nhà nuôi cắn nhưng không đi tiêm vắcxin, huyết thanh phòng bệnh dại.
 Công tác dân số: Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 4 tháng đầu năm 2017 có 5.143 trẻ em mới sinh (trẻ nam 2.737, trẻ nữ là 2.406), đạt tỷ số giới tính khi sinh 113,7 trẻ nam/100 trẻ nữ). So với cùng kỳ số trẻ mới sinh tăng 94 trẻ. Tổng số trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên có 397 trường hợp (chiếm 7,7% tổng số trẻ mới sinh), so với cùng kỳ tăng 10 trẻ. Trong đó, có 5 địa phương có tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên cao hơn bình quân chung của tỉnh là: Huyện Phú Bình 9,8%, Huyện Đồng Hỷ 11,2%; Huyện Phú Lương 9,3%; Huyện Võ Nhai 8,7%; Thành phố Sông Công 8,2%. Địa phương có tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên thấp nhất là huyện Định Hóa 5,1%.
Tình hình lây nhiễm HIV/AIDS: Công tác truyền thông, về phòng chống HIV/AIDS và các hoạt động can thiệp giảm tác hại cũng như hoạt động giám sát được ngành chức năng kiểm tra thường xuyên, tiếp tục duy trì các điểm điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadon. Tính từ ca phát hiện đầu tiên lũy tích đến tháng đầu tháng 5/2017, trên địa bàn tỉnh đã có 9.564 trường hợp nhiễm HIV được phát hiện, trong đó bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS là 6.605 người, số người tử vong do AIDS là 3.388 người. Tính riêng tháng 4/2017 đã phát hiện mới 9 người nhiễm HIV, có 5 trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS và không có trường hợp nào tử vong.
3. Giáo dục
Trong tháng 5/2017, ngành chức năng tổ chức việc ôn tập, kiểm tra học kỳ 2 cho học sinh các cấp, chuẩn bị bế giảng đối với khối giáo dục phổ thông, mầm non; thực hiện các điều kiện chuẩn bị công tác thi tuyển vào lớp 10 và kỳ thi Trung học phổ thông Quốc gia năm 2017.
Kỳ thi Trung học phổ thông Quốc gia năm 2017, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 31 điểm thi do Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì (năm nay Đại học Thái Nguyên không chủ trì). Toàn tỉnh có 13.225 thí sinh đăng ký tham dự kỳ thi Trung học phổ thông Quốc gia, so với kỳ thi Trung học phổ thông Quốc gia năm 2016 giảm 902 thí sinh. Trong đó, số học sinh đăng ký dự thi để lấy kết quả tốt nghiệp 4.637 thí sinh (chiếm 35%); dự thi vừa lấy kết quả tốt nghiệp vừa xét tuyển đại học, cao đẳng 7.701 thí sinh; thi để lấy kết quả xét tuyển đại học, cao đẳng 887 thí sinh.
4. Phòng chống tệ nạn xã hội
Tính đến từ đầu năm đến 15/4/2016 toàn tỉnh tổ chức cai nghiện được 215 người, đạt 21,5% so với kế hoạch. Trong đó, cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng 66 người có 15 người cai nghiện bằng thuốc Cedemex; cai nghiện tại các Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội là 149 người.
Đội kiểm tra liên ngành 178 về phòng chống mại dâm tỉnh kiểm tra 12 cơ sở kinh doanh dịch vụ (Thị xã Phổ Yên 4 cơ sở; huyện Định Hóa 4 cơ sở; TP Thái Nguyên 2 cơ sở; huyện Phú Lương 2 cơ sở)
5. Tình hình trật tự, an toàn xã hội
- Tình hình an toàn giao thông: Năm 2017 với chủ đề “Xây dựng văn hóa giao thông trong thanh, thiếu niên” với mục tiêu “Tính mạng con người là trên hết” của Uỷ ban an toàn giao thông Quốc gia. Để hưởng ứng Năm ATGT, tỉnh Thái Nguyên đặt mục tiêu phấn đấu giảm tai nạn giao thông trên 5% ở cả 3 tiêu chí so với năm 2016. Nâng cao chất lượng vận tải hành khách và hàng hóa; quan tâm đầu tư, quản lý, bảo trì, bảo dưỡng kết cấu hạ tầng giao thông; xử lý các điểm đen, các vi phạm trong vận tải đường bộ, đường thủy nội địa. Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về trật tự ATGT, phối hợp tuyên truyền thường xuyên liên tục đến mọi tầng lớp nhân dân, quan tâm giáo dục, tuyên truyền cho đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn…
Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh Thái Nguyên, trong tháng 5/2017 trên địa bàn xảy ra 14 vụ tai nạn giao thông làm chết 5 người và bị thương 8 người (trong đó liên quan đến ô tô là 9 vụ chiếm 64,3%; liên quan đến mô tô là 03 vụ, chiếm 21,4%), làm thiệt hại tài sản ước tính khoảng 75,2 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giảm 8 vụ (-36,36%); số người chết giảm 1 người (-16,67%); và số  người bị thương giảm 19 người
(-70,37%).
Tính chung 5 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 68 vụ tai nạn giao thông, làm chết 31 người và 51 người bị thương. So với cùng kỳ năm 2016 giảm cả 3 chỉ tiêu, số vụ tai nạn giảm 03 vụ (-4,23%), số người bị chết giảm 5 người (-13,89%) và số người bị thương giảm 17 người (-25%). Trong đó, địa bàn xảy ra nhiều vụ tai nạn nhất là thành phố Thái Nguyên 32 vụ (chiếm 47%), làm 7 người chết (chiếm 22,6%) và 27 người bị thương (chiếm 82,94%).
Trong tháng đã kiểm tra lập biên bản xử lý vi phạm giao thông 3.355 trường hợp; tước 340 giấy phép lái xe; tạm giữ 156 xe ô tô, 415 xe mô tô. Số tiền xử phạt nộp vào ngân sách nhà nước là 3,49 tỷ đồng.
6.  Phòng chống cháy nổ
Công tác phòng cháy chữa cháy đã được cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra và nhắc nhở nhằm hạn chế các vụ cháy nổ xảy ra. Trong kỳ (tính từ 15/4-15/5/2017) trên địa bàn xảy ra 6 vụ cháy nhỏ, không có vụ nổ và không có thiệt hại về người. Trong đó, có 4 vụ cháy xảy ra tại thành phố Thái Nguyên, 2 vụ tại thị xã Phổ Yên. Ước giá trị thiệt hại khoảng 6 triệu đồng.
Tính từ đầu năm đến 15/5/2017 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 44 vụ cháy, không có thiệt hại về người. Ước tổng trị giá tài sản thiệt hại khoảng 1,9 tỷ đồng. Trong đó xảy ra tại thành phố Thái Nguyên 28 vụ, huyện Đại Từ 1 vụ, thị xã Phổ Yên 5 vụ, huyện Đồng Hỷ 2 vụ, huyện Phú Lương 4 vụ, huyện Định Hóa 1 vụ, huyện Phú Bình 3 vụ, nguyên nhân xảy ra các vụ cháy chủ yếu là do chập điện.
7. Vi phạm môi trường
Các ngành chức năng, đã tiến hành kiểm tra và xử lý trong 5 tháng đầu năm 2017 là 25 vụ vi phạm môi trường, nguyên nhân do các cơ sở sản xuất kinh doanh không có bảng cam kết bảo vệ môi trường và không thực hiện chương trình giám sát môi trường định kỳ. Tổng số tiền thu và nộp vào ngân sách nhà nước 539,8 triệu đồng.
Trên đây là một số tình hình chủ yếu về kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2017./.


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
CHUYÊN MỤC
dieutradanso2019

hoc tap lam theo HCM

tong cuc thong ke

luat thong ke 1

cong thong tin thai nguyen


Dieu tra DN 2018

anh minh hoa 1
Thống kê website
  • Đang truy cập16
  • Hôm nay
  • Tháng hiện tại
  • Tổng lượt truy cập
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây