Tình hình kinh tế xã hội tháng 5 năm 2018 tỉnh Thái Nguyên

Thứ năm - 24/05/2018 10:50
Tình hình kinh tế xã hội tháng 5 năm 2018 tỉnh Thái Nguyên
A. KINH TẾ
I. Sản xuất nông, lâm nghiệp
1. Trồng trọt
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Xuân năm 2018 đạt 47,8 nghìn ha, giảm 0,9% so với cùng kỳ, trong đó cây lúa đạt 30,1 nghìn ha bằng 104% kế hoạch, giảm 0,6% so cùng kỳ; diện tích cây hoa màu các loại đạt 17,7 nghìn ha giảm 1,5% so vụ Xuân 2017. Trong tổng diện tích lúa, trà lúa Xuân muộn chiếm 98%; diện tích lúa lai 4,6 nghìn ha (chiếm 15,4% diện tích), diện tích lúa thuần chất lượng cao 6,4 nghìn ha (chiếm 21,4% diện tích).
Trong tổng diện tích cây màu vụ Xuân, cây ngô có diện tích gieo trồng lớn nhất đạt 7,4 nghìn ha (chiếm tỷ trọng 41,8% tổng diện tích cây màu), bằng 102,9% so với kế hoạch và giảm 1,4% so cùng kỳ; cây khoai lang đạt 940 ha, giảm 13,8% so cùng kỳ; cây thuốc lá đạt 9 ha, giảm 57%; cây đỗ tương đạt 450 ha, giảm 8,4% so cùng kỳ; cây lạc đạt 2,7 nghìn ha, giảm 9,3% so cùng kỳ. Riêng chỉ có cây rau các loại đạt 4,8 nghìn ha, vượt 26,7% kế hoạch và tăng 7,8% so cùng kỳ.
Nguyên nhân diện tích gieo trồng hiện nay giảm là do một số diện tích chuyển đổi mục đích sử dụng; một số cây trồng có hiệu quả kinh tế thấp nên không tiếp tục gieo trồng; một phần nữa là lực lượng lao động trẻ khu vực nông thôn chuyển đổi ngành nghề, đi làm việc ở các khu công nghiệp và các ngành nghề phi nông nghiệp cho thu nhập cao hơn.
Tình hình sâu bệnh trên cây lúa: Tỷ lệ sâu, bệnh phát sinh gây hại cao hơn so với cùng kỳ năm trước. Tổng diện tích lúa nhiễm sâu bệnh tính đến ngày 18/5/2018 là 5,7 nghìn ha (chiếm 19% diện tích lúa) và cao hơn 3 nghìn ha so với cùng thời điểm năm 2017, trong đó chủ yếu là bệnh khô vằn với 5,4 nghìn ha lúa nhiễm bệnh (chiếm 18% tổng diện tích lúa); ngoài ra rải rác là các bệnh như: đạo ôn 134 ha, sâu đục thân diện tích nhiễm khoảng 18 ha; bệnh đạo ôn cổ bông diện tích nhiễm 100,52 ha; Rầy các loại, chuột, sâu cuốn lá nhỏ phát sinh gây hại ở mức độ thấp. Ngành chức năng đã chủ động điều tra, giám sát sinh vật hại và hướng dẫn các địa phương phòng trừ sâu bệnh.
Đến thời điểm hiện nay một số diện tích cây lúa đã cho thu hoạch. Nhìn chung cây lúa năm nay phát triển bình thường, sâu bệnh nhiều hơn nhưng không ảnh hưởng đến năng suất thu hoạch. Nếu từ nay đến cuối vụ không có diễn biến thời tiết bất lợi phát sinh, dự ước năng suất, sản lượng lúa vẫn đạt và vượt kế kế hoạch nhưng khả năng sản lượng thu hoạch sẽ chỉ tương đương so với cùng kỳ (do diện tích gieo trồng giảm).
Cây lâu năm: Hiện nay các địa phương đang triển khai đăng ký nhu cầu trồng mới và trồng thay thế chè năm 2018. Tính đến ngày 31/5/2018, kết quả đăng ký trồng chè năm 2018 được 500 ha, bằng 44,4% kế hoạch.
Ngành chức năng tiếp tục hướng dẫn các hộ nông dân chăm sóc chè mới trồng, vườn ươm chè giống đảm bảo số lượng, chất lượng và cơ cấu giống đáp ứng yêu cầu trồng mới. Để nâng cao chất lượng chè Thái Nguyên theo hướng đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, ngành chức năng duy trì triển khai tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc và sản xuất chè an toàn; triển khai và nhân rộng thực hiện thâm canh chè, mô hình sản xuất chế biến chè an toàn theo quy trình VietGAP. Hiện nay thời tiết thuận lợi cho cây chè phát triển và đang cho thu hoạch đại trà.
Tình hình sâu bệnh trên cây chè: Tổng diện tích bị nhiễm sâu, bệnh khoảng 635 ha, thấp hơn so với cùng kỳ. Trong đó, rầy xanh 307 ha, bọ cánh tơ khoảng 24 ha, bọ xít muỗi khoảng 118 ha và bệnh phồng lá, nhện đỏ khoảng 20 ha.
Cây ăn quả: Năm nay thời tiết thuận lợi nên cây ăn quả phát triển tốt, một số cây đang cho thu hoạch. Dự báo năng suất một số cây ăn quả năm nay sẽ tăng hơn so năm trước.
2. Chăn nuôi
Tình hình chăn nuôi trên địa bàn từ đầu năm đến nay không xảy ra dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.
Công tác phòng dịch bệnh: thực hiện tuyên truyền và hướng dẫn người chăn nuôi chăm sóc, theo dõi đàn vật nuôi, cách nhận biết và phòng chống một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm … Tiếp tục thực hiện tiêm phòng bổ sung vắc xin, vệ sinh, khử trùng, tiêu độc phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm, bệnh thủy sản Đợt 1 năm 2018; hướng dẫn các trại chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung trên địa bàn tỉnh tiếp tục xây dựng cơ sở an toàn dịch bệnh đối với một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm; giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh, chủ động kiểm tra, lấy mẫu xét nghiệm, đề ra các biện pháp phòng, chống dịch bệnh.
Kết quả công tác tiêm phòng vắc xin cho đàn gia súc, gia cầm Đợt I/2018 trên địa bàn tỉnh như sau: Vacxin Tụ huyết trùng trâu, bò: 54.060 liều/105.000 liều; Vacxin Lở mồm long móng gia súc là 105.750 liều/180.000 liều; Vacxin Dịch tả lợn: 214.310 liều/450.000 liều; Vacxin Tụ - dấu lợn: 165.005 liều/330.000 liều; Vacxin Lep to: 8.000 liều/8000 liều; Vacxin Tai xanh: 10.090 liều/17.000 liều; Vacxin Dại chó: 139.840 liều/164.000 liều.
Sau hơn một năm giá lợn giảm sâu khiến người chăn nuôi thua lỗ nặng.  Từ đầu năm 2018 đến tháng 4/2018 chỉ số giá bán sản phẩm chăn nuôi của người sản xuất đạt quý sau tăng hơn quý trước, trong đó giá thịt gà hơi không giảm mà tăng cao so với năm trước nên người chăn nuôi gà có nhiều thuận lợi hơn.
Tính tại thời điểm 20/5/2018, giá thịt lợn hơi dao động ở mức 48 đến 50 nghìn đồng/kg, tăng 41% so tháng trước và thịt gà hơi công nghiệp lông trắng ở mức 49 nghìn đồng/kg, tăng 27,3% so với tháng trước. So với cùng kỳ, giá lợn thịt hơi gấp 2,2 lần và giá lợn giống tăng khoảng 50%; thịt gà hơi công nghiệp tăng 92,2% cùng kỳ.
Do vậy trong thời gian tới nếu giá lợn hơi tiếp tục tăng hoặc duy trì mức cao ổn định thì khả năng mức tái đàn sẽ phục hồi và tăng đàn nhanh. Ngành chức năng khuyến cáo người dân cần theo dõi tình hình thị trường, tránh tư tưởng nóng vội và không tái đàn ồ ạt. Tiếp tục triển khai công tác quản lý giống vật nuôi trên địa bàn tỉnh và hướng dẫn các địa phương thực hiện nhiệm vụ quản lý và sản xuất chăn nuôi, giống vật nuôi và môi trường chăn nuôi trên địa bàn tỉnh. Công tác kiểm dịch vận chuyển, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh an toàn thú y được duy trì thực hiện.
3. Lâm nghiệp
Công tác trồng rừng: Tính đến 17/5/2018 công tác chuẩn bị trồng mới  đang được triển khai. Công tác thiết kế diện tích rừng đủ điều kiện đưa vào trồng rừng được 3.022ha/3.040 ha, đạt 99,4% kế hoạch. Diện tích rừng trồng mới đạt 2.500 ha, bằng 82,24% kế hoạch cả năm. Tiến độ trồng rừng năm nay chậm hơn so với cùng kỳ là do kế hoạch triển khai chậm. Tính đến trung tuần tháng 5/2018 công tác thiết kế mới trồng rừng đạt 95,5% kế hoạch, xử lý thực bì đạt 92,7%; cuốc hố đạt 91,8% và cấp cây giống đạt 84,2% kế hoạch.
Tình hình khai thác lâm sản: Ước tính 5 tháng đầu năm 2018 sản lượng gỗ khai thác đạt khoảng 57 nghìn m3 các loại, tăng 3,45% so cùng kỳ; củi đạt 67,2 nghìn ste. Riêng tháng 5/2018 khai thác ước đạt 11,1 nghìn m3 gỗ các loại, tăng 2,8% so cùng kỳ và sản lượng củi khai thác ước đạt 12,8 nghìn ste, tăng 5,5% so cùng kỳ.
Công tác quản lý bảo vệ rừng:  Trong tháng trên địa bàn hiện không xảy ra cháy rừng. Tháng 4/2018 ngành chức năng đã xử lý 15 vụ vi phạm luật Bảo vệ và phát triển rừng (giảm 66% so cùng kỳ); tịch thu 15 m3 gỗ quy tròn các loại; 04 phương tiện các loại và thu nộp ngân sách nhà nước 328 triệu đồng, tăng 13% so cùng kỳ.
II. Sản xuất công nghiệp
Do chỉ số tiêu thụ sản phẩm công nghiệp tháng vừa qua (tháng 4/2018) giảm 37,9% so với cùng kỳ; trong khi đó nhịp độ sản xuất công nghiệp vẫn tiếp tục được duy trì dẫn đến chỉ số tồn kho của tháng 4/2018 tăng 61,2% so với cùng kỳ. Cụ thể lượng tồn kho của các đơn vị sản xuất công nghiệp tính đến đầu tháng 5/2018 là: điện thoại thông minh và máy tính bảng tồn kho 3,2 triệu sản phẩm, tăng 1,2% so với cùng kỳ nhưng cao gấp 4 lần so với tháng trước; sản phẩm may tồn 5,8 triệu sản phẩm, giảm 16% so với cùng kỳ nhưng tăng 2,6% so với tháng trước; xi măng tồn 41,8 nghìn tấn, tăng 23% so với cùng kỳ và giảm 16,8% so với tháng trước; sắt thép các loại tồn 221 nghìn tấn tăng 54,3% so với cùng kỳ và tăng 7,4% so với tháng trước…
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 5/2018 ước tính tăng 2,6% so với tháng trước, tăng 12,1% so với cùng kỳ. Trong đó, công nghiệp chế biến chế tạo tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 12,3% so với cùng kỳ; sản xuất phân phối điện tăng 1,9% so với tháng trước và tăng 9,6% so với cùng kỳ; cung cấp nước và hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,5% so với tháng trước và tăng 2,5% so với cùng kỳ. Riêng ngành khai khoáng tăng 2,6% so với tháng trước nhưng giảm 2,1% so với cùng kỳ (do khai thác quặng sắt giảm).
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất trong tháng 5/2018: Nhóm sản phẩm sản xuất ước tính tăng trên 10% so với cùng kỳ là: sắt thép các loại đạt 138,8 nghìn tấn, tăng 68,3%; thiết bị và dụng cụ khác trong y khoa đạt 133 triệu sản phẩm, tăng 66,8%; sản phẩm may đạt 6 triệu sản phẩm, tăng 16,1%; than khai thác đạt 131,4 nghìn tấn, tăng 11,8%; điện sản xuất đạt 154 triệu Kwh, tăng 10,8%... Nhóm sản phẩm tăng dưới 10% hoặc giảm hơn so với cùng kỳ là: điện thương phẩm đạt 390 triệu Kwh, tăng 7,1%; gạch xây dựng bằng gốm, sứ đạt 6,5 triệu viên, tăng 2,7%; nước máy thương phẩm đạt 3 triệu m3, tăng 2,2%; máy tính bảng đạt 2,1 triệu sản phẩm, tăng 1,4%; xi măng đạt 181,5 nghìn tấn, tăng 0,1%; đồng tinh quặng (Cu>20%) đạt 3,9 nghìn tấn, giảm 1,4%; Vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 1,6 nghìn tấn, giảm 9,2%; quặng sắt 183 nghìn tấn, giảm 13,4%… Riêng sản phẩm điện thoại thông minh đạt 8,4 triệu sản phẩm, giảm 5% so với cùng kỳ, giảm chủ yểu ở nhóm điện thoại có giá dưới 3 triệu đồng/1 sản phẩm giảm 28,2%; còn lại nhóm sản phẩm có giá trị trừ 3 triệu đồng/1 sản phẩm vẫn tiếp tục tăng cao và tăng 17,2% so với cùng kỳ.
Tính chung 5 tháng đầu năm 2018, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 12,1% so với cùng kỳ. Trong đó, công nghiệp chế biến chế tạo tăng 12,1% (tăng cao ở các ngành sản xuất như: sản xuất trang phục, chế biến gỗ và sản xuất giấy); sản xuất phân phối điện tăng tăng 11,4%; ngành công nghiệp khai khoáng tăng 8,4%; cung cấp nước và hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,3%...
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu tính chung 5 tháng đầu năm 2018, nhóm các sản phẩm công nghiệp tăng trên 10% so với cùng kỳ là: thiết bị và dụng cụ trong y khoa đạt 608 triệu sản phẩm, tăng 74,3%; than sạch khai thác đạt 648 nghìn tấn, tăng 23,9% và bằng 54% kế hoạch cả năm; sắt thép các loại đạt 663 nghìn tấn, tăng 23,7%, bằng 47,4% kế hoạch; sản phẩm may đạt 27,4 triệu sản phẩm, tăng 15,9% và bằng 45% kế hoạch; điện sản xuất đạt 719 triệu Kwh, tăng 13,1%; đồng tinh quặng (Cu>20%) đạt 17,5 nghìn tấn, tăng 11%... Nhóm sản phẩm đạt sản lượng tăng dưới 10%  hoặc giảm so với cùng kỳ là: điện thương phẩm (phân phối điện) đạt 1.816 triệu Kwh, tăng 7,5%; nước máy thương phẩm đạt 13,9 triệu m3, tăng 5,7%; xi măng đạt 846 nghìn tấn, tăng 0,4%, bằng 38,5% kế hoạch; gạch xây dựng bằng gốm, sứ đạt 27,4 triệu viên, giảm 10,5%; Vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 7,5 nghìn tấn, giảm 15,7%... Riêng nhóm điện thoại thông minh và máy tính bảng đạt 46,1 triệu sản phẩm, bằng 33,4% kế hoạch; bao gồm, điện thoại thông minh 38,3 triệu sản phẩm, giảm 4,9% cùng kỳ (do giảm 26,8% ở nhóm điện thoại có giá dưới 3 triệu đồng/1 sản phẩm, còn nhóm điện thoại có giá từ 3 triệu đồng/1 sản phẩm trở lên tăng 22,3% cùng kỳ); máy tính bảng 7,8 triệu sản phẩm, giảm 13% cùng kỳ.
III. Thương mại, dịch vụ, giá cả
1. Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội
Tháng 5/2018 thị trường hàng hóa, dịch vụ chịu tác động của điều chỉnh giá xăng dầu, bên cạnh đó nhu cầu tiêu dùng về mua sắm, du lịch tăng do yếu tố mùa vụ đã thúc đẩy tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn tỉnh tháng 5 năm 2018 ước đạt 2.573,5 tỷ đồng, tăng 1,1% so với tháng trước, tăng 9,8% so với cùng kỳ. Trong đó khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 175,3 tỷ đồng, tăng 1% so với tháng trước nhưng giảm 10% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 2.388 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 92,8% thị phần bán lẻ), tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 11,6% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 9,8 tỷ đồng, tăng 3,5% so với tháng trước và tăng 9,7% so với cùng kỳ.
Tính chung 5 tháng đầu năm 2018 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước đạt 12.914 tỷ đồng, tăng 11,8% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước 869,4 tỷ đồng, tăng 14,1%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 11.978 tỷ đồng (chiếm 92,9%), tăng 11,7%. Còn lại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 46,9 tỷ đồng, tăng 7,7% so với cùng kỳ.
Nếu chia theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ 5 tháng đầu năm 2018 ước đạt 10.416 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 80,7%), tăng 13% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú và ăn uống, du lịch lữ hành ước đạt 1.111 tỷ đồng (chiếm 8,6% trong tổng mức), tăng 7,8% so với cùng kỳ; còn lại ngành dịch vụ tiêu dùng khác 1.387 tỷ đồng (chiếm 10,7% tổng số), tăng 6,9% so với cùng kỳ.
Hầu hết các mặt hàng thiết yếu bán lẻ, phục vụ nhu cầu tiêu dùng 5 tháng đầu năm 2018 đều có mức tiêu thụ tăng trên 10% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó nhóm lương thực, thực phẩm bán lẻ ước đạt 3.281 tỷ đồng (chiếm 31,5% trong tổng mức bán lẻ), tăng 13,5% so với cùng kỳ; nhóm xăng dầu các loại ước đạt 1.214 tỷ đồng (chiếm 11,7% trong tổng mức bán lẻ), tăng 9,4%; nhóm đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình 1.196 tỷ đồng, tăng 12,4%; nhóm ô tô các loại 1.092 tỷ đồng, tăng 13,8%; nhóm hàng may mặc 831 tỷ đồng, tăng 17,9%; nhóm phương tiện đi lại (trừ ô tô) là 727,8 tỷ đồng, tăng 12,1%; mặt hàng đá quý, kim loại quý 202,4 tỷ đồng, tăng 12,2% so với cùng kỳ…
2. Xuất nhập khẩu
a. Xuất khẩu
Giá trị xuất khẩu trên địa bàn tháng 5/2018 ước đạt 2,32 tỷ USD, tăng 9,7% so với tháng trước và tăng 2,6% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu đạt 26,2 triệu USD, giảm 1,1% so với cùng kỳ và giảm 0,5% so với tháng trước; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2,30 tỷ USD (bằng 98,9% tổng kim ngạch xuất khẩu), tăng 9,8% so với tháng trước và tăng 2,7% so với cùng kỳ. Nhóm hàng xuất khẩu ước tính tăng so với cùng kỳ là: phụ tùng vận tải đạt 388 nghìn USD, tăng 26,4% so với cùng kỳ; linh kiện điện tử và phụ tùng khác đạt 480,2 triệu USD, tăng 17,5%; sản phẩm may đạt 19,1 triệu USD, tăng 13,8%; giấy và các sản phẩm từ giấy đạt 255 nghìn USD, tăng 11,8%; kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 21,1 triệu USD, tăng 8,2%; sản phẩm từ sắt thép đạt 4,6 triệu USD, tăng 4,8%... Riêng nhóm điện thoại các loại và linh kiện xuất khẩu ước đạt 2,17 tỷ USD, giảm 2% so với cùng kỳ.
Tính chung 5 tháng đầu năm 2018, tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn ước đạt 10,74 tỷ USD, tăng 11% so với cùng kỳ và bằng 43% kế hoạch cả năm. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước là 128,4 triệu USD, tăng 20% so với cùng kỳ, bằng 33,6% kế hoạch cả năm; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 10,61 tỷ USD, tăng 10,9%, bằng 43,1% kế hoạch.
Mặt hàng xuất khẩu đạt giá trị lớn là Điện thoại các loại và linh kiện ước đạt 10,5 tỷ USD (chiếm 97,8% tổng số), tăng 11% cùng kỳ (bao gồm điện thoại 36,8 triệu sản phẩm với giá trị đạt 7,22 tỷ USD, giảm 2% về lượng nhưng tăng 9% về giá trị; máy tính bảng đạt 7,6 triệu sản phẩm với giá trị đạt 1,11 tỷ USD, giảm 9% về lượng và giảm 1% về giá trị; linh kiện điện tử và phụ tùng khác đạt 2,18 tỷ USD, tăng 27,3% cùng kỳ); kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 102,8 triệu USD, tăng 17,6% và bằng 57,1% kế hoạch (trong đó Volfram và sản phẩm Volfram chiếm khoảng 70% giá trị, còn lại là khoáng Fluorit, Bismuth cement…); sản phẩm may đạt 88 triệu USD, tăng 8,1%; sản phẩm từ sắt thép đạt 21,3 triệu USD, giảm 0,3%...
b. Nhập khẩu
Giá trị nhập khẩu trên địa bàn tháng 5/2018 ước đạt 1,18 tỷ USD, tăng 7,6% so với cùng kỳ và tăng 9,2% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước ước đạt 32,3 triệu USD, tăng 34% so với cùng kỳ (chủ yếu do phát sinh nhập khẩu sắt thép và thép phế liệu); khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,15 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ.
Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tháng 5/2018 tăng cao so với cùng kỳ: giấy các loại đạt 315 nghìn USD, gấp 5,5 lần cùng kỳ; vải các loại đạt 10,8 triệu USD, tăng 8,9%; nguyên liệu và linh kiện điện tử đạt 1,13 tỷ USD, tăng 7,8%; Sắt thép 20 nghìn tấn và thép phế liệu 24,6 nghìn tấn với giá trị 18,7 triệu USD (cùng kỳ không nhập)... Còn lại các mặt hàng khác giảm so với cùng kỳ: chất dẻo (plastic) nguyên liệu ðạt 7,6 triệu USD, giảm 31,4%; máy móc thiết bị và dụng cụ phụ tùng ðạt 4,6 triệu USD, giảm 53,3%; sản phẩm từ sắt thép ðạt 1,9 triệu USD, giảm 62,8%; nguyên liệu chế biến thức ãn gia súc ðạt 2,6 triệu USD, giảm 77,8% cùng kỳ.
Tính chung 5 tháng đầu năm 2018, giá trị nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn đạt 6,13 tỷ USD, tăng 6,4% so với cùng kỳ. Chia theo khu vực kinh tế, khu vực kinh tế trong nước đạt 103,6 triệu USD, tăng 19,6% so với cùng kỳ, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 6,02 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 98,3% tổng giá trị nhập khẩu), tăng 6,2% cùng kỳ.
Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu 5 tháng đầu năm 2018: nguyên liệu và linh kiện điện tử đạt 5,93 tỷ USD, tăng 6,7% so với cùng kỳ; vải và nguyên phụ liệu may mặc đạt 52,7 triệu USD, tăng 3,2%; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 34,2 triệu USD, tăng 68,6%; sắt thép và thép phế liệu nhập khẩu sau thời gian dài không nhập khẩu thì đến nay mới phát sinh, ước đạt 89,3 nghìn tấn với giá trị 37,3 triệu USD, gấp 40 lần cùng kỳ; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 12,8 triệu USD, giảm 57,7%; sản phẩm từ sắt thép đạt 10 triệu USD, giảm 72,5%…
3. Giá tiêu dùng
Do tác động chủ yếu của tăng giá các mặt hàng như xăng dầu và nhóm thực phẩm tươi sống nên chỉ số giá tiêu dùng 5/2018 so với tháng trước tăng 0,77%, đây là tháng có chỉ số giá tăng cao nhất so với các tháng từ đầu năm. Chỉ số giá tháng 5/2018 tăng 3,25% so với tháng cùng kỳ; tăng 1,96% so với tháng 12 năm 2017 và bình quân 5 tháng 2018 tăng 1,68% so với bình quân cùng kỳ.
So với tháng trước, trong tháng 5/2018 có 6/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, trong đó nhóm có chỉ số giá tăng cao nhất là hàng ăn và dịch vụ ăn uống với mức tăng 1,6% (do giá thịt lợn tăng 9,6% nên chỉ số giá nhóm thịt gia súc tươi sống tăng 7,28%; thịt gia cầm tươi sống tăng 0,56%; các loại thịt chế biến tăng 6,35%); tiếp đến nhóm giao thông tăng 1,51% (do giá xăng dầu tăng 3,74%); nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,37% (do giá gas tăng 2%); có 2 nhóm tăng trong khoảng từ 0,16% đến 0,19% là nhóm đồ uống và thuốc tăng 0,16%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,19%. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng nhẹ, tăng 0,04%. Có 01 nhóm giảm là nhóm hàng hóa và dịch vụ khác, giảm nhẹ và giảm 0,01% (do chỉ số giá nhóm đồ trang sức giảm 0,8%). Còn lại 4 nhóm tương đương tháng trước như: nhóm thuốc và dịch vụ y tế; nhóm bưu chính viễn thông; nhóm giáo dục và nhóm văn hóa, giải trí.
So với cùng kỳ (tháng 5/2017), chỉ số giá tiêu dùng tháng 5/2018 tăng 3,22%. Có 10/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, trong đó nhóm chỉ số giá tăng cao nhất là giao thông tăng 6,84% (do giá nhiên liệu tăng 18,05%); nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,56% (do giá đồ trang sức tăng 8,32%; dịch về hiếu hỉ tăng 8,59%; giá dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 5,1%; dịch vụ khác tăng 4,61%); nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,37% (do giá nước sinh hoạt và dịch vụ nước tăng 6,87%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 4,99%); nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,93% (do giá gạo tăng 8,96%; thịt gia súc tươi sống tăng 8,53%; mỡ ăn tăng 25,4%); nhóm giáo dục tăng 3,39% (do giá văn phòng phẩm tăng 4,29%, giá dịch vụ giáo dục tăng 3,19%); có 5 nhóm tăng trong khoảng 0,9% đến 1,35% như: nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,9%; nhóm may mặc tăng 1,2%; nhóm văn hóa, du lịch tăng 1,32% (do giá du lịch trọn gói tăng 2,71%); nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,35% (do giá bia các loại tăng 2,6%). Có 1 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm là nhóm bưu chính viễn thông, giảm 0,19% (do giá  thiết bị điện thoại giảm 1,06%).
So với tháng 12/2017, chỉ số giá tiêu dùng tăng 1,96%. Có 9/11 nhóm  hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng. Tăng nhiều nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,73% (do giá thịt gia súc tươi sống tăng 11,25%); nhóm giao thông tăng 3,86% (do giá nhiên liệu tăng 8,48%); nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,85% (do giá dịch vụ hiếu hỉ tăng 6,37%); có 5/11 nhóm hàng hóa tăng trong khoảng 0,07% đến 1,08% như nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,07%; nhóm thiết bị và đồ dùng tăng 0,35%; nhóm  đồ uống và thuốc lá tăng 0,61%.... có 01 nhóm giảm là nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,41% (do giá quần áo may sẵn giảm 0,63%); nhóm bưu chính viễn thông có chỉ số giá tương đương tháng trước.
 Chỉ số giá vàng: Chỉ số giá vàng tháng 5/2018 giảm 0,95% so với tháng trước và tăng 4,81% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 5 tháng đầu năm 2018 tăng 6,81% so bình quân cùng kỳ.
Chỉ số giá Đô la Mỹ: Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 5/2018 giảm 0,11% so tháng trước, tăng 0,21% so với cùng kỳ và bình quân 5 tháng đầu năm 2018 tăng 0,15% so với cùng kỳ.
4. Vận tải
 Do bắt đầu vào mùa du lịch và một số doanh nghiệp có những đơn hàng hóa vận chuyển hàng hóa có giá trị lớn nên hoạt động vận tải tăng hơn tháng trước.
- Vận tải hành khách: Số lượng hành khách vận chuyển tháng 5/2018 ước đạt 1,5 triệu lượt hành khách với khối lượng luân chuyển là 86,9 triệu hành khách.km. So với tháng trước tăng 0,5% về số lượng hành khách vận chuyển và tăng 0,4%  hành khách luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 7,8% về số lượng hành khách vận chuyển và tăng 7,2% về số hành khách luân chuyển. Tính chung 5 tháng đầu năm 2018, số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 7,3 triệu người với 421,6 triệu lượt khách.km, tăng 8,1% về số lượng hành khách vận chuyển và tăng 7,7% về hành khách luân chuyển so với cùng kỳ.
- Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 5/2018 ước đạt 3,3 triệu tấn với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 130,6 triệu tấn.km; so với tháng trước tăng 8% về số hàng hóa vận chuyển và số lượng hàng hóa luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 8,5% về khối lượng hàng hóa vận chuyển và tăng 7,4% về khối lượng hàng hóa luân chuyển. Tính chung 5 tháng đầu năm 2018, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 15,5 triệu tấn với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 624,6 triệu tấn.km, tăng 7% so với cùng kỳ về khối lượng vận chuyển và tăng 7,3% về khối lượng luân chuyển.
Tổng doanh thu vận tải trên địa bàn tháng 5/2018 ước đạt 318,7 tỷ đồng, tăng 6,4% so với tháng trước và tăng 7,5% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 59,3 tỷ đồng, tăng 7,3% so cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 243,9 tỷ đồng, tăng 8% so với tháng trước và tăng 7,5% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 15,5 tỷ đồng, tăng 6,5% so với tháng trước và tăng 9,9% so với cùng kỳ.
Tính chung doanh thu vận tải 5 tháng đầu năm 2018 ước đạt 1.532,4 tỷ đồng, tăng 7,3% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải  hàng hóa ước đạt 1.170,2 tỷ đồng (chiếm 76,4% tổng số), tăng 7,5% cùng kỳ; vận tải hành khách ước đạt 288,1 tỷ đồng, tăng 7,8% và doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 74,1 tỷ đồng, tăng 3,1%.
IV. Thu chi ngân sách, ngân hàng
1. Thu ngân sách
- Thu ngân sách Nhà nước: Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh 4 tháng đầu năm 2018 đạt 4.635,7 tỷ đồng, giảm 0,6% so với cùng kỳ và bằng  35,4% so với dự toán cả năm. Trong đó thu trong cân đối đạt 4.624,9 tỷ đồng, giảm 0,9% so cùng kỳ, bằng 35,3% dự toán năm; Thu quản lý qua ngân sách đạt 10,8 tỷ đồng.
Trong tổng thu  cân đối,  thu nội địa đạt 3.721,1 tỷ đồng, giảm 3,3% so với cùng kỳ và bằng 37,5% so với dự toán; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 903,9 tỷ đồng, tăng 10,6% so với cùng kỳ, bằng 28,2% so với dự toán cả năm 2018.
Trong thu nội địa, có 6/14 khoản thu tăng so với cùng kỳ, trong đó thu từ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đạt 1,4 tỷ đồng, tăng gấp 3,9 lần so cùng kỳ và bằng 11,6% dự toán năm;  thu khác ngân sách đạt 83,3 tỷ đồng, gấp 2,3 lần  so cùng kỳ và bằng 50,5% dự toán cả năm; đóng góp nhiều nhất vào thu nội địa 4 tháng đầu năm  là thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.087 tỷ đồng, tăng 18,8% (chiếm tỷ trọng 29,2%) và bằng 34,3% dự toán năm. Còn lại 8/14 khoản thu đạt thấp hơn so với tháng 4/2017 như: thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 3,6%; thu từ dịch vụ ngoài nhà nước giảm 11,5%; thu cấp quyền sử dụng đất giảm 33%; thu phí, lệ phí giảm 19,5%…
- Chi ngân sách Địa phương: Tổng chi ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh Bốn tháng đầu năm 2018 đạt 2.713,5 tỷ đồng, tăng 15,7% so với cùng kỳ và bằng 19,6% dự toán cả năm, trong đó chi cân đối ngân sách địa phương đạt 2.580,5 tỷ đồng tăng 14,4% so cùng kỳ và bằng 21,3% dự toán cả năm; chi chương trình mục tiêu quốc gia đạt 133 tỷ đồng, tăng gấp 1,5 lần so cùng kỳ, bằng 7,8% dự toán cả năm.
Trong chi cân đối ngân sách địa phương, chi đầu tư phát triển đạt 482,4 tỷ đồng, giảm 4,8% so cùng kỳ, bằng 20,5% dự toán cả năm; chi thường xuyên đạt 2.098 tỷ đồng, tăng  19,9% so cùng kỳ, bằng 26,7% dự toán năm.
Trong tổng chi thường xuyên có 9/11 khoản chi tăng so cùng kỳ như: chi lớn nhất là chi sự nghiệp giáo dục đào tạo và dạy nghề đạt 808,5 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 38,5%), tăng 13,7% so cùng kỳ, bằng 24,2% dự toán cả năm; chi quản lý hành chính đạt 516,8 tỷ đồng (chiếm  tỷ trọng 24,6%), tăng 13,1% so cùng kỳ, bằng 34,4% dự toán năm; chi sự nghiệp y tế, dân số và gia đình đạt 255,4 tỷ đồng, tăng 35,6% so cùng kỳ và bằng 27,9% dự toán năm; chi sự nghiệp kinh tế đạt 196 tỷ đồng, tăng 42,9% so cùng kỳ và bằng 22,9% dự toán; chi bảo vệ môi trường đạt 77,8 tỷ đồng, tăng gấp 3,6 lần so cùng kỳ và bằng 20,9% dự toán. Trong các khoản chi 4 tháng đầu năm 2018, chi cho sự nghiệp khoa học và công nghệ đạt 18,9 tỷ đồng, tăng 4,5% so cùng kỳ và bằng 68,1% dự toán năm. Còn lại có 2/11 khoản thu đạt thấp so với cùng kỳ như: Chi quốc phòng an ninh địa phương giảm 18,7% so cùng kỳ; chi khác của ngân sách đạt 7,5 tỷ đồng, giảm 72% so cùng kỳ.
2. Ngân hàng
- Tình hình thực hiện lãi suất: Lãi suất huy động VNĐ của các TCTD phổ biến ở mức 0,8-1%/năm đối với lãi suất huy động tiền gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng, từ 4,5-5,3%/năm đối với kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng, từ 5,3-8%/năm đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VNĐ đối với các lĩnh vực ưu tiên là 6-6,5%/năm đối với cho vay ngắn hạn và 9-10%/năm đối với cho vay trung và dài hạn. Lãi suất cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,8-9%/năm đối với ngắn hạn, từ 9,3-11%/năm đối với trung và dài hạn.
- Hoạt động huy động vốn: Nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (không bao gồm ngân hàng Phát triển) đến 30/4/2018 đạt 49,6 nghìn tỷ đồng, tăng 5,75% so với 31/12/2017. Ước đến 31/5/2018 đạt 50 nghìn tỷ đồng, tăng 6,65% so với 31/12/2017.
- Dư nợ cho vay của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (không bao gồm ngân hàng Phát triển) đến 30/4/2018 đạt 48,2 nghìn tỷ đồng, tăng 4,38% so với 31/12/2017. Ước đến 31/5/2018 dư nợ cho vay đạt 48,6 nghìn  tỷ đồng tăng 5,24% so với 31/12/2017. Nợ xấu 436 tỷ đồng chiếm 0,9%/tổng dư nợ.
Tính riêng cho vay nông nghiệp, nông thôn: Kết quả dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn với dư nợ đạt 12.659 tỷ đồng với 176.235 khách hàng còn dư nợ, chiếm tỷ trọng 24,14%/tổng dư nợ trên địa bàn. Trong đó Cho vay xây dựng nông thôn mới với doanh số cho vay đạt 2.195 tỷ đồng, doanh số thu nợ 1.919 tỷ đồng, dư nợ đạt 9.227 tỷ đồng với 139.594 hộ dân, 284 doanh nghiệp và 15 hợp tác xã còn dư nợ.
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin tuyên truyền
Ngành chức năng và các địa phương đã tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật và thực hiện công tác tuyên truyền chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn và các sự kiện quan trọng của tỉnh như: 128 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 64 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Quốc tế lao động 1/5; triển khai kế hoạch tổ chức các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 - 11/6/2018)… đồng thời chú trọng triển khai thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền phục vụ Hội nghị xúc tiến đầu tư của tỉnh.
Hoạt động bảo tồn, bảo tàng và phát huy các giá trị di sản văn hoá: Hoàn thiện nội dung Dự án tu bổ, tôn tạo di tích Địa điểm lưu niệm các Thanh niên xung phong Đại đội 915 hy sinh; tổ chức Hội thảo khoa học Đại  đội 915 anh hùng; tiếp tục thực hiện việc khảo sát, sưu tầm khai thác thông tin tư liệu, hiện vật về thanh niên xung phong tỉnh Bắc Thái (Đại đội 915). Tổ chức trưng bày triển lãm "Chủ tịch Hồ Chí Minh- Anh hùng giải phòng dân tộc Việt Nam, nhà văn hóa kiệt xuất". Phối hợp với Viện khảo cổ học tổ chức nghiên cứu chỉnh lý sau khai quật di chỉ mái đá Ngườm (xã Thần Sa, huyện Võ Nhai); sưu tầm được 38 hiện vật (đợt I); phục vụ 900 lượt khách tham quan tại  Bảo tàng, Không gian văn hoá Trà (13 lượt  khách nước ngoài)…
Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm: Ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra hoạt động 01 doanh nghiệp lữ hành, xử phạt vi phạm hành chính nộp ngân sách nhà nước 04 triệu đồng, kiểm tra 02 cơ sở kinh doanh karaoke tại thành phố Thái Nguyên. Công tác kiểm tra các hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá, du lịch đã chấn chỉnh kịp thời các hành vi sai phạm, góp phần đưa các cơ sở kinh doanh hoạt động theo đúng quy định.
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật, phát hành phim và chiếu bóng: Tổ chức 11 buổi biểu diễn (01 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị; 08 buổi phục vụ đối tượng chính sách và các xã đặc biệt khó khăn, 02 buổi doanh thu). Chuẩn bị chương trình tham gia Hội diễn ca múa nhạc chuyên nghiệp toàn quốc. Thực hiện 76 buổi chiếu phim, trong đó có 05 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị, 71 buổi phục vụ các xã vùng khó khăn, đối tượng chính sách; phục vụ 3.040 lượt người xem.
Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở: Tham gia Liên hoan hát Then, đàn Tính các dân tộc Tày-Nùng-Thái toàn quốc lần thứ VI năm 2018 (đạt 02 giải A, 01 giải B, 02 giải C), được Bộ Văn hóa thể thao và du lịch tặng Bằng khen. In, sao đĩa tuyên truyền kỷ niệm 1.050 năm nhà nước Đại Cồ Việt gửi các huyện, thành phố, thị xã.Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ chuyên môn các Nhà văn hóa, Trung tâm Văn hoá Thể thao cơ sở; khảo sát điểm xây dựng điểm mô hình, mẫu hình hoạt động văn hóa văn nghệ, nhà văn hóa; duy trì hoạt động của các CLB văn hoá, thể thao.
Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng Nông thôn mới được triển khai, tổ chức thực hiện đánh giá 01 năm thực hiện Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 29/3/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình; 05 năm thực hiện Đề án "Tổ chức các hoạt động nhân Ngày Quốc tế hạnh phúc 20/3 hằng năm” và đánh giá kết quả thực hiện các tiêu chí văn hóa trong Bộ tiêu chí Quốc gia về xã nông thôn mới và công tác xây dựng đời sống văn hóa trong xây dựng nông thôn mới.
Lĩnh vực thể thao: Đăng cai tổ chức giải Cầu lông Câu lạc bộ các tỉnh, thành, ngành toàn quốc năm 2018 - tranh cúp Thành Công. Xây dựng kế hoạch tham gia Đại hội thể dục thể thao toàn quốc lần thứ VIII/2018.Tổ chức tập huấn bơi cứu hộ, cứu nạn cho nhân viên các cơ sở tổ chức hoạt động bơi, lặn trên địa bàn tỉnh. Tổ chức bế mạc Đại hội thể dục thể thao cấp tỉnh; phối hợp tổ chức các giải cấp ngành... Tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo 161 học sinh năng khiếu hệ nội trú, 40 học sinh bán trú. Đội tuyển điền kinh tham gia thi đấu theo kế hoạch; thực hiện sơ tuyển học sinh tại các địa phương trên địa bàn tỉnh.
Các đội tuyển, thể thao thành tích cao duy trì công tác quản lý, huấn luyện, kiểm tra việc tập luyện của các đội tuyển. Đạt 05 huy chương các loại (01 HCB, 02 HCĐ tại giải đua thuyền Cúp canoeing nữ vô địch thế giới tại Hungary; 02 HCĐ giải boxing cúp CLB toàn quốc). Các đội tuyển (bóng đá nữ, đẩy gậy, boxing, đua thuyền…) tập luyện tham gia thi đấu các giải toàn quốc theo kế hoạch.
2. Tình hình thực hiện chính sách xã hội, giảm nghèo và cứu trợ xã hội.
- Công tác thực hiện chính sách xã hội, giảm nghèo và đối tượng bảo trợ xã hội: Ngành chức năng đã kế hoạch tổ chức tuyển dụng cho khoảng 5.000 người lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn tỉnh chưa có việc làm trong năm 2018 được làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, như Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên. Xây dựng, ban hành Kế hoạch liên ngành tổ chức Hội thi Tuyên truyền viên giỏi về Chương trình giảm nghèo bền vững tỉnh Thái Nguyên năm 2018”. Chủ trì, phối hợp với Ban đại diện Hội người cao tuổi tỉnh ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện “Tháng hành động vì người cao tuổi Việt Nam” năm 2018 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;
- Thực hiện chính sách người có công: Thực hiện thủ tục di chuyển đi, đến 14 trường hợp; khai thác hồ sơ chuyển cán bộ chuyên môn 500 hồ sơ; Giải quyết đơn thư 2 trường hợp; kiểm tra hồ sơ quyết định giảm và trợ cấp mai táng phí Người có công là 48 trường hợp ...Đề nghị Bộ ngành Trung ương cấp kinh phí hỗ trợ một lần đối với đối tượng Tiền khởi nghĩa và 11 trường hợp trợ cấp một lần theo quy định hiện hành. Tổ chức đưa đối tượng Người có công với cách mạng đi điều dưỡng tập trung theo kế hoạch.
3. Lao động, việc làm và An toàn lao động
Trong tháng 5/2018, trên địa bàn đã Tổ chức Lễ phát động hưởng ứng Tháng hành động về An toàn - vệ sinh lao động năm 2018 tỉnh Thái Nguyên. Tại Lễ phát động đã khen thưởng cho 285 tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác an toàn - Vệ sinh lao động năm 2017. Ngành chức năng tiếp tục kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về An toàn - vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ năm 2018.
Thực hiện công tác quản lý các tổ chức, đơn vị có liên quan đến lao động nước ngoài và xuất khẩu lao động như: Giới thiệu 01 Doanh nghiệp xuất khẩu lao động về các địa phương tuyển chọn trực tiếp và đào tạo, giáo dục định hướng cho lao động đi làm việc ở nước ngoài.Tiếp nhận, thẩm định ra thông báo chấp thuận cho 13 lượt đơn vị được sử dụng lao động là người nước ngoài, trong đó có 06 đơn vị chấp thuận thay đổi, bổ sung nhu cầu; cấp giấy phép lao động cho 17 lao động nước ngoài, trong đó cấp mới 10 trường hợp và cấp lại 07 trường hợp…
4. Bảo vệ Chăm sóc trẻ em và Bình đẳng giới
Ngành chức năng tổ chức 09 lớp tập huấn hướng dẫn sử dụng sổ theo dõi trẻ em trong gia đình và việc cập nhật, quản lý, lưu trữ thông tin trên phần mềm quản lý trẻ em ở cơ sở theo Luật trẻ em tại các huyện, thành phố, thị xã.
 Phối hợp với Bệnh viện tim tiến hành phẫu thuật cho trẻ em trong chỉ định theo danh sách khám sàng lọc tháng 4/2018. Chuẩn bị các công việc để tổ chức Lễ phát động Tháng hành động vì trẻ em năm 2018 với chủ đề “Vì cuộc sống an toàn, lành mạnh cho trẻ em trong thế giới công nghệ số” và tiếp nhận thu Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh Thái Nguyên; xây dựng kế hoạch về việc thăm, tặng quà trẻ em nhân ngày Quốc tế thiếu nhi 01/6.
5. Công tác y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng chống dịch bệnh
Từ đầu năm đến nay công tác phòng chống dịch và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm được duy trì triển khai. Trong tháng trên địa bàn không có dịch lớn xảy ra, không có vụ ngộ độc thực phẩm hàng loạt. Tính chung từ đầu năm đến thời điểm ngày 20/5/2018, bệnh Tay chân miệng có 23 ca; quai bị là 156 ca; sốt xuất huyết 3 ca; sốt phát ban dạng sởi là 03 ca; thủy đậu 118 người mắc. Tính riêng trong tháng 5/2018 (từ ngày 01/5 đến ngày 20/5) có 10 người mắc mới bệnh tay chân miệng; sốt phát ban dang sởi 01 người
- Chương trình tiêm chủng mở rộng: Hoạt động triển khai tiêm chủng tại các huyện, thành, thị được duy trì thường xuyên, công tác tiêm chủng mở rộng cơ bản an toàn, việc dự trù, bảo quản, sử dụng vắc xin đảm bảo theo quy định.
- Công tác khám chữa bệnh: Các hoạt động khám chữa bệnh, thực hiện quy chế chuyên môn tại các bệnh viện được duy trì tốt. Chất lượng khám chữa bệnh tại các bệnh viện tiếp tục được chú trọng, biểu hiện thông qua công tác cải tiến dây chuyền khám, chữa bệnh, nâng cao chất lượng xét nghiệm, chấn chỉnh công tác quản lý và xử lý chất thải y tế, vệ sinh môi trường, chống nhiễm khuẩn; Áp dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ thông tin trong phục vụ người bệnh, giảm số bệnh nhân phải nằm ghép sau 24h nhập viện.
- Dân số và trẻ em: 4 tháng đầu năm 2018, tổng số  trẻ sinh ra là 5.009 trẻ (giảm 134 trẻ so với cùng kỳ 2017), trong đó số trẻ nam sinh ra là 2.583, trẻ nữ sinh ra là 2.426 trẻ. Tỷ số giới tính khi sinh nam/nữ là 106,4/100. Trong tổng số trẻ sinh ra thì số trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên là 462 trẻ (chiếm 9,22% tổng số trẻ sinh ra) tăng 65 trẻ so với cùng kỳ  2017. Trong đó, huyện Phú bình có số trẻ sinh ra là con thứ 3 là cao nhất với 89 trẻ; TP Thái Nguyên 68 trẻ; huyện Đồng Hỷ 59 trẻ; huyện Đại Từ 54 trẻ.
6. Giáo dục phổ thông
Trong tháng 5/2018 năm 2018, ngành chức năng tổ chức công tác ôn tập, kiểm tra học kỳ 2 cho học sinh các cấp, chuẩn bị công tác bế giảng đối với khối giáo dục phổ thông, mầm non; thực hiện các điều kiện cho công tác thi tuyển vào lớp 10 và kỳ thi Trung học phổ thông quốc gia năm 2018.
Tình hình đăng ký dự thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia năm 2018: Toàn tỉnh có 14.505 hồ sơ đăng ký dự thi, tăng 9,6% (năm 2017 có 13.225 thí sinh). Có 31 điểm thi do Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì với 1.262 cán bộ coi thi; cán bộ giám sát 124 người.
Kỳ thi THPT Quốc gia 2018 với cấu trúc đề thi mới: Ngành chức năng sau khi tập huấn về công tác chuẩn bị thi và kế hoạch ôn tập cho học sinh chuẩn bị cho kỳ thi THPT Quốc gia 2018, 100% các trường THPT, các cơ sở giáo dục có học sinh đăng ký thi Kỳ thi THPT Quốc gia 2018 trên địa bàn tỉnh đã được làm quen với bộ đề thi ôn luyện theo cấu trúc ma trận của đề tham khảo 2018 do Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn. Tính đến 16/5/2018 đã có trên 80% số trường THPT tổ chức thi thử cho học sinh lớp 12 được từ 2-3 lần theo cấu trúc đề thi năm 2018.
Thực hiện đề án xây dựng hệ thống trường đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 2016-2020, tính đến thời điểm 20/05/2018, toàn tỉnh có 548/679 trường đạt chuẩn quốc gia đạt tỷ lệ 80,71 % (về trước 2 năm so với chỉ tiêu Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh giao); Trong đó: Mầm non có 181/230 trường đạt tỷ lệ 78,7%; Tiểu học: 219/ 228 trường đạt tỷ lệ 96,05%; THCS có 132/189 trường đạt tỷ lệ 69,84%;  THPT có 16/32 trường đạt tỷ lệ 50%.
7. Tình hình trật tự, an toàn xã hội
An toàn giao thông: Ngành chức năng đã phối hợp với các đơn vị, địa phương thực hiện đồng bộ hóa các giải pháp bảo đảm an toàn giao thông.
Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh, trong tháng 5/2018 trên địa bàn tỉnh xảy ra 16 vụ tai nạn giao thông (thuộc đường bộ), làm chết 4 người và bị thương 14 người. So với cùng kỳ, số vụ tai nạn tăng 2 vụ (tương đương  +14,29%), giảm 1 người chết và tăng 6 người bị thương. Trong tháng đã kiểm tra lập biên bản xử lý vi phạm 3.876 trường hợp; tước 474 giấy phép lái xe; tạm giữ 124 xe ô tô, 502 xe mô tô; 19 phương tiện khác; số tiền xử phạt 3,7 tỷ đồng (thuộc đường bộ). Về đường thủy nội địa đã xử lý 05 trường hợp vi phạm và thu nộp kho bạc nhà nước 1 triệu đồng. So với tháng trước (tháng 4/2018), cả 3 tiêu chí  đều giảm về số vụ tai nạn, số người bị thương và số người chết; Trong đó có 03 địa phương không xảy ra vụ tai nạn  như: TP Sông công, huyện Võ Nhai và huyện Phú bình.
Tính chung 5 tháng đầu năm 2018, tình hình trật tự an toàn giao thông đường sắt, đường thủy được đảm bảo, không xảy ra tai nạn. Trên đường bộ, đã xảy ra 58 vụ tai nạn giao thông, làm chết 23 người và bị thương 48 người. So với cùng kỳ năm 2017, số vụ tai nạn giao thông giảm 10 vụ (-14,71%); số người chết giảm 8 người (-25,81%); số người bị thương giảm 3 người (-5,88%). Trong đó, thành phố Thái Nguyên xảy ra 30 vụ (chiếm  51,7% tổng số, giảm 2 vụ), có 4 người chết (giảm 3 người so với cùng kỳ) và 31 người bị thương (tăng 4 người); huyện Phú lương xảy ra  6 vụ, có 2 người chết (giảm 2 người so với cùng kỳ) và 3 người bị thương, giảm 5 người;  thị xã Phổ Yên xảy ra 6 vụ, làm chết 5 người  và bị thương 2 người (giảm 2 vụ, tăng 1 người chết và tăng 1 người bị thương);  TP sông Công xảy ra 4 vụ tại nạn, 1 người chết và 3 người bị thương (giảm 1 vụ, giảm 3 người chết).
8. Phòng chống cháy nổ
Các ngành chức năng của Tỉnh đã tiến hành kiểm tra phòng cháy, chữa cháy tại các cơ quan đơn vị trên địa bàn toàn tỉnh; qua kiểm tra đã nhắc nhở những thiếu sót trong phòng cháy chữa cháy và lập biên bản xử lý các trường hợp vi phạm nhằm hạn chế các vụ cháy, nổ xảy ra.
Trong tháng 5 năm 2018 trên địa bàn tỉnh xảy ra 12 vụ cháy, trong đó có 6 vụ cháy xảy ra tại Thành phố Thái Nguyên, 1 vụ tại thành phố Sông công, 2 vụ cháy tại huyện Phú Bình, 3 vụ cháy tại Thị xã Phổ Yên. Ước thiệt hại khoảng 3,4 tỷ đồng.
Tính chung 5 tháng đầu năm 2018, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 65 vụ cháy và 1 vụ nổ khí ga, không có thiệt hại về người. Ước tính tổng giá trị thiệt hại khoảng 9 tỷ đồng.
9. Vi phạm môi trường
Trong tháng 5 năm 2018 trên địa bàn tỉnh ngành chức năng đã kiểm tra và xử lý 4 vụ vi phạm môi trường. Trong đó có 03 vụ tại thành phố Thái nguyên, 01 vụ tại huyện Đại Từ. Tổng số tiền xử phạt khoảng 46,5 triệu đồng.
Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2018, các ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra và xử lý 24 vụ vi phạm môi trường, nguyên nhân của các vụ xử lý trên là do các cơ sở sản xuất kinh doanh không thực hiện quan trắc giám sát môi trường theo đề án bảo vệ môi trường được Sở Tài Nguyên Môi trường xác nhận. Tổng số tiền thu và nộp vào ngân sách nhà nước là 135,5 triệu đồng.
Trên đây là một số tình hình chủ yếu về kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2018./.
 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

CHUYÊN MỤC
dieutradanso2019

hoc tap lam theo HCM

tong cuc thong ke

luat thong ke 1

cong thong tin thai nguyen


Dieu tra DN 2018

anh minh hoa 1
 
anh tuyen dung
Thống kê website
  • Đang truy cập56
  • Hôm nay
  • Tháng hiện tại
  • Tổng lượt truy cập
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây