Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2017

Chủ nhật - 25/02/2018 08:17
BÁO CÁO
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2017 tỉnh Thái Nguyên
 
A. KINH TẾ
I. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
1. Sản xuất vụ mùa
Theo kế hoạch vụ Mùa 2017, toản tỉnh sẽ gieo trồng khoảng 50 nghìn ha cây hàng năm; trong đó, diện tích gieo trồng cây lúa là 39,3 nghìn ha; cây rau mầu các loại là 9 nghìn ha, riêng cây ngô là 5 nghìn ha.
Hiện nay các địa phương trên địa bàn tỉnh đang tiếp tục triển khai gieo trồng cây hàng năm vụ Mùa. Nhìn chung vụ mùa năm nay tiến độ nhanh hơn so với năm trước. Dự tính đến 31/7/2017 toàn tỉnh gieo cấy được 30,5 nghìn ha lúa, bằng 78% kế hoạch. Trong đó, một số địa phương cơ bản hoàn tất công tác gieo cấy như: Thị xã Phổ yên cấy được 5,3 nghìn ha, bằng 106,3% kế hoạch; thành phố Thái Nguyên 2,2 nghìn ha, bằng 92%; Đại Từ 6 nghìn ha, bằng 91%; Phú Bình 6 nghìn ha, bằng 85% kế hoạch; các địa phương khác mùa vụ muộn hơn so nên diện tích gieo cấy đạt khoảng 60% kế hoạch.
Diện tích gieo trồng cây màu vụ Mùa ước đạt 6,6 nghìn ha, bằng 36% kế hoạch, trong đó, cây ngô 1,2 nghìn ha, bằng 24% kế hoạch, cây rau, đậu 1,53 nghìn ha, bằng 51,3% kế hoạch…
Vụ mùa năm nay thời tiết liên tục mưa kéo dài, gây úng cục bộ làm ảnh hưởng đến công tác gieo cấy và sinh trưởng của cây, ngập úng 754 ha lúa, 4 ha mạ; 20 ha rau màu, cây ăn quả; 11 ha rừng bị ảnh hưởng; mưa lũ đã làm cho nhiều ao cá bị ngập, 2.700 gia cầm bị chết, 3 gia súc bị chết và cuốn trôi, một số trang trại chăn nuôi bị ảnh hưởng…
Tình hình sâu bệnh: Từ đầu tháng 7/2017 đến nay thời tiết mưa nhiều, kéo dài ngày là điều kiện thuận lợi để sâu bệnh phát triển và gây hại. Tổng diện tích lúa nhiễm sâu, bệnh khoảng 630 ha như bệnh khô vằn, ốc bươu vàng. Ngành chức năng và các địa phương đã chủ động theo dõi diễn biến các đối tượng gây hại để chỉ đạo các biện pháp phòng trừ đạt hiệu quả, đảm bảo năng suất cây trồng.
2. Cây lâu năm
Cây lâu năm trên địa bàn tỉnh đều phát triển tốt, diện tích chè cành, chè trung du của các huyện cho năng suất cao, một số cây quả chính như nhãn, vải năng suất thấp hơn so với năm 2016 do đầu vụ thời điểm ra hoa gặp thời tiết bất lợi.
 Hiện nay các địa phương cơ bản hoàn tất hồ sơ nghiệm thu đất trồng chè và chuẩn bị cấp cây giống cho các địa phương theo kế hoạch trồng mới được giao. Diện tích chè trồng mới tính đến thời điểm 15/7/2017 là 163 ha, trong đó huyện định hóa 60 ha; huyện Võ Nhai 30 ha; huyện Đồng Hỷ 10 ha; thị xã Phổ Yên 60 ha… 
3. Chăn nuôi
Hiện nay trên địa bàn tình không xảy ra dịch bệnh đối với đàn gia súc, gia cầm. Công tác tiêm phòng đợt 2 đang được các ngành chức năng và các địa phương chuẩn bị, dự kiến triển khai vào đầu tháng 8.
Tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm gặp nhiều khó khăn do giá lợn thịt và lợn giống khó tiêu thụ, giá bán thấp dẫn đến tình trạng thua lỗ nặng. Tuy nhiên, từ trung tuần tháng 7/2017 giá lợn tăng đột biến nhưng nguồn cung không còn nhiều.
Hiện nay thời tiết diễn biến phức tạp, mưa nhiều, độ ẩm lớn... nên tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ bùng phát dịch bệnh. Ngành chức năng đã khuyến cáo các cơ sở chăn nuôi cần tập trung tăng cường khâu kiểm soát dịch bệnh, nhất là sử dụng đầy đủ các loại vắc xin, tiêu độc, khử trùng chuồng trại để đảm bảo an toàn cho đàn vật nuôi, không nên tái đàn ồ ạt.
Tính đến thời điểm 31/7/2017: Đàn trâu khoảng 63 nghìn con, giảm 6,29% so cùng kỳ; đàn bò khoảng 43,9 nghìn con, tăng 5,6% so cùng kỳ; đàn lợn khoảng 624 nghìn con, giảm 2,5%; đàn gia cầm khoảng 116 triệu con, tăng 3,7% so cùng kỳ, trong đó đàn gà  9,6 triệu con tăng 3,5% so cùng kỳ.
4. Lâm nghiệp
 Các địa phương cơ bản đã hoàn tất công tác trồng rừng theo kế hoạch và đang triển khai chăm sóc diện tích rừng đã trồng.
Công tác khai thác lâm sản: Ước tính tháng 7/2017 khai thác được 11 nghìn m3 gỗ các loại và 15 nghìn ste củi. Tính chung 7 tháng đầu năm 2017 khai thác được 71,5 nghìn m3gỗ, tăng 1% so cùng kỳ; 107,5 nghìn ste củi, tăng 1,9% so với cùng kỳ.
Kết quả ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng: Trong 6 tháng đầu năm 2017 đã xử lý 204 vụ vi phạm Luật  bảo vệ và phát triển rừng (giảm 28,6%), tịch thu 365m3 gỗ quy tròn các loại (giảm 1%), 32 phương tiện các loại... Thu nộp ngân sách 1.265 triệu đồng (giảm 46%) so với cùng kỳ năm 2016.
II. Sản xuất công nghiệp
Tình hình sản xuất ngành công nghiệp trên địa bàn vẫn duy trì phát triển ổn định, sản phẩm công nghiệp chủ lực vẫn duy trì mức sản xuất và tiêu thụ tốt; tuy nhiên một số sản phẩm công nghiệp trong nước như thép và xi măng lượng tồn kho lớn (thép tồn 138,5 nghìn tấn, gấp 3 lần cùng kỳ; xi măng tồn 45 nghìn tấn, tăng 19% cùng kỳ, gạch xây dựng tồn kho tăng 45,5%...) nên sản xuất không ổn định, ảnh hưởng đến mức độ hoàn thành kế hoạch của các sản phẩm này.     
Với nhịp độ sản xuất và tiêu thụ như trên nên chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tháng 7/2017 ước tính tăng 7% so với tháng trước, tăng 30,5% so cùng kỳ; trong đó, tăng cao nhất là nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 31,1% (do sản xuất sản phẩm điện tử tăng 33,4%); nhóm ngành sản xuất và phân phối điện tăng 29,9%; ngành khai khoáng tăng 27%; nhóm cung cấp nước và hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 25,3% cùng kỳ.
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất tháng 7/2017: nhóm sản phẩm có sản lượng tăng từ 15% trở lên so với cùng kỳ là: Vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 1,5 nghìn tấn, tăng 19,3%; điện thoại thông minh đạt 9,2 triệu sản phẩm, tăng 19,9%; sắt thép các loại đạt 76,8 nghìn tấn, tăng 49,8%; điện thương phẩm đạt 479 triệu Kwh, tăng 37,2%; than khai thác đạt 105,6 nghìn tấn, tăng 31%; nước máy thương phẩm đạt 3,1 triệu m3, tăng 28,7%; sản phẩm may đạt 5,2 triệu sản phẩm, tăng 23,1%; quặng sắt và tinh quặng sắt đạt 16,1 nghìn tấn, tăng 20,4%...  Nhóm sản phẩm có sản phẩm tăng thấp hoặc giảm hơn so với cùng kỳ là: xi măng đạt 200 nghìn tấn, tăng 8,6%, điện sản xuất đạt 140 triệu Kwh, tăng 2,9%; máy tính bảng đạt 2 triệu sản phẩm, tăng 0,6%; đồng tinh quặng đạt 3 nghìn tấn, giảm 4,9%; gạch xây dựng đạt 12,7 triệu viên, giảm 5,6%...
Tính chung 7 tháng đầu năm 2017 chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 20,3% so với cùng kỳ. Trong đó, nhóm ngành công nghiệp chế biến và chế tạo tăng 24% (tăng cao nhất là sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 27,5%); ngành sản xuất và phân phối điện tăng 14,6%;  ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 18,4%. Riêng ngành khai khoáng chỉ tăng 1,9%, do ngành khai thác than tăng thấp.
Sản phẩm công nghiệp sản xuất 7 tháng đầu năm 2017, nhóm sản phẩm công nghiệp chủ yếu đạt sản lượng tăng trên 15% so với cùng kỳ năm 2016 là: Vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 11,7 nghìn tấn, tăng 39,6%; nước máy thương phẩm đạt 19,4 triệu m3, tăng 22,3%; điện thương phẩm 2.601 triệu Kwh, tăng 20,7%; điện thoại thông minh tăng 15,9%; mạch điện tử tích hợp 58,7 triệu cái, gấp 4,7 lần; camera truyền hình 48,7 triệu cái, tăng 40%; tai nghe 31,5 triệu cái, tăng 19,1%... Nhóm sản phẩm công nghiệp có sản lượng tăng dưới 10% hoặc giảm hơn so với cùng kỳ là: sản phẩm may đạt 33,2 triệu sản phẩm, tăng 8,6%; gạch xây dựng đạt 86,3 triệu viên, tăng 7,1%; máy tính bảng tăng 2%; than khai thác đạt 649,6 nghìn tấn, tăng 0,3%; đồng tinh quặng đạt 22,2 nghìn tấn, giảm 3,6%; điện sản xuất đạt 902 triệu Kwh, giảm 5,4%; sắt thép đạt 546 nghìn tấn, giảm 6,5%; xi măng đạt 1,3 triệu tấn, giảm 9%...
III. Thu, chi ngân sách
1. Thu ngân sách nhà nước
Thu trong cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2017 đạt 6.685 tỷ đồng, tăng 33% so với cùng kỳ và bằng 74,2% so với dự toán cả năm. Trong đó, thu nội địa 5.445 tỷ đồng, tăng 36,1% so với cùng kỳ và bằng 80,5% so với dự toán cả năm; thu hoạt động xuất nhập khẩu 1.240 tỷ đồng, tăng 21,2% so với cùng kỳ và bằng 55,1% so với dự toán cả năm.
Tình hình phát triển kinh tế có nhiều chuyển biến tích cực, cùng những chính sách hỗ trợ kịp thời của tỉnh cũng tạo điều kiện cho doanh nghiệp nội địa hoạt động hiệu quả và có số thu khả quan. Trong thu nội địa, nhìn chung các khoản thu đều tăng cao so với cùng kỳ, có 12/16 khoản thu tăng so với cùng kỳ, cụ thể khoản thu tăng cao nhất đó là thu từ tiền cho thuê đất, gấp hơn 3,3 lần và bằng 67,9% dự toán cả năm; tiếp đến là thu tiền cấp quyền sử dụng đất đạt 957,4 tỷ đồng, gấp 2,6 lần và vượt dự toán là 47,3%; thu từ khu vực dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 1.070 tỷ đồng, tăng 85,5% cùng kỳ và bằng 86% dự toán cả năm (do thu từ khai thác và chế biến khoáng sản tăng); thu phí, lệ phí đạt 116,9 tỷ đồng, tăng 60% so với cùng kỳ và bằng 68,7% dự toán cả năm; thu ngân sách xã đạt 7,1 tỷ đồng, tăng 40,9% so với cùng kỳ và bằng 79,3% dự toán cả năm… có 4/16 khoản thu đạt thấp hơn so với cùng kỳ: cụ thể khoản thu giảm mạnh nhất là thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đạt 4,5 tỷ đồng, giảm 48,2% so với cùng kỳ và chỉ bằng 34,5% dự toán cả năm; thu lệ phí trước bạ đạt 165,1 tỷ đồng, giảm 8,3% so với cùng kỳ và bằng 47,2% dự toán cả năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.319 tỷ đồng, giảm 4,9% so với cùng kỳ và bằng 83,2% dự toán cả năm; thu khác ngân sách đạt 50,1 tỷ đồng, giảm 0,6% so với cùng kỳ và bằng 52,2% dự toán cả năm.
2. Chi ngân sách địa phương
Tổng chi ngân sách địa phương 6 tháng đầu năm 2017 đạt 4.553 tỷ đồng, tăng 33,2% so với cùng kỳ và 44,5% dự toán cả năm. Trong đó, chi cân đối ngân sách địa phương đạt 4.126 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 91%), tăng 27,5% so với cùng kỳ và bằng 44,2% dự toán cả năm; chi chương trình mục tiêu quốc gia đạt 407 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 9%), tăng gần 2,5 lần so với cùng kỳ và bằng 46,8% dự toán cả năm.
Trong tổng chi thường xuyên, hầu hết các khoản chi đều tăng cao so với cùng kỳ, có 10/11 khoản chi tăng cao. Cụ thể khoản chi lớn nhất là chi 1.173 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 37,2%), tăng 18,6% so với cùng kỳ và bằng 40,1% dự toán cả năm; tiếp đến là khoản chi quản lý hành chính đạt 721 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 22,9%), tăng 19,6% so với cùng kỳ và bằng 50,9% dự toán cả năm; chi sự nghiệp y tế, dân số và gia đình đạt 420 tỷ đồng, tăng 42,3% so với cùng kỳ và bằng 51,2% dự toán cả năm, riêng chi sự nghiệp bảo vệ môi trường đạt 77 tỷ đồng, tăng gấp 2,3 lần so với cùng kỳ và bằng 24,9% dự toán cả năm…Chỉ có duy nhất 1 khoản chi đạt thấp hơn so với cùng kỳ đó là chi sự nghiệp phát thanh truyền hình đạt 18 tỷ đồng, giảm 16,7% so với cùng kỳ và bằng 28,8% dự toán cả năm.
IV. Thương mại, giá cả, dịch vụ
1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ phục vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng 7/2017 ước đạt 2.032 tỷ đồng, tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 9,8% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành dịch vụ lưu trú ăn uống, tăng 9%, du lịch lữ hành tăng 7,4%, ngành thương mại tăng 10%, dịch vụ khác tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 7 tháng đầu năm 2017, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước đạt 13.976 tỷ đồng, tăng 9,8% so với cùng kỳ (nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì tổng mức bán lẻ tăng 5,5%). Trong đó, ngành thương nghiệp bán lẻ ước đạt 12.053 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 86,2%), tăng 9,6% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống doanh thu ước đạt 1.028 tỷ đồng, tăng 7,5% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ tiêu dùng còn lại ước đạt 890 tỷ đồng, tăng 7% so với cùng kỳ; nhóm lữ hành chỉ chiếm một phần rất nhỏ (đạt 4,6 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,03% tăng 8% so với cùng kỳ).
Nếu chia theo thành phần kinh tế, khối cá thể có tổng mức bán lẻ ước đạt 8.824,4 tỷ đồng, chiếm 63,1% thị phần bán lẻ; khối doanh nghiệp trong nước đạt 5.133,6 tỷ đồng, chiếm 36,7% thị phần bán lẻ; còn lại là doanh thu nhóm dịch vụ lưu trú của khối doanh nghiệp FDI chỉ chiếm một phần nhỏ bằng 0,13% thị phần tổng mức bản lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng.
2. Xuất, nhập khẩu
a. Xuất khẩu
Tình hình xuất khẩu trên địa bàn vẫn duy trì được sự ổn định. Tổng giá trị xuất khẩu tháng 7/2017 ước đạt 2,02 tỷ USD, tăng 12,3% so với cùng kỳ. Trong đó: giá trị xuất khẩu khu vực trong nước ước đạt 22,3 triệu USD, tăng 1,5% so với tháng trước, tăng 0,8% so với cùng kỳ. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 2 tỷ USD, tăng 12,5% và chiếm tỷ trọng 98,9% tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn. So với cùng kỳ, mặt hàng xuất khẩu tăng cao nhất là: kim loại màu và tinh quặng kim loại màu 16,9 triệu USD, tăng 58,7%; chè các loại đạt 436 tấn với giá trị đạt 0,86 triệu USD, tăng 26% về lượng, tăng 22% về giá trị; sản phẩm điện thoại và máy tính bảng đạt 9,8 triệu cái với giá trị 1,67 tỷ USD, giảm 0,9% về lượng nhưng tăng 14% về giá trị (do xuất khẩu sản phẩm mới có giá trị/1 sản phẩm cao); sản phẩm từ sắt thép đạt 4,1 triệu USD, tăng 7,7%; linh kiện điện tử và phụ tùng khác đạt 307,9 triệu USD, tăng 4,4%... Một số mặt hàng xuất khẩu giảm hơn so với cùng kỳ là: giấy và các sản phẩm từ giấy đạt 0,2 triệu USD, giảm 12,3%; sản phẩm may đạt 17,1 triệu USD, giảm 18,7%...
Tính chung 7 tháng đầu năm 2017, giá trị xuất khẩu trên địa bàn ước đạt 13,92 tỷ USD, tăng 32,5% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu địa phương quản lý đạt 148,1 triệu USD, tăng 3,5%; khu vực đầu tư nước ngoài đạt 13,77 tỷ USD, tăng 32,9%. Nhóm mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn là: điện thoại thông minh và máy tính bảng đạt 66,4 triệu cái với giá trị 11,3 tỷ USD, tăng 10,9% về lượng và tăng 30,8% về giá trị so với cùng kỳ; linh kiện điện tử và phụ tùng khác đạt 2,3 tỷ USD, tăng 44,1%; kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 181,5 nghìn tấn với giá trị 121,2 triệu USD, tăng 18,6% về lượng, tăng 43,1% về giá trị; sản phẩm may đạt 115,5 triệu USD, giảm 5,3%; sản phẩm từ sắt thép đạt 29,9 triệu USD, tăng 10,4%; chè các loại giảm 2,9% về lượng và giảm 6,3% về giá trị…
b. Nhập khẩu
Tổng giá trị nhập khẩu tháng 7/2017 trên địa bàn ước đạt 1,18 tỷ USD, tăng 0,1% so với tháng trước và tăng 37,7%  so với cùng kỳ. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,17 tỷ USD, tương đương so với tháng trước và tăng 38,4% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 98,6% tổng giá trị nhập khẩu.
Nhóm mặt hàng nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong tháng là: nguyên liệu và linh kiện điện tử ước đạt 1,15 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 96,8% tổng giá trị nhập khẩu, tăng 48,6% so với cùng kỳ; vải và phụ liệu hàng may mặc ước đạt 10,2 triệu USD, tăng 5,4% cùng kỳ; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 6,5 triệu USD, tăng gấp 7,8 lần; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 5,6 triệu USD, bằng 8,7% so với cùng kỳ; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 4,8 triệu USD, giảm 0,2% so với cùng kỳ...
Tính chung 7 tháng đầu năm 2017, tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn ước đạt 8,63 tỷ USD, tăng 25,2% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước ước đạt 119,1 triệu USD, chiếm tỷ trọng 1,4% tổng giá trị nhập khẩu. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 8,51 tỷ USD, tăng 27,3% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 98,6% tổng giá trị nhập khẩu. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ là: vải các loại đạt 63,5 triệu USD, tăng 13,8% nguyên liệu và linh kiện điện tử đạt 8,35 tỷ USD, tăng 36,3%; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 39,4 triệu USD, gấp 2,3 lần; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 33,6 triệu USD, gấp 6,3 lần; sản phẩm từ sắt thép đạt 44,6 triệu USD, gấp 7,5 lần so với cùng kỳ…
3. Giá tiêu dùng
Bên cạnh một số nhóm hàng hóa giảm như xăng dầu, phương tiện vận tải  thì từ giữa tháng 7/2017 nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng nên chỉ số giá tiêu dùng chung tháng 7/2017 tăng 0,22% so với tháng trước, tăng 2% so tháng 7 năm trước và tăng 4,09% so bình quân cùng kỳ.
 So với tháng trước chỉ số giá tiêu dùng tăng 0,22%. Có 6/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng có chỉ số giá tăng,  trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất, tăng 1,21% (do rau tươi tăng 4,9%; thịt gia súc tươi sống tăng 2,6%; thịt chế biến tăng 1,2%); tiếp đến nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,9% (do nhóm bảo hiểm, dịch vụ khác tăng 4,61%) và 4/11 nhóm hàng hóa tăng nhẹ từ 0,03%-0,36% như: nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,03%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,11%... Tuy nhiên, nhóm  giao thông chỉ số giá giảm 2,58% so với tháng trước (do phương tiện đi lại giảm 2,58%, nhiên liệu giảm 3,24%). Còn lại 4/11nhóm hàng hóa và dịch vụ tương đương tháng trước như nhóm đồ uống và thuốc lá; nhóm thuốc và dịch vụ y tế; nhóm bưu chính viễn thông; nhóm giáo dục.
So với tháng 12/2016, chỉ số giá  tiêu dùng giảm 1,07%. Có 4/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá  giảm. Trong đó, giảm nhiều nhất là  nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 3,61% (do giá  thịt tươi sống giảm 10,61%, giá thủy sản  tươi sống 2,23%);  nhóm giao thông giảm 1,61% (do giá nhóm phương tiện đi lại giảm 3,4%); còn lại 2 nhóm có chỉ số giá giảm dưới 0,5% như: thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,02% và nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,46%. Có 4/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chỉ số giá tăng  từ 0,06% đến 0,5% như nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,49%; nhóm may mặc tăng 0,08%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,06%; nhóm giáo dục tăng 0,21%. Có 3/11 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng trên 1% như: nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,02% (do nhóm  giải trí tăng 1,01%, nhóm hoa cây cảnh tăng 1,85%); nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,75% (do  giá dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 5,37%, giá dịch vụ vệ sinh môi trường tăng 14,45%); nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,95% (do giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 1,46%...).
So với cùng kỳ (tháng 7/2016), chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2017 tăng 1,98%.  Có 8/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có chỉ số giá tăng,  trong đó nhóm chỉ số giá tăng cao nhất là nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 739%; tiếp đến nhóm giáo dục tăng 9,38% (do giá dịch vụ giáo dục tăng 11,4%, văn phòng phẩm tăng 0,85%); còn lại các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng trong khoảng từ 0,5%-2,1% như nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,46%; nhóm may mặc tăng 0,72%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,07%...còn lại 03/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ giảm như: hàng ăn và dịch vụ ăn  uống giảm 1,19% do nhóm thực phẩm giảm 8,41%; nhóm giao thông giảm 0,29% (do phương tiện đi lại giảm 2,7%); nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,68% ( do nhóm hàng hóa thiết bị điện thoại giảm 3,72%).
 Chỉ số giá vàng: chỉ số giá vàng tháng 7/2017 giảm 1,77% so với tháng trước và giảm 2,24% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá vàng bình quân 7 tháng đầu năm 2017 tăng 5,11% so với  cùng kỳ.
Chỉ số giá Đô la Mỹ: Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 7/2017 tăng 0,15% so tháng trước và tăng 1,95% so với cùng kỳ. Chỉ số giá Đô la Mỹ bình quân 7 tháng  đầu năm 2017 tăng 1,66% so với cùng kỳ.
4. Giao thông vận tải
Hoạt động vận tải hành khách và vận tải hàng hóa trên địa bàn vẫn được duy trì ổn định, đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đi lại của nhân dân.
- Vận chuyển hành khách: Số lượt hành khách vận chuyển tháng 7/2017 ước đạt 1.150,6 nghìn lượt khách với lượng hành khách luân chuyển là 78,4 triệu hành khách.km; so với tháng trước tăng 2,7% về số hành khách vận chuyển và hành khách luân chuyển; so với cùng kỳ tăng trên 8,5% về số lượng hành khách vận chuyển và tăng 4,4% số hành khách luân chuyển. Tính chung 7 tháng đầu năm 2017 số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 7,5 triệu lượt hành khách với 519 triệu lượt hành khách.km; so với cùng kỳ tăng 7% về số hành khách vận chuyển và tăng 6,0% về số lượng hành khách luân chuyển. Trong đó, kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 7,3 triệu lượt khách với 491,4 triệu hành khách.km (chiếm 97,3% tổng số), tăng 9,5% về số hành khách vận chuyển và tăng 11,2% số hành khách luân chuyển so với cùng kỳ.
- Vận chuyển hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 7/2017 ước đạt 2,1 triệu tấn với  80,3 triệu tấn, giảm  0,7% so với tháng trước về khối lượng vận chuyển và khối lượng luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 7,2% về khối lượng hàng hóa vận chuyển và tăng 6,5% về khối lượng hàng hóa luân chuyển. Tính chung 7 tháng đầu năm 2017, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 14,3 triệu tấn với 517,8 triệu tấn.km, tăng 5,1% về khối lượng vận chuyển và tăng 6% khối lượng luân chuyển so với cùng kỳ.
Tổng doanh thu vận tải trên địa bàn tháng 7/2017 ước đạt 196 tỷ đồng, tương đương với tháng trước và tăng 6,3% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 40 tỷ đồng, tăng 2,8% so với tháng trước và  tăng 6% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa là 156 tỷ đồng, giảm  0,6% so tháng trước và tăng 6,3% cùng kỳ. Tính chung 7 tháng đầu năm 2017, tổng doanh thu vận tải trên địa bàn ước đạt 1,3 tỷ đồng, tăng 5,2% cùng kỳ (doanh thu vận tải hành khách ước tăng 6,5%, doanh thu vận tải hành hóa tăng 4,9%).
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Y tế
- Công tác phòng chống dịch và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm được duy trì triển khai. Các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe được quan tâm. Trong 7 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh không có dịch bệnh lớn xảy ra. Số lượt người bị sốt phát ban dạng sởi/rubella  là 7, giảm 26 lượt  so cùng kỳ; bệnh Quai bị: 333 ca, giảm 985 ca; ho gà 5 ca, tăng 02 ca; Sốt xuất huyết 10 ca, tăng 2 ca so cùng kỳ 2016.
Trong 6 tháng đầu năm, đã có 5.121 người phải tiêm vắc xin/huyết thanh để phòng và điều trị dự phòng bệnh dại do bị chó nghi dại cắn; Số trường hợp bị chó nghi dại cắn và số trường hợp bị nhiều vết cắn và vết cắn nặng tăng 1,2% so với cùng kỳ năm 2016.
- Công tác khám chữa bệnh: Trong 6 tháng đầu năm, các hoạt động khám chữa bệnh, thực hiện quy chế chuyên môn tại các bệnh viện, trạm y tế được duy trì tốt, đặc biệt khám chữa bệnh BHYT, đối tượng chính sách, trẻ em dưới 6 tuổi; Số giường thực kê tại các bệnh viện đạt 5.833 giường, tăng 2.308 giường so với giường kế hoạch (3.525 giường KH).
- Chương trình phòng chống HIV/AIDS: Trong 6 tháng đầu năm 2017, hoạt động phòng chống HIV/AIDS và điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tiếp tục duy trì; Công tác rà soát người nhiễm HIV tại cơ sở, hạn chế số liệu trùng lặp được tiến hành thường xuyên. Tính từ đầu năm đến  hết tháng 5/2017 tích lũy  số nhiễm HIV/AIDS  là 9.603,  số chuyển sang AIDS: 6.672, số tử vong do AIDS có 3.391 người,  riêng tháng 5/2017 số nhiễm HIV/AIDS  là 18,  số chuyển sang AIDS: 62, số tử vong do AIDS có 1 người.
- Công tác quản lý dược:  Ngành chức năng  tăng cường chấn chỉnh hoạt động của các cơ sở hành nghề KB,CB ngoài công lập và kinh doanh thuốc;  Tính đến ngày 01/7/2017 trên toàn tỉnh có 1.134 cơ sở kinh doanh thuốc hoạt động có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc còn hiệu lực, trong đó: Doanh nghiệp kinh doanh thuốc: 17, Nhà thuốc: 292, Quầy thuốc: 689, Đại lý bán thuốc của doanh nghiệp: 44, Tủ thuốc trạm y tế: 86, Cơ sở bán lẻ thuốc y học cổ truyền: 06.
- Dân số - trẻ em:  Hoạt động truyền thông về công tác dân số, KHHGĐ được quan tâm triển khai thường xuyên. Trong 6 tháng  đầu năm 2017, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 7.831 trẻ mới sinh, tăng 392 trẻ so với cùng kỳ năm 2016; trong đó có  585 trẻ mới sinh là con thứ 3 trở lên (tăng 25 trẻ so với cùng kỳ), chiếm 7,5% tổng số trẻ sinh ra. Có 3/9 huyện/thành phố có số trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên tăng so với cùng kỳ năm 2016 (TP Thái Nguyên tăng 10 trẻ; huyện Phú Lương tăng 12 trẻ  và huyện Võ Nhai tăng 20 trẻ). Tỷ số giới tính khi sinh ra là 113,4 trẻ nam/100 trẻ gái, giảm so với cùng kỳ 2016 (năm 2016 là 116,1 trẻ nam/100 trẻ gái)
- Công tác xây dựng xã đạt tiêu chí Quốc gia về y tế: Trong 6 tháng đầu năm 2017, ngành chức năng công nhận thêm 6 xã  đạt tiêu chí quốc gia về y tế năm 2017. Đến nay, toàn tỉnh đã có 159/180 xã đạt tiêu chí Quốc gia về Y tế (đạt 88,3%).
2. Giáo dục, đào tạo
Công tác tuyển sinh vào lớp 10 và tổ chức kỳ thi Trung học phổ thông quốc gia năm 2017: Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2017-2018, toàn tỉnh tổ chức 28 Hội đồng coi thi, với 539 phòng thi. Số thí sinh đăng ký dự thi vào lớp 10 đại trà và lớp 10 chuyên năm 2017-2018 là 12.905 thí sinh. Riêng đối với Trường THPT Chuyên Thái Nguyên có 804 thí sinh đăng ký dự thi, gần 1.500 cán bộ, giáo viên làm nhiệm vụ coi thi. Hình thức tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2017-2018 vẫn là thi tuyển kết hợp với xét tuyển.
Kỳ thi Trung học phổ thông Quốc gia năm 2017, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 31 điểm thi do Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì (năm nay Đại học Thái Nguyên không chủ trì). Toàn tỉnh có 13.225 thí sinh đăng ký tham dự kỳ thi Trung học phổ thông Quốc gia, so với kỳ thi Trung học phổ thông Quốc gia năm 2016 giảm 902 thí sinh. Trong đó, số học sinh đăng ký dự thi để lấy kết quả tốt nghiệp 4.637 thí sinh (chiếm 35%); dự thi vừa lấy kết quả tốt nghiệp vừa xét tuyển đại học, cao đẳng 7.701 thí sinh; thi để lấy kết quả xét tuyển đại học, cao đẳng 887 thí sinh.
Kết quả thi tốt nghiệp THPT quốc gia năm 2017: Số học sinh dự thi để xét công nhận tốt nghiệp là 12.309 học sinh;  Số học sinh  đỗ tốt nghiệp 11.884 học sinh; Tỷ lệ  đỗ tốt nghiệp là 96,55% (trong đó, Hệ giáo dục trung học đạt 97,14%; Hệ Giáo dục thường xuyên đạt 88,65%). Khối giáo dục trung học có 8/33 trường có tỷ lệ học sinh tốt nghiệp đạt 100%; có 19/33 trường có tỷ lệ đố tốt nghiệp từ 95% trở lên; còn lại 6 trường đạt tỷ lệ từ 88% - 94% đỗ tốt nghiệp. Khối giáo dục thường xuyên có 4/16 trường đạt tỷ lệ đỗ tốt nghiệp đạt 100%; có 10/16 trường đạt tỷ lệ đỗ từ 80% - 97% ; còn lại 2/16 trường có tỷ lệ học sinh đỗ  tốt nghiệp thấp từ 25%-57%.  Các hoạt động của kỳ thi từ công tác chỉ đạo, công tác phối hợp việc coi thi, chấm thi, xét tốt nghiệp được tiến hành nghiêm túc, đúng quy chế.
Thực hiện đề án xây dựng hệ thống trường đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 2016-2020, tính đến thời điểm 20/7/2017 toàn tỉnh có 533/677 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt 78,7% vượt 2,7% so kế hoạch (Kế hoạch đề án là 76%). Trong đó, khối mầm non có 176/229 trường đạt chuẩn quốc gia; Khối tiểu học có 214/227 trường đạt chuẩn quốc gia; Khối THCS có 127/189 trường; khối THPT có 16/32 trường.
3. Thực hiện chính sách Người có công
Hướng tới kỷ niệm 70 năm ngày thương binh liệt sĩ (27/7/1947- 7/7/2017), trên địa bàn tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động như: tổ chức các đoàn đi thăm hỏi, tặng quà các đối tượng người có công, gia đình chính sách; tổ chức Hội nghị tổng kết 5 năm phong trào Đền ơn đáp nghĩa (2012 - 2017) và biểu dương người có công với cách mạng tiêu biểu; tổ chức đưa đoàn đại biểu Mẹ Việt Nam anh hùng và người có công với cách mạng dự hội nghị biểu dương toàn quốc; tổ chức đoàn đại biểu của tỉnh viếng nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn tỉnh Quảng Trị và thăm tặng quà 5 trung tâm Điều dưỡng Người có công tỉnh ngoài có thương binh người Thái Nguyên đang điều trị; tổ chức cho 429 người có công của tỉnh đi điều dưỡng tập trung ; thẩm định hồ sơ trợ cấp một lần đối với người có thành tích tham gia kháng chiến được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bằng khen của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 224 trường hợp...
4. Văn hóa, thể thao
Trong tháng 7 năm 2017, trên địa bàn tỉnh Thái nguyên diễn ra nhiều hoạt động văn hóa thể thao, chào mừng các ngày lễ lớn. Nhân dịp kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh - Liệt sỹ, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, chăm lo các gia đình, đối tượng chính sách được triển khai, tổ chức các hoạt động kỷ niệm như: tham gia triển lãm “Thái Nguyên - Nơi khởi nguồn của ngày Thương binh - Liệt sỹ 27/7” tại Hà Nội do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức. Phối hợp với Sở Văn hoá Du lịch thành phố Hồ Chí Minh tổ chức chương trình nghệ thuật tại Thái Nguyên phục vụ nhân dân; tổ chức thành công Liên hoan tuyên truyền lưu động năm 2017, phối hợp thực hiện chương trình Cầu truyền hình Dáng đứng Việt Nam, điểm cầu tại Thái Nguyên là Khu du di tích lịch sử Quốc gia 27/7, xóm Bàn Cờ, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Hoàn thiện hồ sơ, đề nghị UBND tỉnh xếp hạng 08 di tích; thực hiện các quy trình về việc đăng ký bản quyền và logo Cuộc thi Người đẹp xứ Trà năm 2017...
Hoạt động phát hành phim và chiếu bóng: Thực hiện 80 buổi chiếu phim, trong đó có 02 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị, 78 buổi phục vụ các xã vùng khó khăn, đối tượng chính sách; phục vụ 1.250 lượt người xem. Hoạt động biểu diễn nghệ thuật: Tổ chức 4 buổi biểu diễn, trong đó 3 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị; 1 buổi phục vụ đối tượng chính sách và các xã đặc biệt khó khăn.
Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở: xây dựng kế hoạch tổ chức Liên hoan “Tiếng hát người cao tuổi” tỉnh Thái Nguyên lần II/2017; Tham gia Liên hoan tuyên truyền lưu động toàn quốc với chủ đề “Uống nước nhớ nguồn” được tặng Bằng khen của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; tổ chức thành công Liên hoan tuyên truyền lưu động cấp tỉnh với 12 đoàn tham dự. Kết thúc Liên hoan, Ban tổ chức đã trao 02 giải Nhất, 03 giải Nhì và 04 giải Ba cho khối các huyện, thành, thị; 01 giải Nhất, 02 giải Nhì cho khối cơ quan, doanh nghiệp. Thực hiện công tác tuyên truyền 11 buổi tại chỗ và cơ sở; duy trì sinh hoạt cho các CLB theo sở thích; phục vụ chương trình hiến máu tình nguyện với chủ đề “Hành trình đỏ”, Đại hội Phật giáo tỉnh Thái Nguyên.
Công tác thanh kiểm tra, xử lý vi phạm: Ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra hoạt động quảng cáo của 9 cơ sở trên địa bàn thành phố Thái Nguyên. Công tác kiểm tra các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa, du lịch đã chấn chỉnh các hành vi sai phạm góp phần tích cực đưa các cơ sở kinh doanh hoạt động theo đúng quy định.
Hoạt động thể thao: tổ chức Đại hội Thể dục thể thao các cấp ở cơ sở.  Chuẩn bị và phối hợp chuẩn bị các điều kiện tổ chức Đại hội Liên đoàn quần vợt, cờ nhiệm kỳ 2017-2021; giải cầu lông truyền thống ngành Tuyên giáo mở rộng năm 2017, tổ chức giải bóng chuyền hơi tỉnh Thái Nguyên (ngày 26-30/7/2017)…
Đào tạo học sinh năng khiếu thể dục thể thao: tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo 161 học sinh năng khiếu hệ nội trú, 40 học sinh bán trú. Tham gia thi đấu đạt 39 huy chương các loại (09 HCV, 13 HCB, 17 HCĐ), có 13 lượt VĐV đạt cấp I Quốc gia; đội tuyển bóng đá Nhi đồng  tham gia thi đấu vòng loại, được vào vòng bán kết.
Thể thao thành tích cao: Duy trì công tác quản lý, huấn luyện, kiểm tra  việc tập luyện của các đội tuyển; đạt 05 huy chương các loại (01HCB, 04 HCĐ).
5. Tình hình trật tự, an toàn xã hội
- Phòng chống tệ nạn xã hội:
Lũy kế từ đầu năm đến 15/7/2017 toàn tỉnh tổ chức cai nghiện được 756/1.570  ngườ đạt 48,1% so với kế hoạch. Trong đó, Cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng 314 người; Cai nghiện tại các Cơ sở cai nghiện 442 người.
Tổng số học viên đang quản lý tại các cơ sở điều trị nghiện ma túy trên địa bàn tỉnh là 373 người. Điều trị methadone tại các cơ sở cai nghiện 326 người, trong đó, Cơ sở thị xã Phổ Yên 32 người; Cơ sở huyện Phú Lương 48 người; Cơ sở thành phố Thái Nguyên 57 người; Cơ sở tư vấn và điều trị cai nghiện ma túy tỉnh 48 người; Cơ sở tư vấn và điều trị nghiện tự nguyện tỉnh 141 người.
Tổ chức các hoạt động phòng chống tệ nạn xã hội như: Đội kiểm tra liên ngành 178 về phòng chống mại dâm tỉnh đã kiểm tra 11 cơ sở kinh doanh dịch vụ trên địa bàn tỉnh; tổ chức tập huấn các quy định pháp luật về phòng chống mại dâm cho chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ và người làm việc tại cơ sở kinh doanh dịch vụ với 45 người tham gia; tổ chức truyền thông về can thiệp giảm hại, phòng ngừa mại dâm, lây nhiễm HIV và các bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục với 40 người tham gia; tổ chức 7 lớp tuyên truyền về phòng chống tệ nạn xã hội với 480 người tham gia...
- Tình hình an toàn giao thông:
Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh Thái Nguyên, trong tháng 7/2017 trên địa bàn xảy ra 9 vụ tai nạn giao thông, làm 5 người chết và 8 người bị thương. Tai nạn liên quan đến ô tô 03 vụ (33,33%); liên quan đến mô tô 03 vụ (33,33%); liên quan đến phương tiện khác 03 vụ (33,33%). Thiệt hại tài sản ước tính khoảng 112,2 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giảm 2 vụ, tương đương với 18,18%; số người chết giảm 3 người (-42,86%); nhưng số người bị thương lại tăng 1 người (+14,29%).
Tính chung 7 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 83 vụ tai nạn giao thông, làm chết 37 người và 64 người bị thương. So với cùng kỳ năm 2016 giảm cả 3 chỉ tiêu, số vụ tai nạn giảm 12 vụ (-12,63%), số người bị chết giảm 15 người (-28,85%) và số người bị thương giảm 17 người (-20,99%). Trong đó, địa bàn xảy ra nhiều vụ tai nạn nhất là thành phố Thái Nguyên với 38 vụ (chiếm 45,8%), làm 8 người chết (chiếm 21,6%) và 35 người bị thương (chiếm 54,7%).
Trong tháng đã kiểm tra lập biên bản xử lý vi phạm 3.027 trường hợp; tước  227 giấy phép lái xe; tạm giữ 121 xe ô tô, 203 xe mô tô; 9 phương tiện khác. Số tiền xử phạt 3.274 triệu đồng.
6. Thiệt hại do thiên tai
Tính từ đầu năm đến ngày 20/7/2017, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra mưa lớn, kèm gió lốc và lũ cuốn đã làm cho 6 người bị chết (1 người bị sét đánh và 5 người bị lũ cuốn trôi) và 1 người bị thương. Mưa lũ và gió lốc làm cho 13 ngôi nhà bị sập hoàn toàn, 980 ngôi nhà của dân bị tốc mái, ngập nước; gây ảnh hưởng đến 01 cơ sở y tế, 5 công trình văn hóa; làm hư hỏng, thiệt hại nhiều tài sản, công trình như: 754 ha lúa, 4 ha mạ bị ngập nước; 20 ha rau màu, cây ăn quả; 11 ha rừng bị ảnh hưởng; mưa lũ đã làm cho 2.700 gia cầm bị chết, 3 gia súc bị chết và cuốn trôi; 5 cột điện bị đổ, 100 m kênh mương, 130 m đường giao thông bị hỏng, làm sạt lở 5,3 nghìn m3 khối đất đá... Tổng ước tính thiệt hại về tài sản khoảng 16,3 tỷ đồng.
Ngành chức năng đã phối hợp với địa phương khắc phục, xử lý sự cố, đánh giá thiệt hại, huy động lực lượng tại chỗ để tích cực triển khai, trợ giúp các hộ dân khắc phục thiệt hại, ổn định cuộc sống.
7. Phòng chống cháy nổ
Công tác phòng cháy chữa cháy đã được cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra và nhắc nhở nhằm hạn chế các vụ cháy, nổ xảy ra. Trong kỳ (từ 15/6- 15/7/2017) trên địa bàn tỉnh xảy ra 5 vụ cháy, không có vụ nổ nào xảy ra; trong đó có 4 vụ cháy xảy ra tại thành phố Thái Nguyên và 1 vụ tại huyện Đại Từ. Ước thiệt hại của các vụ cháy khoảng 8,75 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh để xảy ra 59 vụ cháy, 1 vụ nổ, không có thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại do cháy nổ khoảng 2,1 tỷ đồng.
8. Vi phạm môi trường
Trong kỳ qua trên địa bàn Tỉnh ngành chức năng đã kiểm tra và xử lý 4 vụ vi phạm môi trường, trong đó có 3 vụ vi phạm tại thành phố Sông Công, 1 vụ vi phạm tại thị xã Phổ Yên với tổng tiền phạt là 554 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến 15/7/2017 trên địa bàn tỉnh đã phát hiện và xử lý 30 vụ vi phạm môi trường, với số tiền xử phạt lên tới 1,1 tỷ đồng. So với cùng kỳ, tăng 7 vụ và số tiền xử phạt tăng 0,9 tỷ đồng; nguyên nhân của các vụ xử lý trên là do các cơ sở sản xuất kinh doanh không thực hiện chương trình giám sát môi trường định kỳ không có cam kết, kế hoạch bảo vệ môi trường hoặc không đăng ký một trong các nội dung bảo vệ môi trường.
Trên đây là một số tình hình về kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên tháng 7 và 7 tháng đầu năm năm 2017./.
 
 
 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây