Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2017

Chủ nhật - 25/02/2018 20:14
   BÁO CÁO
Tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu 6 tháng đầu năm 2017 tỉnh Thái Nguyên
 
 Tình hình kinh tế - xã hội sáu tháng đầu năm 2017 trên địa bàn tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực; các ngành kinh tế vẫn duy trì được đà tăng trưởng và phát triển, nhất là ngành công nghiệp; xuất khẩu tăng so với cùng kỳ và có xuất siêu, các chương trình dự án lớn đã đi vào sản xuất ổn định, một số dự án phát triển đô thị đang được triển khai đầu tư… góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thu ngân sách. An sinh và phúc lợi xã hội được bảo đảm; các chính sách xã hội được quan tâm, thực hiện đầy đủ, tạo điều kiện ổn định và cải thiện đời sống dân cư; trật tự an toàn giao thông được kiểm soát … Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi, hiện nay ngành nông nghiệp phát triển chậm do chăn nuôi gặp khó khăn, ảnh hưởng đến đời sống người chăn nuôi cũng như kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất nông nghiệp cả năm 2017.
Trên cơ sở kết quả thực hiện 5 tháng và ước tính số liệu tháng 6, Cục Thống kê báo cáo khái quát tình hình kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm 2017 như sau:
1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) trên địa bàn ước đạt 14,1%, trong đó, khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 19,58%; nông lâm nghiệp thủy sản tăng 2,88% và khu vực dịch vụ và thuế sản phẩm tăng 6,7%.
2. Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010) trên địa bàn ước đạt 257.655 tỷ đồng, tăng 21,2% cùng kỳ, bằng 45,8% kế hoạch cả năm. Trong đó, công nghiệp địa phương đạt 9.694 tỷ đồng, tăng 22% cùng kỳ và bằng 49,5% kế hoạch cả năm.
3. Giá trị xuất khẩu trên địa bàn ước đạt 12,38 tỷ USD, bằng 59% kế  hoạch cả năm, tăng 42,2% giá trị xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2016. Trong đó, giá trị xuất khẩu địa phương là 120,8 triệu USD, bằng 37,8% kế hoạch, giảm 0,5% cùng kỳ; xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 12,26 tỷ  USD, bằng 59,3% kế hoạch cả năm, tăng 42,8% cùng kỳ.
4. Tổng thu ngân sách trong cân đối 6 tháng đầu năm 2017 ước đạt 6.435  tỷ đồng, bằng 71,4% so với dự toán cả năm, tăng 28% so cùng kỳ.
5. Giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản 6 tháng đầu năm 2017 (theo giá so sánh năm 2010) ước đạt 6.343 tỷ đồng, bằng 50% kế hoạch cả năm, tăng 3,1% so cùng kỳ; trong đó, ngành nông nghiệp giá trị sản xuất đạt 5.982 tỷ đồng, tăng 2,6% (riêng ngành chăn nuôi giá trị sản xuất tăng 3%; trồng trọt tăng 1,7%) so với 6 tháng đầu năm 2016.
Sản lượng lương thực có hạt vụ Đông Xuân 2017 ước đạt 223,8 nghìn tấn, bằng 51,3% kế hoạch cả năm, giảm 3,9% (-9 nghìn tấn) so với cùng kỳ.
Diện tích trồng rừng mới tập trung trên địa bàn 6 tháng 2017 ước đạt 7.391,4 ha, trong đó, địa phương trồng theo chương trình mục tiêu phát triển bền vững và các dự án là 4.464,2 ha, bằng 111,9% kế hoạch. Diện tích chè trồng mới và trồng lại dự kiến sẽ trồng đại trà vào vụ Thu.
Tình hình cụ thể về kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2017:
I. Kinh tế
1. Tăng trưởng kinh tế và cơ cấu kinh tế
Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) 6 tháng đầu năm 2017 ước tính tăng 14,1% so với 6 tháng đầu năm 2016; trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp thuỷ sản tăng 2,88%, đóng góp 0,35 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 19,58%, đóng góp 11,98 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ và thuế sản phẩm tăng 6,66%, đóng góp 1,78 điểm phần trăm vào tốc độ tăng trưởng chung.
Khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng GRDP toàn tỉnh. Sáu tháng đầu năm nay, các sản phẩm công nghiệp truyền thống như xi măng, sắt thép, than... sản xuất cầm chừng, nhưng nhóm sản phẩm may, kim loại màu... sản xuất tăng khá; bên cạnh đó nhóm sản phẩm điện tử, máy vi tính và viễn thông vẫn duy trì mức tăng cao nên tăng trưởng chung của ngành công nghiệp trên địa bàn ước đạt 20,8%, ngành xây dựng tăng 5,14%. Khu vực dịch vụ tăng trưởng 5,87%, trong đó nhóm dịch vụ xã hội tăng 6,2%, nhóm ngành dịch vụ kinh tế tăng 5,7% (trong đó một số ngành tăng thấp do sức mua chưa cao như: thương mại tăng 5,5%; vận tải tăng 4%; lưu trú ăn uống tăng 5%...). Riêng khu vực Nông lâm nghiệp thủy sản, 6 tháng đầu năm 2017 tăng thấp do giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp chỉ tăng 2,4%, thấp hơn mức tăng 5,92% của 6 tháng 2016; ngành Lâm nghiệp và thủy sản vẫn duy trì mức tăng trên 10% so với cùng kỳ.
Về cơ cấu kinh tế: Do ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao hơn nên ngày càng chiếm tỷ trọng cao, trong khi đó tốc độ tăng trưởng trong khu vực nông, lâm nghiệp và khu vực dịch vụ có tốc độ tăng thấp hơn nên cơ cấu kinh tế khu vực Nông lâm nghiệp, thủy sản và khu vực dịch vụ ngày càng giảm dần. Sáu tháng đầu năm 2017, cơ cấu Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh chuyển dịch theo hướng tích cực. Tỷ trọng khu vực công nghiệp xây dựng chiếm 59,1%, khu vực dịch vụ và thuế sản phẩm chiếm 28,4% và khu vực nông lâm nghiệp thủy sản chỉ còn 12,5%. So với bình quân chung cả nước, cơ cấu khu vực nông lâm thủy sản tương đương, khu vực công nghiệp xây dựng của tỉnh cao hơn trên 25 điểm phần trăm nhưng khu vực dịch vụ của tỉnh tỷ trọng thấp hơn nhiều so với cả nước.
2. Kết quả sản xuất nông, lâm nghiệp và thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới
a. Cây hàng năm
* Diện tích gieo trồng: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông Xuân năm 2017 toàn tỉnh là 66,1 nghìn ha, giảm 4,7% (tương ứng giảm 3,2 nghìn ha) so với vụ Đông Xuân 2016 nhưng bằng 104% kế hoạch (vụ Đông 14,9 nghìn ha, giảm 9,1% (-1,5 nghìn ha), vụ Xuân giảm 3,3% tương ứng giảm 1,7 nghìn ha).
Diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt là 43,1 nghìn ha, giảm 2,5 nghìn ha, tương đương giảm 5,5% cùng kỳ (riêng cây ngô giảm 2,1 nghìn ha); diện tích cây lương thực có hạt chiếm 65,3% diện tích gieo trồng; còn lại các cây rau mầu các loại khác khoảng 23 nghìn ha, giảm 3,1% (chủ yếu giảm ở cây công nghiệp hàng năm và cây chất bột lấy củ), riêng cây rau tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước.
Trong tổng diện tích gieo trồng, diện tích cây lúa là 30,3 nghìn ha, mặc dù vượt 4,4% kế hoạch trong vụ nhưng giảm 1,2% so với cùng vụ năm trước; diện tích cây ngô 12,8 nghìn ha, giảm ở cả 2 vụ (vụ Đông giảm 8,2%; vụ Xuân giảm 10,8%); cây khoai lang đạt 3,5 nghìn ha, giảm 5,4% so cùng kỳ và bằng 12% kế hoạch; cây công nghiệp hàng năm đạt 3,7 nghìn ha, giảm 5% so cùng kỳ và bằng 96% kế hoạch.
Nguyên nhân diện tích gieo trồng giảm là do một số diện tích đã chuyển đổi mục đích sử dụng; một số cây trồng hiệu quả kinh tế thấp nên không không tiếp tục gieo trồng; ngoài ra lực lượng lao động trẻ khu vực nông thôn chuyển sang làm việc tại các khu công nghiệp có thu nhập cao hơn nên nguồn lao động khu vực nông thôn giảm dần.
* Sản lượng lương thực có hạt: Hiện nay một số địa phương đang thu hoạch lúa Xuân. Năm nay thời tiết vụ Xuân diễn biến phức tạp, ít mưa, thời tiết ấm... nhưng các địa phương tuân thủ đúng lịch khung thời vụ đồng thời kiểm tra, phát hiện sâu bệnh và phòng trừ kịp thời theo khuyến cáo của ngành chức năng nên cây lúa vẫn sinh trưởng, phát triển tốt. Dự ước năng suất lúa vụ Xuân năm nay toàn tỉnh ước đạt 55,08 tạ/ha, vượt 3,05% so với kế hoạch, tăng 0,07% so cùng kỳ nhưng do diện tích giảm nên sản lượng lúa giảm 1,15%; năng suất ngô tính chung vụ Đông Xuân ước đạt 44,4 tạ/ha, tăng 3,71% so với cùng kỳ.
Với dự ước năng suất như trên thì sản lượng lương thực có hạt vụ Đông Xuân năm 2017 đạt 223,8 nghìn tấn, bằng 51,3% kế hoạch cả năm, bằng 104,82% kế hoạch trong vụ, nhưng giảm giảm 3,9% (-9 nghìn tấn) so với sản lượng cùng kỳ. Trong đó, sản lượng lúa đạt 166,8 nghìn tấn, giảm 1,2% (-1,9 nghìn tấn) so với cùng kỳ nhưng vượt 7,6% so với kế hoạch trong vụ; sản lượng ngô 57 nghìn tấn, giảm 11% (-7 nghìn tấn) so cùng kỳ và bằng 97,5% kế hoạch trong vụ.
b. Cây lâu năm
Tổng diện tích cây chè đạt 21,35 nghìn ha, trong đó huyện Đại Từ là 6,3 nghìn ha (chiếm gần 30% diện tích chè toàn tỉnh), tiếp đến là huyện Phú Lương 4,1 nghìn ha (chiếm 19,2%); huyện Đồng Hỷ 3,3 nghìn ha; Định Hóa 2,5 nghìn ha; Phổ Yên 1,6 nghìn ha; thành phố Thái Nguyên diện tích chè là 1,5 nghìn ha...
Vụ Đông Xuân năm nay thời tiết ấm, năng suất chè vụ Đông tăng cao hơn so với những năm trước và giá bán sản phẩm cao hơn nhiều so với chè chính vụ, làm tăng cao hiệu quả cây trồng… nên mục tiêu đẩy mạnh sản xuất chè vụ Đông là mục tiêu Thái Nguyên đang hướng tới trong việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh.
Ngành chức năng đã phối hợp với các địa phương tổ chức các lớp tập huấn triển khai công tác tập huấn kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh có hại cho cây chè, sản xuất chè an toàn và xây dựng các mô hình sản xuất chế biến, khai thác an toàn theo quy trình VietGap.
Hiện nay thời tiết nắng, nóng nên các địa phương cơ bản chưa trồng chè mới, dự kiến sẽ trồng đại trà vào vụ Thu cuối năm.
c. Tình hình chăn nuôi
Hiện nay, cũng như cả nước, người chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh đang gặp nhiều khó khăn do lợn thịt và lợn giống khó tiêu thụ, giá giảm sâu dẫn đến tình trạng thua lỗ, thiếu vốn đầu tư sản xuất. Tính đến đầu tháng 6/2017 quy mô đàn lợn đạt 636 nghìn con, trong đó đàn lợn nái là 132,4 nghìn con, lợn nuôi lấy thịt là 502,5 nghìn con, trong đó tập trung nhiều nhất là ở Thị xã Phổ Yên với 34,5 nghìn con lợn nái (chiếm 26,1% tổng đàn) và 118,1 nghìn con lợn thịt (chiếm 23,5%); tiếp đến là huyện Phú Bình với 28,3 nghìn lợn nái và 102,5 nghìn con lợn thịt… Đàn gà đạt 9,4 triệu con, tập trung nhiều nhất ở huyện Phú Bình 2 triệu con; Đồng Hỷ 1,4 triệu con; Thị xã Phổ Yên 1,3 triệu con; thành phố Thái Nguyên, Đại Từ là trên 1 triệu con…
Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm 2017 ước đạt 87,8 nghìn tấn, tăng gần 3% cùng kỳ; trong đó sản lượng lợn 63,1 nghìn tấn, tăng 4,5% cùng kỳ; sản lượng gà 20,4 nghìn tấn, tăng 0,7%.
So với thời điểm 1/10/2016, tổng quy mô đàn lợn nái của tỉnh đã giảm từ 214,3 nghìn con xuống còn 132,4 nghìn con. Để tháo gỡ khó khăn cho các hộ chăn nuôi, duy trì đàn lợn nái đảm bảo cung cấp đủ con giống phục vụ tái đàn, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tổ chức hội nghị giữa các Sở, ban, ngành có liên quan, UBND các huyện, thành phố, thị xã, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi và một số cơ sở chăn nuôi lớn trên địa bàn để bàn các biện pháp hỗ trợ và tháo gỡ khó khăn cho người chăn nuôi trên địa bàn.
Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh hiện không có dịch bệnh xảy ra. Tuy nhiên thời gian đầu năm xuất hiện dịch cúm gia cầm tại Huyện Võ Nhai nhưng đã thực hiện các biện pháp khoanh vùng và tiêm phòng kịp thời nên không phát tán thành dịch lớn.
Các địa phương đã kết thúc tiêm phòng đợt 1 cho đàn gia súc gia cầm với các loại vắc xin phòng các loại bệnh như tụ huyết trùng cho đàn trâu, bò; tụ dấu lợn; dịch tả lợn; tai xanh, phòng bệnh lở mồm long móng và tiêm phòng chó dại. Triển khai vệ sinh, tiêu độc, khử trùng Đợt I và phòng, chống dịch Cúm gia cầm năm 2017 trên địa bàn tỉnh, tổ chức phun 4 nghìn lít hóa chất sát trùng.
d. Lâm nghiệp
 Các địa phương cơ bản đã hoàn tất công tác trồng rừng theo kế hoạch và đang tích cực triển khai chăm sóc diện tích rừng đã trồng.
Dự ước đến hết tháng 6/2017 diện tích rừng trồng mới tập trung trên địa bàn là 7.391,4 ha. Trong đó, trồng rừng theo chương trình kế hoạch địa phương giao đạt 4.464,2 ha, bằng 111,9% kế hoạch; trồng mới rừng do dân tự trồng không trong kế hoạch là 2.269 ha và các đơn vị Trung ương quản lý trồng mới đạt 658,2 ha.
Khai thác lâm sản: Dự ước 6 tháng đầu năm 2017 toàn tỉnh khai thác được khoảng 60,5 nghìn m3 gỗ các loại, trong đó khai thác từ rừng trồng đạt 58,8 nghìn m3 và sản lượng gỗ làm nguyên liệu giấy ước đạt 13 nghìn m3, tăng 5,8% cùng kỳ.
Công tác quản lý bảo vệ rừng: Từ đầu năm trên địa bàn toản tỉnh có 3 vụ phá rừng (tại 3 huyện Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ) công tác tuyên tuyền về bảo vệ và phát triển rừng được duy trì triển khai.
Do ảnh hưởng của đợt nắng nóng bất thường nên ngày 5/6/2017 trên địa bàn huyện Đại Từ  đã xảy ra 3 vụ cháy rừng với tổng diện tích là 11 ha, trong đó có 2 vụ cháy rừng với 9 ha rừng bị cháy nằm trong ranh giới Vườn Quốc gia Tam Đảo (tại vị trí giáp ranh giữa xã Hoàng Nông, La Bằng với diện tích 3 ha: xã Hoàng Nông là 2 ha, xã La Bằng 1 ha và 6 ha tại Xã Quân Chu) và 1 vụ cháy rừng tại khu vực giáp ranh giữa xã Cát Nê và Ký Phú với diện tích cháy khoảng 2 ha.
Ngay sau khi nhận được tin báo cháy, các địa phương đã phối hợp với ngành chức năng cùng nhân dân các xã quanh khu vực tổ chức và tham gia chữa cháy, phát đường băng cản lửa để tránh lây lan. Cùng ngày đám cháy cơ bản đã được khống chế.
Kết quả ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng: Trong tháng 5/2017 đã xử lý 31 vụ vi phạm, giảm 39% so với cùng kỳ; tịch thu 30 m3 gỗ quy tròn các loại (trong đó, gỗ quý hiếm 0,85 m3); Thu nộp NSNN 239 triệu đồng. Lũy kế 5 tháng đã xử lý 165 vụ vi phạm, giảm 29% cùng kỳ năm 2016, tịch thu 330 m3 gỗ quy tròn các loại, trong đó gỗ quí hiếm 26,7 m3, tịch thu 25 phương tiện các loại, thu nộp ngân sách 953 triệu đồng.
e. Thủy sản
Trong 6 tháng đầu năm 2017 các cơ sở, hộ gia đình nuôi thủy sản thương phẩm tiếp tục thả giống, chăm sóc thủy sản.
Dự ước 6 tháng đầu năm 2017 sản lượng thủy sản thương phẩm ước đạt 4,3 nghìn tấn, tăng 10,6% cùng kỳ. Nuôi cá lồng là: 174 lồng, thể tích nuôi khoảng 25.000 m3, sản lượng ước đạt 200 tấn; nuôi cá Tầm diện tích khoảng 2.500 m3.
g. Tiến độ thực hiện Chương trình MTQG Xây dựng nông thôn mới
Để thực hiện hoàn thành mục tiêu Chương trình MTQG xây dựng NTM năm 2017, với các nhiệm vụ trọng tâm, duy trì và nâng cao chất lượng tiêu chí đối với xã đã đạt công nhận đạt chuẩn, ngay từ đầu năm tỉnh đã sớm ban hành văn bản chỉ đạo các cơ quan, địa phương triển khai thực hiện Chương trình.
Kết quả đánh giá theo Bộ tiêu chí xã nông thôn mới, xã “Nông thôn mới kiểu mẫu‘‘ tỉnh Thái Nguyên tính đến hết tháng 5/2017 như sau:
Có 56 xã đã có Quyết định công nhận đạt chuẩn NTM, trong đó có 3 xã chuyển thành phường, thị trấn. Còn lại 53 xã đạt 19/19 tiêu chí chuẩn Nông thôn mới. Còn lại 87 xã, kết quả như sau: có 14 xã đạt từ 15 - 18 tiêu chí; có 57 xã đạt từ 10 - 14 tiêu chí; có 16 xã đạt từ 7 - 9 tiêu chí...
Kết quả của 11 xã đăng ký đạt chuẩn Nông thôn mới năm 2017: đạt 16 tiêu chí có 3 xã; đạt 15 tiêu chí có 4 xã; đạt 14 tiêu chí có 3 xã và có 1 xã đạt 13 tiêu chí.
Kết quả của 9 xã xây dựng “Nông thôn mới kiểu mẫu“: đạt 16 tiêu chí có 2 xã (Đắc Sơn và Tiên Hội); đạt 15 tiêu chí là 1 xã (Đồng Liên); đạt 13 tiêu chí có 1 xã (Phú Thượng); đạt 12 tiêu chí có 1 xã (Phúc Trìu); đạt 10 tiêu chí có 3 xã (Minh Lập, Tức Tranh và Vinh Sơn); đạt 6 tiêu chí có 1 xã (Bảo Cường).
Về hạn chế, khó khăn: Phân bổ nguồn lực hỗ trợ thực hiện chương trình năm 2017 cho các địa phương còn chậm; Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 có 6 tiêu chí giao cho cấp tỉnh quy định cho phù hợp với thực tế, tuy nhiên do quy trình thực hiện phải qua nhiều bước nên tiến độ ban hành Bộ tiêu chí và hướng dẫn thực hiện của tỉnh giai đoạn 2017-2020 còn chậm.
III. Sản xuất công nghiệp
Sáu tháng đầu năm 2017 tình hình tiêu thụ sản phẩm công nghiệp điện tử, viễn thông đạt tốt, đặc biệt là từ tháng 4/2017 sản lượng sản xuất và tiêu thụ tăng rất cao do vào mùa cao điểm đã đóng góp lớn vào mức tăng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn.
Dự ước, giá trị sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2017 (theo giá so sánh năm 2010) đạt 257,7 nghìn tỷ đồng, tăng 21,2% so với cùng kỳ và bằng 45,8% kế hoạch cả năm. Trong đó, công nghiệp địa phương ước đạt 9,7 nghìn tỷ đồng, tăng 22% so với cùng kỳ và bằng 49,5% kế hoạch; công nghiệp Nhà nước Trung ương ước đạt 8 nghìn tỷ đồng, tăng 2,7% so với cùng kỳ và bằng 48,5% kế hoạch cả năm; công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 240 nghìn tỷ đồng, tăng 22% so với cùng kỳ và bằng 45,5% kế hoạch cả năm.
Trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn, ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước đạt 255,8 nghìn tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 99%), tăng 21,3% so với cùng kỳ; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 10,9%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 14%; riêng ngành công nghiệp khai khoáng giảm 1,5% so cùng kỳ do khai thác than, khai thác quặng sắt và cát sỏi giảm.
Nếu tính riêng khu vực kinh tế  trong nước, giá trị sản xuất công nghiệp 6 tháng 2017 ước đạt 17,7 nghìn tỷ đồng, tăng 12,3% so với cùng kỳ và bằng 49% kế hoạch cả năm.
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu dự ước sản xuất 6 tháng đầu năm 2017 tăng cao so với cùng kỳ là: Vonfram và sản phẩm của Vonfram đạt 10,8 nghìn tấn, tăng 51,9% và bằng 67,7% kế hoạch; nhóm sản phẩm điện tử đạt 59,6 triệu sản phẩm, tăng 10,2% và bằng 42,9% kế hoạch (trong đó điện thoại thông minh tăng 12,5% và máy tính bảng tăng 1% so với cùng kỳ), các sản phẩm linh kiện điện tử sản xuất đều tăng cao như: mạch điện tử tích hợp 45 triệu cái, gấp 4,7 lần; thiết bị dùng cho hệ thống đường dây điện thoại, hệ thống thông tin điện tử gấp 3,5 lần; dịch vụ sản xuất thiết bị truyền thông tăng 46,5%; camera truyền hình 38,5 triệu cái, tăng 33,7%; sản phẩm gạch xây dựng ước đạt 87 triệu viên, tăng 28,9% và bằng 44,6% kế hoạch; công cụ dụng cụ các loại đạt 14,3 triệu sản phẩm, tăng 27,7%; nước máy thương phẩm đạt 15,7 triệu m3, tăng 17,2% và bằng 50,8% kế hoạch; điện thương phẩm đạt 2.062 triệu Kwh, tăng 14,2% và bằng 37,5% kế hoạch; đá khai thác đạt 980 nghìn m3, tăng 9,8%; sản phẩm may đạt 27,9 triệu sản phẩm, tăng 5,6% và bằng 50,6% kế hoạch.
Nhóm sản phẩm dự ước có tốc độ tăng thấp hoặc giảm so với 6 tháng đầu năm 2016 do tiêu thụ cầm chừng như: xi măng ước sản xuất đạt 1.271 nghìn tấn, giảm 1% và bằng 47,1% kế hoạch; sắt thép các loại ước đạt 485 nghìn tấn, giảm 8,9% và bằng 44,1% kế hoạch; điện sản xuất đạt 787 triệu Kwh, giảm 3,7% và bằng 46,3% kế hoạch; đồng tinh quặng đạt 18,2 nghìn tấn, giảm 8,5% và bằng 38,7% kế hoạch; quặng sắt và tinh quặng sắt chưa nung đạt 54,3 nghìn tấn, giảm 9,7%; than khai thác đạt 540,4 nghìn tấn, giảm 4,7% và bằng 47% kế hoạch; phụ tùng khác của xe có động cơ giảm 26,8%; sản phẩm chịu lửa giảm 30,4%...
Như vậy, mục tiêu 6 tháng cuối năm giá trị sản xuất công nghiệp phải đạt 305,3 nghìn tỷ đồng, tăng bình quân khoảng 16% so với cùng kỳ thì kế hoạch sản xuất công nghiệp 2017 trên địa bàn sẽ hoàn thành kế hoạch đề ra. Nếu từ nay đến cuối năm sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp chủ đạo giữ được nhịp độ như những tháng đầu năm thì sản xuất công nghiệp trên địa bàn sẽ đạt và vượt kế hoạch đề ra.
IV. Thương mại, dịch vụ, giá cả
1. Tổng mức bán lẻ và dịch vụ phục vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội 6 tháng năm đầu 2017 ước đạt 11.973 tỷ đồng, tăng 9,4% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực nhà nước ước đạt 710,9 tỷ đồng, tăng 0,7% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 11.246,8 tỷ đồng, tăng 10% so với cùng kỳ; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 15,4 tỷ đồng, tăng 20,2% so với cùng kỳ.
Nếu phân theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ ước đạt 10.331 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 86,3%), tăng 9,8% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống doanh thu ước đạt 877,7 tỷ đồng, tăng 7,2% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ tiêu dùng còn lại ước đạt 755,9 tỷ đồng, tăng 6,7% so với cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành chỉ chiếm một phần rất nhỏ (đạt 8,4 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,07% và tăng 4,7% so với cùng kỳ).
Nếu phân theo thành phần kinh tế, khối cá thể có tổng mức bán lẻ ước đạt 7.584 tỷ đồng (chiếm 63,3% thị phần bán lẻ), tăng 11,4% so với cùng kỳ, còn lại là khối doanh nghiệp 3.650 tỷ đồng (chiếm 30,5%), so với cùng kỳ tăng 7,2%; còn lại 1 phần nhỏ là doanh thu là dịch vụ lưu trú của doanh nghiệp FDI.
Trong cơ cấu doanh thu bán lẻ, tất cả các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2017 đều tăng. Nhóm mặt hàng đạt doanh thu bán lẻ lớn nhất là nhóm lương thực, thực phẩm đạt hơn 3,3 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 32,6%, tăng 12,1% so với cùng kỳ; tiếp đến nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 1.290,6 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 12,5%), tăng 14,7% cùng kỳ; nhóm hàng xăng, dầu các loại ước đạt 1,2 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 11,3%, tăng 4,6% so với cùng kỳ; nhóm phương tiện đi lại đạt 938,9 tỷ đồng, tăng 3,3%; nhóm hàng may mặc đạt 842 tỷ đồng, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước...
2. Xuất nhập khẩu:
* Xuất khẩu:
Tính chung 6 tháng đầu năm 2017, giá trị xuất khẩu trên địa bàn ước đạt 12,38 tỷ USD (toàn bộ là hình thức xuất khẩu trực tiếp), tăng 42,2% so với cùng kỳ và bằng 59% kế hoạch cả năm; trong đó các đơn vị Địa phương quản lý xuất khẩu ước đạt 120,8 triệu USD, tương đương cùng kỳ, bằng 37,8% kế hoạch; doanh nghiệp nhà nước Trung ương xuất khẩu 2,7 triệu USD, tăng 22% cùng kỳ, bằng 26,8% kế hoạch. Khu vực FDI xuất khẩu ước đạt 12,26 tỷ USD, bằng 59,3% kế hoạch và tăng 42,8% so cùng kỳ (chủ yếu do xuất khẩu tăng cao ở nhóm hàng điện thoại mẫu mới có giá trị trên 10 triệu đồng Việt Nam/1 sản phẩm).
Nhóm hàng hóa xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2017 chiếm tỷ trọng lớn như: Nhóm hàng điện thoại, máy tính bảng và các loại linh kiện 12,14 tỷ USD (chiếm 98% tổng số), tăng 42,9% cùng kỳ (điện thoại ước đạt 46 triệu sản phẩm với giá trị xuất khẩu 8,53 tỷ USD, tăng 14,3% về lượng nhưng giá trị tăng 44,2%; máy tính bảng gần 10 triệu sản phẩm với giá trị 1,4 tỷ USD, tăng 11% về giá trị; linh kiện điện tử và phụ tùng khác đạt 2,21 tỷ USD, tăng 67,4% cùng kỳ và bằng 69,4% kế hoạch); Volfram và các sản phẩm từ Volfram ước đạt 104,2 triệu USD, tăng 40,6% so cùng kỳ và bằng 65,1% kế hoạch cả năm (trong đó Vonfram và sản phẩm Vonfram chiếm khoảng 70% giá trị, còn lại là khoáng Fluorit, Bismuth cement…); sản phẩm may ước đạt 102,5 triệu USD, tăng 1,6%; sản phẩm từ sắt thép ước đạt 24,7 triệu USD, tăng 6,1%; giấy và các sản phẩm từ giấy đạt 1,5 triệu USD, tăng 6,9%.
Mặt hàng có khối lượng và giá trị xuất khẩu giảm so với cùng kỳ là: chè các loại 1,2 nghìn tấn (bằng 23,6% kế hoạch) với giá trị 2,1 triệu USD, so với cùng kỳ giảm 18,4% về lượng và giảm 23,3%; phụ tùng vận tải đạt 2 triệu USD, giảm 7,5% so với cùng kỳ.
Thị trường xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong 6 tháng đầu năm 2017 là thị trường Châu Á với giá trị khoảng 4,4 tỷ USD (chiếm tỷ trọng gần 35,4% tổng giá trị xuất khẩu), trong đó, xuất khẩu sang các nước như: Hàn Quốc đạt 1,1 tỷ USD, các tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất đạt gần 1 tỷ USD; tiếp đến là thị trường Châu Âu đạt giá trị 3,5 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 27,9%); thị trường Châu Mỹ đạt 2,9 tỷ USD, chiếm 23,6% tổng số...
* Nhập khẩu:
Giá trị nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2017 trên địa bàn ước đạt 7,89 tỷ USD, tăng 30,8% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước ước đạt 99,5 triệu USD, giảm 48,1% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 7,79 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 98,7% tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn), tăng 33,4% so với giá trị nhập khẩu cùng kỳ.
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong 6 tháng đầu năm 2017 là: nguyên liệu và linh kiện điện tử ước đạt 7,6 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 97% tổng giá trị nhập khẩu), tăng 42,8% cùng kỳ; vải và phụ liệu may mặc ước đạt 63,1 triệu USD, tăng 9,7%; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 31 triệu USD, gấp 2,6 lần; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 10,5 triệu USD, gấp 2,3 lần... Nhóm các mặt hàng có giá trị nhập khẩu tăng thấp hoặc giảm so cùng kỳ là: sắt thép và phế liệu sắt thép đạt 22 nghìn tấn với giá trị đạt 6,2 triệu USD, giảm khoảng 90% về lượng và giá trị so với cùng kỳ; máy móc thiết bị, phụ tùng ước đạt 44,8 triệu USD, giảm 90%; phân bón giảm 81%; nguyên liệu giấy, giảm 64,4% cùng kỳ.
Giá trị nhập khẩu trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2017 theo nước và lãnh thổ: phần lớn hàng hóa được nhập khẩu từ thị trường Châu Á với giá trị ước đạt 7,7 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 97,8% tổng số và tập trung chủ yếu ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á, trong đó giá trị hàng hóa nhập khẩu có nguồn gốc từ từ Hàn Quốc đạt 3,2 tỷ USD chiếm 41,1%; từ Trung Quốc khoảng 3,2 tỷ USD, chiếm 41,1% tổng giá trị nhập khẩu.
3. Giá tiêu dùng
Do ảnh hưởng của nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm nên chỉ số giá tiêu dùng hàng tháng năm 2017 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có xu hướng giảm dần so với tháng trước. Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống bình quân 5 tháng năm 2017 giảm 3,63% so với bình quân cùng kỳ, đây là năm duy nhất nhóm hàng này có chỉ số giảm trong vòng 5 năm trở lại đây (5 tháng đầu năm 2013 tăng 2,26%, năm 2014 tăng 2,14%, năm 2015 tăng 1,55%, năm 2016 tăng 1,46%).
Tính chung 5 tháng đầu năm 2017 chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng 5% so với cùng kỳ, trong đó tăng chủ yếu ở các nhóm dịch vụ như: nhóm dịch vụ y tế gấp 2 lần; nhóm giáo dục tăng 10,6%; nhóm điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,7%; nhóm giao thông tăng 8,53%; riêng nhóm thực phẩm giảm 5,4%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,4% bình quân cùng kỳ.
So sánh diễn biến chỉ số giá tiêu dùng hàng tháng 2017 so với tháng trước (%) của tỉnh Thái Nguyên với tỉnh Bắc Giang và bình quân chung cả nước:
  Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5
Cả nước 100,46 100,23 100,21 100,00 99,47
Thái Nguyên 100,09 100,13 99,91 99,45 99,53
Bắc Giang 99,31 100,49 100,06 102,06 99,34

 
Nhìn chung mức tăng giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2017 của tỉnh Thái Nguyên giảm hơn so với tỉnh lân cận và cả nước; nguyên nhân chủ yếu do giá thực phẩm trên địa bàn giảm nhiều hơn, đặc biệt là từ tháng 3/2017 đến nay liên tục giảm so với tháng trước.
4. Giao thông vận tải
- Vận chuyển hành khách: Số lượt hành khách vận chuyển 6 tháng đầu năm 2017 ước đạt 6,3 triệu lượt khách với số lượng hành khách luân chuyển là 440 triệu lượt hành khách.km; so với cùng kỳ tăng 6,8% về số hành khách vận chuyển và tăng 6% về số lượng hành khách luân chuyển. Trong đó, kinh tế ngoài nhà nước đạt 6 triệu lượt khách với số lượng luân chuyển là 398 triệu hành khách.km (chiếm tỷ trọng 95,3% tổng số lượt hành khách), tăng 7,1% về số hành khách vận chuyển và tăng 6,6% số hành khách luân chuyển so với cùng kỳ.
- Vận chuyển hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển 6 tháng đầu năm 2017 ước đạt trên 12,1 triệu tấn với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 436,4 triệu tấn.km, tăng 4,4% về khối lượng vận chuyển và tăng 5,6% khối lượng luân chuyển so với cùng kỳ.
Tổng doanh thu vận tải trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2017 ước đạt 1.109 tỷ đồng, tăng 5% cùng kỳ (doanh thu vận tải hành khách ước đạt 227,5 tỷ đồng, tăng 6,4%, doanh thu vận tải hành hóa ước đạt 881,8 tỷ đồng tăng 4,7% so với cùng kỳ).
V. Đầu tư và xây dựng
Tổng vốn đầu tư trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2017 ước đạt 22,6 nghìn tỷ đồng, tăng 20,1% so với cùng kỳ, trong đó vốn đầu tư khu vực FDI là 13,7 nghìn tỷ đồng (chiếm 60,6% tổng mức đầu tư trên địa bàn), tăng 31,5% so với cùng kỳ; vốn đầu tư của khu vực kinh tế trong nước đạt gần 9 nghìn tỷ đồng, tăng 6% so với cùng kỳ. Riêng vốn khu vực ngoài nhà nước ước đạt 6,9 nghìn tỷ đồng, tăng 7,6% so với cùng kỳ.
Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài: Tính từ đầu năm đến ngày 5/6/2017 trên địa bàn tỉnh có 5 dự án (trong đó có 03 dự án sản xuất công nghiệp; 02 dự án hoạt động dịch vụ) được cấp giấy chứng nhận đầu tư mới với tổng vốn đầu tư đăng ký là 5,2 triệu USD, so với thời điểm cùng kỳ giảm 7 dự án đăng ký mới và vốn đăng ký giảm 88%.
Đến nay, trên địa bàn tỉnh hiện có 121 dự án FDI còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký gần 7,2 tỷ USD (tương đương khoảng 158 nghìn tỷ đồng), vốn giải ngân trên 6,6 tỷ USD.
* Xây dựng: Giá trị sản xuất xây dựng 6 tháng đầu năm 2017 ước đạt  6,3 nghìn tỷ đồng, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khối doanh nghiệp thực hiện 3,7 nghìn tỷ đồng, tăng 6,9% so với cùng kỳ, khối hộ dân cư, xây dựng xã phường đạt giá trị xây dựng đạt 2,5 nghìn tỷ đồng, tăng 6,9% so với cùng kỳ.
VI. Hoạt động tài chính, ngân hàng
1. Thu, chi ngân sách
* Thu trong cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn 5 tháng đầu năm 2017 đạt 5.535 tỷ đồng, tăng 25,3% so với cùng kỳ và bằng 61,4% so với dự toán cả năm. Trong đó, thu nội địa đạt 4.500 tỷ đồng, tăng 28,4% so với cùng kỳ và bằng 66,6% dự toán cả năm; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 1.035,3 tỷ đồng, tăng 13,7% so với cùng kỳ và bằng 46% dự toán cả năm.
Trong thu nội địa, nhìn chung các khoản thu đều tăng cao so với cùng kỳ, có 13/16 khoản thu tăng so với cùng kỳ, cụ thể khoản thu tăng cao nhất đó là thu từ tiền cho thuê đất, gấp hơn 4 lần và bằng 64,7% dự toán cả năm; tiếp đến là thu từ cấp quyền sử dụng đất đạt 694,4 tỷ đồng, tăng 2,7 lần và vượt dự toán là 6,8%; thu  từ khu vực dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 980,5 tỷ đồng, gấp 2 lần cùng kỳ và bằng 78,9% dự toán cả năm; thu phí, lệ phí đạt 98,3 tỷ đồng, tăng 59,5% so với cùng kỳ và bằng 57,8% dự toán cả năm; thu khác ngân sách đạt 42,7 tỷ đồng, tăng 22,1% so với cùng kỳ và bằng 44,5% dự toán cả năm…có 3/16 khoản thu đạt thấp hơn so với cùng kỳ đó là thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 956,4 tỷ đồng, giảm 27,6% so với cùng kỳ và bằng 60,3% dự toán cả năm; thu từ sử dụng đất phi nông nghiệp đạt 2,2 tỷ đồng, giảm 59% so với cùng kỳ và chỉ bằng 16,8% dự toán cả năm; thu từ lệ phí trước bạ đạt 139,2 tỷ đồng, giảm 8,3% tỷ đồng và bằng 39,8% dự toán cả năm.
Dự ước tổng thu ngân sách trong cân đối 6 tháng đầu năm 2017 trên địa bàn đạt 6.435 tỷ đồng, bằng 71,4% dự toán và tăng 28% cùng kỳ.
* Chi ngân sách: Tổng chi ngân sách địa phương 5 tháng đầu năm 2017 đạt 3.362 tỷ đồng, tăng 24,8% so với cùng kỳ và bằng 33% dự toán cả năm. Trong đó, chi cân đối ngân sách địa phương đạt 3.172,5 tỷ đồng, tăng 25,4% cùng kỳ và bằng 34% dự toán cả năm. Chi chương trình mục tiêu quốc gia đạt 189,1 tỷ đồng, tăng 15,5% so với cùng kỳ và bằng 21,7% dự toán cả năm.
Trong chi cân đối ngân sách địa phương: chi đầu tư phát triển đạt 647,5 tỷ đồng, tăng 51,4% so với cùng kỳ và bằng 39,4% dự toán cả năm; chi thường xuyên đạt 2.525 tỷ đồng, tăng 20,1% cùng kỳ và bằng 36,2% dự toán cả năm.
Trong tổng chi thường xuyên, có 9/11 khoản chi tăng cao so với cùng kỳ, chi lớn nhất là chi cho sự nghiệp giáo dục và dạy nghề đạt 929,2 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 36,8%), tăng 17,3% so với cùng kỳ và bằng 31,8% dự toán cả năm; chi quản lý hành chính đạt 569,2 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 22,5%), tăng 11,1% so với cùng kỳ và bằng 40,3% dự toán cả năm; chi sự nghiệp y tế, dân số và gia đình đạt 340,8 tỷ đồng , tăng 39,7% cùng kỳ và bằng 41,6% dự toán cả năm; riêng chi quốc phòng an ninh địa phương đạt 109,4 tỷ đồng, tăng 43,7% cùng kỳ và bằng 73,6% dự toán cả năm…Các khoản chi đạt thấp hơn so với cùng kỳ đó là chi sự nghiệp phát thanh truyền hình đạt 13,2 tỷ đồng, giảm 22% so với cùng kỳ và chỉ bằng 21,2% dự toán cả năm; chi đảm bảo xã hội đạt 120 tỷ đồng, giảm 8,1% cùng kỳ và bằng 42% dự toán cả năm.
* Ngân hàng:
- Lãi suất: Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay bằng đồng Việt Nam tiếp tục ổn định so với cuối năm 2016. Lãi suất huy động VNĐ của các tổ chức tín dụng phổ biến ở mức 0,8-1%/năm đối với lãi suất huy động tiền gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng, từ 4,5-5,4%/năm đối với kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng, từ 5,4-7,2%/năm đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VNĐ đối với các lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao là 7%/năm. Lãi suất cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 7-9%/năm đối với ngắn hạn, từ 9,3-11%/năm đối với trung và dài hạn. Đối với nhóm khách hàng tốt, tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch, lãi suất cho vay từ 5-6%/năm. Lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 2,8-6%/năm.
- Nguồn vốn huy động của các TCTD đến 26/5/2017 đạt 42.050 tỷ đồng, tăng 8,65% so với 31/12/2016. Ước đến 30/6/2017 đạt 42.500 tỷ đồng, tăng 9,81% so với 31/12/2016.  Nguồn vốn NH Phát triển khu vực Bắc Kạn - Thái Nguyên đạt 1,6 tỷ đồng, giảm 24,68% so  với 31/12/2016. Ước đến 30/6/2017 đạt 2 tỷ đồng, giảm 7,41% so với 31/12/2016.
- Dư nợ cho vay của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đến 26/5/2017 đạt 41.450 tỷ đồng, tăng 5,12% so với 31/12/2016. Ước đến 30/6/2017 đạt 42.000 tỷ đồng, tăng 6,52% so với 31/12/2016.
Nợ xấu 388 tỷ đồng chiếm 0,94%/tổng dư nợ. Ước đến 30/6/2017 là 380 tỷ đồng, chiểm 0,9%/tổng dư nợ.
Riêng dư nợ vay ưu đãi đầu tư phát triển đạt 4.811 tỷ đồng, giảm 2,64% so với 31/12/2016. Ước đến 30/6/2017 đạt 5.000 tỷ đồng, tăng 1,17% so với 31/12/2016.
B. Các chỉ tiêu về xã hội
1. Đời sống dân cư
Do giá tiêu dùng các mặt hàng thiết yếu cơ bản ổn định, sản xuất công nghiệp tăng trên 20%, cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư phát triển, đặc biệt là các xã thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới. Các chính sách hỗ trợ phát triển được triển khai thực hiện góp phần cải thiện đời sống dân cư trên địa bàn từ khu vực thành thị đến nông thôn. Tuy nhiên trong sản xuất nông nghiệp, ngành chăn nuôi gặp khó khăn do giá bán sản phẩm giảm, hiệu quả chăn nuôi thấp, ảnh hưởng đến một bộ phận dân cư trên địa bàn.
2. Công tác giảm nghèo, bảo trợ xã hội, chăm sóc trẻ em và thực hiện các chế độ, chính sách ưu đãi cho người có công
Thực hiện chính sách Người có công: Tổ chức thăm tặng quà  đối tượng nhân dịp Tết Nguyên đán Đinh dậu năm 2017 với 47.696 xuất quà trị giá 11,089 tỷ đồng. Trình cấp có thẩm quyền quyết định hưởng Bảo hiểm y tế cho 6.692 đối tượng khác, thẩm định hồ sơ, ra quyết định trợ cấp 1 lần đối với người có thành tích tham gia kháng chiến được tặng bằng khen của Thủ tướng Chính Phủ, Bộ trưởng, Chủ tịch UBND tỉnh cho 4.947 trường hợp; và đề nghị chính phủ tặng thưởng Huân chương độc lập cho 07 gia đình có nhiều liệt sỹ hi sinh vì độc lập, tự do của tổ quốc và 11 trường hợp phong, truy tặng danh hiệu bà mẹ Việt Nam anh hùng....
Thực hiện thăm tặng quà, cứu trợ xã hội các hộ có nguy cơ thiếu đói giáp hạt Tết Nguyên đán Đinh Dậu năm 2017 với tổng số tiền 9.196 triệu đồng (gồm cứu trợ đột xuất 4.328 hộ với 11.021 khẩu  với kinh phí 1.598,4 triệu đồng; tặng 21.736 suất quà trị giá 7.597,6 triệu đồng). Thực hiện trợ cấp thường xuyên trên 36.000 đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng. Tổ chức các hoạt động đón xuân vui tươi, lành mạnh, an toàn và tiết kiệm trong dịp tết Nguyên đán.
Trong 6 tháng đầu năm 2017, ngành chức năng đang tiến hành chỉ đạo, đôn đốc thực hiện in, cấp giấy chứng nhận cho trên 63.576 hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2017 và phối hợp các sở ngành liên quan tham mưu việc thực hiện cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người dân tộc thiểu số ở vùng khó khăn, người sinh sống ở địa bàn đặc biệt khó khăn với thời hạn hết tháng 6/2017.
Tiến hành kiểm tra, đôn đốc, giám sát tiến độ thực hiện về việc hỗ trợ sửa chữa, hoặc xây nhà mới cho hộ nghèo có thành viên là đảng viên từ 50 tuổi đảng trở lên khó khăn về nhà ở. Tính đến ngày 20/5/2017 trong tổng số 35 hộ nghèo thuộc đối tượng hỗ trợ đã có 09 hộ  đã hoàn thành xong sửa chữa, xây mới; 24 hộ đang tiến hành thi công, 01 hộ chưa khởi công và 01 hộ xin dừng hỗ trợ.
Tỉnh Thái Nguyên đã phối hợp với Trung tâm tin tức VTV24, Đài truyền hình Việt Nam xây dựng và thực hiện Chương trình truyền hình trực tiếp “Cặp lá yêu thương” tại tỉnh Thái Nguyên, chương trình  là cầu nối để các nhà hảo tâm hỗ trợ các hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong cuộc sống, góp phần lan tỏa tình yêu thương trong cộng đồng.
Tổ chức các ngày về Công tác xã hội Việt nam lần thứ nhất (25/3/2017), ngày khuyết tật Việt nam (18/4/2017), ngày truyền thống người cao tuổi Việt Nam (6/6/2017) nhằm tuyên truyền và huy động các nguồn lực các tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động chăm lo, trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo trên địa bàn.
Ngành chức năng phối hợp với các đơn vị tổ chức chương trình khám sàng lọc cho 309 trẻ em khuyết tật hệ vận động; 753 trẻ em nghi mắc bệnh tim bẩm sinh, phát hiện 53 trường hợp mắc bệnh, trong đó có 38 ca trong chỉ định phẫu thuật tim...Thăm tặng quà trẻ em nhân ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6; tổ chức phát động tháng hành động vì trẻ em năm 2017 với chủ  đề: “ Triển khai Luật trẻ em và phòng chống xâm hại trẻ em ”; Trao học bổng cho 120 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, mỗi suất trị giá 800 nghìn đồng. Triển khai các hoạt động thu Quỹ bảo trợ trẻ em cấp tỉnh nhân ngày “ Lao động vì hạnh phúc trẻ em ” ...
3. Giảm tỷ suất sinh thô hàng năm
Năm 2017 là năm thứ hai thực hiện giai đoạn 2 của Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản (2011-2020). Ngành chức năng triển khai công tác truyền thông về công tác dân số, KHHGĐ. Tổ chức các hội nghị, các lớp tập huấn phổ biến nội dung các văn bản về công tác DS-KHHGĐ và Tổ chức ký cam kết thực hiện công tác DS-KHHGĐ đến năm 2020 trên địa bàn, nhằm giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh và giảm chỉ tiêu sinh con thứ 3 trở lên.
Dự ước 6 tháng đầu năm 2017 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 7.618 trẻ mới sinh, tăng 179 trẻ so với 6 tháng đầu năm 2016; trong đó có 575 trẻ mới sinh là con thứ 3 trở lên (tăng 18 trẻ so với cùng kỳ), chiếm 7,5% tổng số trẻ sinh ra. Ba địa phương có số trẻ sinh là con thứ 3 trở lên tăng hơn so với cùng kỳ năm 2016 là: TP Thái Nguyên tăng 05 trẻ; huyện Phú Lương tăng 10 trẻ; huyện Võ Nhai tăng 14 trẻ. Số cán bộ, đảng viên sinh con thứ 3 trở lên là 20 trường hợp (tăng 07 trường hợp so cùng kỳ năm 2016). Tỷ số giới tính khi sinh là 114,2 trẻ nam/100 trẻ gái.
4. Lao động việc làm
Ngành chức năng đã chỉ đạo các đơn vị tổ chức Ngày hội việc làm Xuân Đinh Dậu năm 2017 với 31 đơn vị, doanh nghiệp và các trường nghề trong và ngoài tỉnh với nhu cầu trên 23 nghìn lao động cần tuyển dụng. Kết quả thu hút được trên 2.000 lượt người lao động tham gia tư vấn, tuyển dụng, trong đó có 1.174 người đăng ký tuyển dụng trực tiếp tại ngày Hội, đăng ký làm việc trong nước là 531 người, tuyển sinh đào tạo nghề là 75 lao động và đăng ký làm việc tại nước ngoài là 568 người. Giới thiệu 01 doanh nghiệp về tuyển lao động đi nước ngoài có thời hạn; hướng dẫn 16 lao động làm các thủ tục cần thiết đi làm việc tại Hàn Quốc theo chương trình EPS.
Tính từ ngày 1/3/2017 trên địa bàn tỉnh có 55 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong đó có 12 trường cao đẳng, 12 trường trung cấp, 19 trung tâm giáo dục nghề nghiệp và 12 cơ sở khác có tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu đào tạo nghề cho người lao động.
5. Giáo dục, đào tạo
Năm học 2016-2017 tỷ lệ huy động trẻ ra lớp: Mẫu giáo đạt 92,8% (trong đó, mẫu giáo 5 tuổi tỷ lệ huy động đạt 100%). Tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi tiểu học và THCS đạt 99%. Chất lượng giáo dục đại trà, giáo dục mũi nhọn, giáo dục thường xuyên, giáo dục dân tộc được nâng lên. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân chiếm 3,5%, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi chiếm 4,3%, tỷ lệ trẻ 11 tuổi sinh năm 2005 hoàn thành chương trình tiểu học đạt 97,1%, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS đạt 99,5%.
Công tác phổ cập giáo dục tiếp tục duy trì và củng cố vững chắc phổ cập giáo dục các cấp.
Năm học 2016-2017 trên địa bàn có nhiều học sinh đạt giải các cấp; Cấp quốc gia lớp 12 năm 2017 đạt 49 giải, trong đó 11 giải nhì, 16 giải ba và 22 giải khuyến khích; Kỳ thi máy tính cầm tay cấp quốc gia đạt 26 giải (trong đó 3 giải nhất, 7 giải nhì, 10 giải ba, 6 giải khuyến khích); Tại hội thi giao thông học đường do Bộ GDDT tổ chức,  Thái Nguyên đạt 1 giải nhì toàn quốc và xếp thứ 4/63 tỉnh, thành có số học sinh tham dự thi đông nhất.
Kết quả xây dựng trường chuẩn quốc gia: Tính đến thời điểm 31/5/2017 toàn tỉnh có 532/677 trường đạt chuẩn quốc gia, vượt 2,58% so với kế hoạch, (thời điểm 30/5/2016 toàn tỉnh có 507/672 trường đạt chuẩn quốc gia). Trong đó, mầm non có 175/229 trường đạt chuẩn (đạt 76,41%), tiểu học có 214/227 trường đạt chuẩn (đạt 94,27%), THCS có 127/189 trường đạt chuẩn (đạt 67,2%), THPT có 16/32 trường đạt chuẩn (đạt 50%). Có 20 trường mầm non và 29 trường tiểu học đạt chuẩn mức độ 2, chiếm tỷ lệ 12,59% số trường đạt chuẩn quốc gia.
Kỳ thi Trung học phổ thông Quốc gia năm 2017, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 31 điểm thi do Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì (năm nay Đại học Thái Nguyên không chủ trì). Toàn tỉnh có 13.225 thí sinh đăng ký tham dự kỳ thi Trung học phổ thông Quốc gia, so với kỳ thi Trung học phổ thông Quốc gia năm 2016 giảm 902 thí sinh. Trong đó, số học sinh đăng ký dự thi để lấy kết quả tốt nghiệp 4.637 thí sinh (chiếm 35%); dự thi vừa lấy kết quả tốt nghiệp vừa xét tuyển đại học, cao đẳng 7.701 thí sinh; thi để lấy kết quả xét tuyển đại học, cao đẳng 887 thí sinh.
Công tác tuyển sinh vào lớp 10 và tổ chức kỳ thi Trung học phổ thông quốc gia năm 2017:  Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2017-2018, toàn tỉnh tổ chức 28 Hội đồng coi thi, với 539 phòng thi. Số thí sinh đăng ký dự thi vào lớp 10 đại trà và lớp 10 chuyên năm 2017-2018 là 12.905 thí sinh. Riêng đối với Trường THPT Chuyên Thái Nguyên có 804 thí sinh đăng ký dự thi, gần 1500 cán bộ, giáo viên làm nhiệm vụ coi thi. Hình thức tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2017-2018 vẫn là thi tuyển kết hợp với xét tuyển.
6. Y tế
Công tác y tế, phòng chống dịch và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm được duy trì triển khai. Trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2017 không có dịch bệnh lớn xảy ra, tuy nhiên vẫn còn xuất hiện 07 ca sốt phát ban dạng sởi/rubella (giảm 9 ca so với cùng kỳ); bệnh Quai bị 304 ca (giảm 374 ca so cùng kỳ); sốt xuất huyết 5 ca, tương đương cùng kỳ 2016. Tuy nhiên có 02 trường hợp tử vong do bệnh dại (01 ca tại phường Trung thành, thành phố thái nguyên và 01 ca tại xã Nam tiến, thị xã Phổ yên), giảm 01 ca so năm 2016; Trong 6 tháng đầu năm, có 3.200 người tiêm vắc xin/huyết thanh để phòng và điều trị dự phòng bệnh dại do bị chó, mèo nghi dại cắn.
Công tác triển khai tiêm chủng tại các huyện, thành, thị được duy trì thường xuyên, đảm bảo an toàn, không có tai biến do vắc xin.
Công tác khám chữa bệnh: Ngành chức năng tiếp tục triển khai thực hiện Luật khám bệnh, chữa bệnh; các hoạt động khám chữa bệnh, thực hiện quy chế chuyên môn tại các bệnh viện, trạm y tế được duy trì tốt, đặc biệt khám chữa bệnh BHYT, đối tượng chính sách, trẻ em dưới 6 tuổi. Dự ước tổng số lượt bệnh nhân đến khám chữa bệnh đạt 598 nghìn lượt người và số lượt bệnh nhân điều trị nội trú  tăng hơn so với cùng kỳ năm 2016. Chất lượng khám chữa bệnh tại các bệnh viện tiếp tục được nâng lên, tinh thần thái độ phục vụ tại các bệnh viện, cơ sở y tế được coi trọng, công tác tuyên truyền về luật bảo hiểm y tế, giá dịch vụ công khai minh bạch về chất lượng dịch vụ y tế được chú ý.
Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm được các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh duy trì triển khai đến từng địa phương, đơn vị liên quan. Trong 6 tháng đầu năm đã tiến hành thanh, kiểm tra 987 cơ sở, trong đó lĩnh vực an toàn thực phẩm 933 cơ sở, lĩnh vực y là 13 cơ sở, lĩnh vực dược 41 cơ sở, số cơ sở vi phạm 64 cơ sở với  số tiền xử phạt 89,9 triệu đồng.
Tính chung từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm với 27 người mắc tại tại huyện Đại Từ, nguyên nhân xác định do vi sinh vật, không có tử vong.
Công tác truyền thông, về phòng chống HIV/AIDS và các hoạt động can thiệp giảm tác hại cũng như hoạt động giám sát được ngành chức năng kiểm tra thường xuyên, tiếp tục duy trì các điểm điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadon cho trên 2.380 người, đạt 79,3% so với kế hoạch giao; Điều trị thuốc kháng vi rút cho 3.398 người lớn, 145 trẻ em nhiễm HIV/AIDS.
Tính lũy kế đến đầu tháng 5/2017, trên địa bàn tỉnh đã có 9.564 trường hợp nhiễm HIV/AIDS được phát hiện (tăng 1,7% so cùng kỳ), trong đó chuyển sang giai đoạn AIDS lũy kế là 6.605 người, số người tử vong lũy kế do AIDS là 3.384 người.
7. Văn hoá, thể thao
Trong 6 tháng đầu năm 2017 ngành chức năng và các địa phương thực hiện tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật hưởng ứng chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn: Tổ chức triển lãm “Thái Nguyên – nơi khởi nguồn của ngày thương bình – Liệt sỹ 27/7” tại Hà Nội; 42 năm ngày giải phóng hoàn toàn Miền nam thống nhất đất nước, 131 năm ngày Quốc tế lao động và đặc biệt là Tổ chức tuyên truyền, khánh tiết, chương trình nghệ thuật phục vụ Lễ kỷ niệm 70 năm ngày Bác Hồ về thăm ATK Định hóa - Thái Nguyên cùng trung ương Đảng, Chính phủ lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và kỷ niệm 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh…
Thể thao thành tích cao: Duy trì công tác quản lý, huấn luyện, kiểm tra đôn đốc tập luyện các đội tuyển thể thao; tham gia thi đấu các giải thể thao toàn quốc ; đạt 45 huy chương các loại (trong đó 11 huy chương vàng, 14 huy chương bạc, 20 huy chương đồng) tại giải vật toàn quốc, đội tuyển vật nữ xếp thứ 2 toàn đoàn.
Hoạt động chiếu phim: Thực hiện 420 buổi chiếu phim, trong đó có 11 buổi chiếu phục vụ nhiệm vụ chính trị, 409 buổi chiếu phim nhựa phục vụ các xã vùng khó khăn, 30 buổi phục vụ đối tượng chính sách; phục vụ 17,8 nghìn lượt người xem.
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật: Tổ chức 56 buổi biểu diễn, trong đó phục vụ nhiệm vụ chính trị 15 buổi, phục vụ vùng đặc biệt khó khăn và đối tượng chính sách 37 buổi.
Công tác thanh kiểm tra, xử lý vi phạm: Trong 6 tháng đầu năm 2017, ngành chức năng tiến hành kiểm tra 9 lễ hội: Lê hội đình-đền- chùa Cầu muối, hội đình chùa Phương Độ (huyện Phú bình); hội Nghè tại khu di tích 27/7 (huyện Đại Từ)…Kiểm tra 10 buổi biểu diễn nghệ thuật, việc thực hiện quảng cáo của 38 tổ chức, cá nhân; 26 cơ sở karaoke; 02 cơ sở lưu trú du lịch.  Qua thanh tra kiểm tra của các địa phương yêu cầu 03 cơ sở lưu trú du lịch hoàn thiện các thủ tục hành chính; ra 03 quyết định xử phạt vi phạm hành chính, thu nộp ngân sách nhà nước 4 triệu đồng... Công tác kiểm tra các hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá, du lịch đã nhắc nhở, chấn chỉnh các hành vi sai phạm, góp phần tích cực đưa các cơ sở kinh doanh hoạt động theo đúng quy định.
8. Tình hình trật tự, an toàn xã hội
- Tình hình an toàn giao thông: Năm 2017 với chủ đề “Xây dựng văn hóa giao thông trong thanh, thiếu niên” với mục tiêu “Tính mạng con người là trên hết” của Uỷ ban an toàn giao thông Quốc gia. Để hưởng ứng Năm ATGT, tỉnh Thái Nguyên đặt mục tiêu phấn đấu giảm tai nạn giao thông trên 5% ở cả 3 tiêu chí so với năm 2016. Nâng cao chất lượng vận tải hành khách và hàng hóa; quan tâm đầu tư, quản lý, bảo trì, bảo dưỡng kết cấu hạ tầng giao thông; xử lý các điểm đen, các vi phạm trong vận tải đường bộ, đường thủy nội địa. Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về trật tự ATGT, phối hợp tuyên truyền thường xuyên liên tục đến mọi tầng lớp nhân dân, quan tâm giáo dục, tuyên truyền cho đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn…
Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh Thái Nguyên, trong tháng 5/2017 trên địa bàn xảy ra 14 vụ tai nạn giao thông làm chết 5 người và bị thương 8 người (trong đó liên quan đến ô tô là 9 vụ chiếm 64,3%; liên quan đến mô tô là 03 vụ, chiếm 21,4%), làm thiệt hại tài sản ước tính khoảng 75,2 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giảm 8 vụ (-36,36%); số người chết giảm 1 người (-16,67%); và số  người bị thương giảm 19 người
(-70,37%).
Tính chung 5 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 68 vụ tai nạn giao thông, làm chết 31 người và 51 người bị thương. So với cùng kỳ năm 2016 giảm cả 3 chỉ tiêu, số vụ tai nạn giảm 03 vụ (-4,23%), số người bị chết giảm 5 người (-13,89%) và số người bị thương giảm 17 người (-25%). Trong đó, địa bàn xảy ra nhiều vụ tai nạn nhất là thành phố Thái Nguyên 32 vụ (chiếm 47%), làm 7 người chết (chiếm 22,6%) và 27 người bị thương (chiếm 82,94%).
Trong tháng đã kiểm tra lập biên bản xử lý vi phạm giao thông 3.355 trường hợp; tước 340 giấy phép lái xe; tạm giữ 156 xe ô tô, 415 xe mô tô. Số tiền xử phạt nộp vào ngân sách nhà nước là 3,49 tỷ đồng.
- Thiệt hại do thiên tai: Từ đầu năm 2017 đến nay, trên địa bàn xảy ra mưa kèm gió lốc, làm tốc mái và hư hại nhiều tài sản của người dân ở 6 xã và 1 thị trấn của huyện Đại từ và 01 xã huyện Đồng Hỷ. Tổng số có 243 nhà bị tốc mái (huyện Đại Từ có 242 nhà, huyện Đồng Hỷ 01 nhà); gây ảnh hưởng đến 01 trạm y tế, 02 điểm trường mầm non, 1 nhà văn hóa và 1 khu di tích lịch sử;… Tổng ước tính thiệt hại về tài sản khoảng 4,1 tỷ đồng.
9. Phòng chống cháy nổ
Công tác phòng cháy chữa cháy đã được cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra và nhắc nhở nhằm hạn chế các vụ cháy nổ xảy ra. Trong kỳ (tính từ 15/4-15/5/2017) trên địa bàn xảy ra 6 vụ cháy nhỏ, không có vụ nổ và không có thiệt hại về người. Trong đó, có 4 vụ cháy xảy ra tại thành phố Thái Nguyên, 2 vụ tại thị xã Phổ Yên. Ước giá trị thiệt hại khoảng 6 triệu đồng.
Tính từ đầu năm đến 15/5/2017 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 44 vụ cháy, không có thiệt hại về người. Ước tổng trị giá tài sản thiệt hại khoảng 1,9 tỷ đồng. Trong đó xảy ra tại thành phố Thái Nguyên 28 vụ, huyện Đại Từ 1 vụ, thị xã Phổ Yên 5 vụ, huyện Đồng Hỷ 2 vụ, huyện Phú Lương 4 vụ, huyện Định Hóa 1 vụ, huyện Phú Bình 3 vụ, nguyên nhân xảy ra các vụ cháy chủ yếu là do chập điện.
Khái quát lại: Sáu tháng đầu năm 2017, kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh giữ được đà tăng trưởng cao, sản xuất công nghiệp phát triển tốt với quy mô tăng cao, tạo động lực cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa; thu ngân sách đạt cao so dự toán, giá cả thị trường nhìn chung ổn định, cung cầu hàng hóa được đảm bảo, đời sống dân cư ổn định…, tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn do giá bán sản phẩm giảm sâu và kéo dài; phát triển du lịch - dịch vụ chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh... Trong thời gian 6 tháng cuối năm, nếu sản xuất nông nghiệp thuận lợi, sản xuất công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn tỉnh duy trì được nhịp độ như sáu tháng đầu năm nay thì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 sẽ hoàn thành kế hoạch đề ra./.
  
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
CHUYÊN MỤC
dieutradanso2019

hoc tap lam theo HCM

tong cuc thong ke

luat thong ke 1

cong thong tin thai nguyen


Dieu tra DN 2018

anh minh hoa 1
Thống kê website
  • Đang truy cập9
  • Hôm nay
  • Tháng hiện tại
  • Tổng lượt truy cập
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây