Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2018 tỉnh Thái Nguyên

Thứ hai - 30/07/2018 09:29
A. KINH TẾ
I. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
1. Sản xuất vụ mùa
Theo kế hoạch vụ Mùa 2018, toàn tỉnh sẽ gieo trồng 47,25 nghìn ha cây hàng năm (chỉ gồm cây lúa; cây ngô và cây rau); trong đó, diện tích gieo trồng cây lúa là 39,5 nghìn ha (tăng 200 ha so với kế hoạch năm 2017); cây rau các loại là 3 nghìn ha và cây ngô là 4,75 nghìn ha.
Vụ mùa năm nay thời tiết khí hậu tương đối thuận lợi nên tiến độ gieo trồng nhanh và đảm bảo thời vụ. Dự tính đến 31/7/2018 toàn tỉnh gieo cấy được 39,5 nghìn ha lúa, bằng 100% kế hoạch trong vụ, nhưng giảm 1,3 nghìn ha so với diện tích lúa Mùa 2017. Bên cạnh cây lúa, diện tích gieo trồng một số cây màu chính trong vụ Mùa ước đạt 8,6 nghìn ha, bằng 92,9% kế hoạch; trong đó, cây ngô trồng được 4,2 nghìn ha, bằng 88,4% kế hoạch; cây rau các loại gieo trồng được khoảng 3 nghìn ha, bằng 100% kế hoạch và giảm khoảng 6% so cùng kỳ; cây khoai lang trồng được khoảng 680 ha; cây đỗ tương 250 ha…
Tình hình sâu bệnh: Trên diện tích lúa mùa sớm, mùa trung xuất hiện sâu cuốn lá, rầy và bệnh vàng lụi rải rác; bệnh khô vằn nhẹ trên trà lúa mùa sớm. Diện tích lúa bị ốc bươu vàng gây hại khoảng 78 ha, trong đó có 8 ha bị ảnh hưởng nặng, chủ yếu tại huyện Đồng Hỷ, TX Phổ yên, huyện Võ Nhai. Ngành chức năng và các địa phương đã chủ động theo dõi diễn biến các đối tượng gây hại để chỉ đạo các biện pháp phòng trừ đạt hiệu quả, đảm bảo năng suất cây trồng.
2. Cây lâu năm
Cây lâu năm trên địa bàn tỉnh đều phát triển tốt, diện tích chè cành, chè trung du của các huyện cho năng suất cao, một số cây quả chính như nhãn, vải cho năng suất cao hơn so với năm 2017.
Công tác trồng mới chè: Để khuyến khích nông dân chuyển đổi cơ cấu giống chè theo hướng nâng cao giá trị và chất lượng sản phẩm, tỉnh đã có chính sách cấp kinh phí để hỗ trợ 50% giá giống chè, ngoài ra các huyện, thành phố, thị xã cũng đã chủ động bố trí nguồn kinh phí của địa phương hỗ trợ thêm từ
30-50% giá giống chè cho các hộ nông dân tham gia.
Căn cứ vào chỉ tiêu được giao, các địa phương đã triển khai để các hộ dân đăng ký nhu cầu trồng mới và trồng thay thế chè năm 2018. Tính đến ngày 17/7/2018, các địa phương cơ bản hoàn tất hồ sơ nghiệm thu đất trồng chè và chuẩn bị công tác cấp cây giống theo kế hoạch vào vụ thu. Kết quả đăng ký trồng chè năm 2018 được 998 ha/776 ha kế hoạch, đã nghiệm thu diện tích đất trồng chè được 96,5% kế hoạch. Công tác ươm giống chè: Toàn tỉnh có 32 vườn ươm chè được kiểm định chất lượng giống với tổng số hom cắm là 41,7 triệu hom, tỷ lệ sống trung bình đạt 94,2% (với khoảng 39,4 triệu cây).
Về tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật: Từ đầu năm đến nay, các địa phương trên địa bàn đã tổ chức 15 lớp tập huấn với 750 người tham gia về công tác kỹ thuật trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh trên cây chè; hướng dẫn sản xuất, thâm canh chè an toàn, chất lượng theo quy trình VietGap...  Ngành chức năng đã triển khai thực hiện 05 mô hình, trong đó 03 mô hình chứng nhận sản xuất chè an toàn theo quy trình VietGap, quy mô là 10-15 ha/mô hình tại huyện Định Hóa, Phú lương và thành phố Thái Nguyên; 02 mô hình thâm canh chè an toàn chất lượng cao, quy mô 2,5 ha/mô hình tại huyện Đại Từ và Phú Lương.
Tình hình sâu bệnh trên cây chè: Diện tích bị nhiễm bệnh khoảng 865 ha, trong đó rầy xanh khoảng 406 ha; bọ cánh tơ khoảng 323 ha, bọ xít muỗi 136 ha… Các địa phương chủ động theo dõi diễn biến các đối tượng gây hại để chỉ đạo các biện pháp phòng trừ đạt hiệu quả, năng suất cây chè đạt cao.
3. Chăn nuôi
Hiện nay trên địa bàn tình không xảy ra dịch bệnh đối với đàn gia súc, gia cầm. Công tác tiêm phòng đợt 2 đang được các ngành chức năng và các địa phương chuẩn bị, dự kiến triển khai vào đầu tháng 8 năm 2018.
Tháng 7/2018 giá bán thịt hơi và giá bán con giống tăng nhiều so với cùng kỳ (thời điểm tháng 7/2017) như: Giá thịt lợn hơi cao gấp 2,4 lần; giá thịt gà ta hơi tăng 2,1%; giá gà công nghiệp hơi tăng 78,9%. Giá lợn giống cao gấp 3 lần so cùng kỳ và tăng 9,63% so với tháng trước; giá gà ta giống tăng 32,6% so cùng kỳ.
Dự tính đến thời điểm 31/7/2018: Đàn trâu khoảng 58,6 nghìn con, giảm 4,4% so cùng kỳ; đàn bò khoảng 47 nghìn con, tăng 3,1% so cùng kỳ; đàn lợn khoảng 674 nghìn con, tăng 5,2%; đàn gia cầm khoảng 12,6 triệu con, tăng 7,5% so cùng kỳ, trong đó đàn gà 10,6 triệu con tăng 9,6% so cùng kỳ.
Ngành chức năng đã khuyến cáo các cơ sở chăn nuôi cần tập trung tăng cường khâu kiểm soát dịch bệnh, sử dụng đầy đủ các loại vắc xin, tiêu độc, khử trùng chuồng trại để đảm bảo an toàn cho đàn vật nuôi, không nên tái đàn ồ ạt để tránh rủi ro.
4. Lâm nghiệp
Các địa phương cơ bản đã hoàn tất công tác trồng rừng theo kế hoạch và đang triển khai chăm sóc diện tích rừng đã trồng. Hiện nay diện tích rừng mới trồng đang sinh trưởng, phát triển tốt, tỷ lệ cây sống đạt trên 95%.
Công tác tuyên truyền, tập huấn về quản lý bảo vệ rừng: Các ngành chức năng đã phối hợp thực hiện 06 chuyên mục quản lý bảo vệ rừng; dự báo cấp nguy cơ cháy rừng trên sóng truyền hình khi cấp dự báo cháy rừng từ cấp 3 trở lên. Tổ chức 44 lớp về kỹ thuật trồng rừng với hơn 2 nghìn lượt người tham gia; tuyên truyền về công tác quản lý bảo vệ rừng và phát triển rừng; công tác phòng cháy, chữa cháy thông qua 345 cụm loa phát thanh của xóm, bản.
Công tác khai thác lâm sản: Ước tính tháng 7/2018 khai thác được 13 nghìn m3 gỗ các loại và 15 nghìn ste củi. Tính chung 7 tháng đầu năm 2018 khai thác được 84,5 nghìn m3gỗ, tăng 3,8% so cùng kỳ; 98,2 nghìn ste củi, tăng 5,6% so với cùng kỳ.
Kết quả ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng: Lũy kế 6 tháng đầu năm 2018 đã xử lý 150 vụ vi phạm Luật  bảo vệ và phát triển rừng (giảm 26,4%), tịch thu 245m3 gỗ quy tròn các loại (giảm 33%) và 23 phương tiện các loại... Thu nộp ngân sách 1.095 triệu đồng (giảm 13%) so với cùng kỳ năm 2017.
5. Thủy sản
Tính đến hết tháng 7/2018, dự ước sản xuất giống thủy sản trên địa bàn đạt 370 triệu con cá bột, 30 triệu con cá giống các loại. Sản lượng thủy sản thương phẩm 7 tháng đầu năm 2018 đạt khoảng 5,8 nghìn tấn. Trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng 5,7 nghìn tấn (chiếm 98,3% tổng sản lượng) và sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 80 tấn.
II. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số tiêu thụ sản phẩm công nghiệp tháng 6/2018 vừa qua tiếp tục sụt giảm (giảm 13,4%) so với cùng kỳ dẫn đến chỉ số tồn kho tháng 6/2018 cao gấp 2,4 lần so với cùng kỳ. Cụ thể, lượng tồn kho của các đơn vị tính đến đầu tháng 7/2018 là: sản phẩm điện tử điện thoại và máy tính bảng tồn 2,2 triệu sản phẩm, giảm 18,5% so với tháng trước nhưng cao gấp hơn 2 lần so với cùng kỳ; sản phẩm may tồn 6,4 triệu sản phẩm, tăng 22,9% so với cùng kỳ; xi măng tồn 41,3 nghìn tấn, tăng 58,8%; sắt thép các loại tồn 181 nghìn tấn (bằng 2 lần sản lượng sản xuất bình quân 1 tháng), tăng 28,4% so với tồn kho cùng kỳ nhưng thấp hơn 14,5% so với tồn kho của tháng trước…
Với nhịp độ sản xuất và tiêu thụ như trên dự ước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tháng 7/2018 ước tính giảm 19,7% so với tháng trước và giảm ở hầu hết các nhóm ngành, riêng chỉ có nhóm cung cấp nước và hoạt động quản lý và sử lý rác thải, nước thải tăng 0,5%.
So với cùng kỳ chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7/2018 tăng 11,3%; tăng cao nhất là nhóm khai khoáng với mức tăng 29,5%; nhóm ngành sản xuất và phân phối điện tăng 17,1%; nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11%; nhóm cung cấp nước và hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,3%.
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất tháng 7/2018: nhóm sản phẩm có sản lượng tăng trên 10% so với cùng kỳ là: than khai thác đạt 127 nghìn tấn, tăng 90,4%; điện sản xuất đạt 83 triệu Kwh, tăng 18,6%; điện thương phẩm (phân phối điện) đạt 430 triệu Kwh, tăng 15%; Vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 1,7 nghìn tấn, tăng 11,4%... Các sản phẩm có sản phẩm tăng dưới 5% hoặc giảm hơn so với cùng kỳ là: đồng tinh quặng đạt 4 nghìn tấn, tăng 5%; sản phẩm may đạt 5,6 triệu sản phẩm, tăng 4,2%; gạch xây dựng bằng gốm, sứ đạt 5,9 triệu viên, tăng 3,1%; nước máy thương phẩm đạt 3 triệu m3, tăng 2%; quặng sắt và tinh quặng sặt chưa nung 145,6 nghìn tấn, tăng 0,1%; xi măng đạt 134,4 nghìn tấn, giảm 2%; thiết bị và dụng cụ khác trong y khoa đạt 130,1 triệu sản phẩm, giảm 8,9%; nhóm sản phẩm điện tử là điện thoại thông minh và máy tính bảng đạt 7,3 triệu sản phẩm, giảm 26,4% (trong đó, điện thoại thông minh giảm 23,7%; máy tính bảng giảm 40%)...
Tính chung 7 tháng đầu năm 2018 chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 12,1% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, nhóm ngành công nghiệp chế biến và chế tạo tăng 12,2% (tăng cao nhất là sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 27,9% và sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 13,1%); nhóm ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,9%; nhóm ngành khai khoáng tăng 7,8%; nhóm ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,7% so với cùng kỳ.
Tính chung 7 tháng đầu năm 2018, nhóm sản phẩm công nghiệp chủ yếu đạt sản lượng tăng trên 10% so với cùng kỳ năm 2017 là: Giấy và bìa 20,2 nghìn tấn, tăng 51,1%; thiết bị và dụng cụ khác trong y khoa đạt 879 triệu sản phẩm, tăng 55,3%; than khai thác đạt 934 nghìn tấn, tăng 31,7% và bằng 77,8% kế hoạch cả năm; đồng tinh quặng đạt 25,7 nghìn tấn, tăng 15,1%; sản phẩm may đạt 38,2 triệu sản phẩm, tăng 12,4%, bằng 62,7% kế hoạch; đá khai thác 2,2 triệu m3 tăng 13,6%; bia hơi 3 triệu lít, tăng 41,4%... Nhóm sản phẩm sản lượng tăng dưới 10% như: điện sản xuất đạt 907 triệu Kwh, tăng 9%; điện thương phẩm đạt 2.663 triệu Kwh, tăng 8,2%, bằng 53,3% cùng kỳ; sắt thép các loại đạt 824,4 nghìn tấn, tăng 5,1% cùng kỳ và bằng 59% kế hoạch... Ngoài ra nhóm sản phẩm công nghiệp có sản lượng tăng thấp hoặc giảm hơn so với cùng kỳ là: nước máy thương phẩm đạt 19,8 triệu m3, tăng 2,9%; xi măng đạt 1,1 triệu tấn, tăng 2,2%; gạch xây dựng bằng gốm, sứ đạt 39,1 triệu viên, giảm 7,3%; vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 10,7 nghìn tấn, giảm 8,1% và bằng 53,4% kế hoạch cả năm...
Riêng nhóm sản phẩm điện tử điện thoại thông minh và máy tính bảng sản xuất cộng dồn 7 tháng 2018 ước đạt 64,5 triệu sản phẩm, giảm 5,7% và bằng 46,8% kế hoạch sản lượng cả năm (điện thoại thông minh đạt 53,6 triệu sản phẩm, giảm 4,7%; máy tính bảng đạt 10,9 triệu sản phẩm, giảm 10,5%); trong đó nhóm điện thoại có giá bán từ 6 triệu đồng/1 sản phẩm ước đạt 15,5 triệu cái (chiếm gần 30% tổng số), tăng 46% so với cùng kỳ và là yếu tố tác động làm tăng chỉ số sản xuất công nghiệp.
III. Tài chính, ngân hàng
1. Thu ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Sáu tháng đầu năm 2018 đạt 6.972,7 tỷ đồng, tăng 4,3% so cùng kỳ và bằng 53,2% kế hoạch. Trong đó, thu trong cân đối ngân sách nhà nước đạt 6.954,1 tỷ đồng, tăng 4% so với cùng kỳ và bằng 53% so với dự toán cả năm; thu quản lý qua ngân sách đạt 18,6 tỷ đồng.
Trong tổng thu cân đối, thu nội địa 5.567,6 tỷ đồng, tăng 2,3% so với cùng kỳ và bằng 56,2% so với dự toán cả năm; thu hoạt động xuất nhập khẩu 1.386,5 tỷ đồng, tăng 11,8% so với cùng kỳ và bằng 43,3% so với dự toán cả năm 2018.
Trong thu nội địa, có 6/14 khoản thu tăng so với cùng kỳ, trong đó thu từ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đạt 11,9 tỷ đồng, cao gấp 2,6 lần so cùng kỳ và bằng 99,3% dự toán năm;  thu khác ngân sách đạt 108,3 tỷ đồng, gấp 2,1 lần  so cùng kỳ và bằng 65,6% dự toán cả năm; đóng góp nhiều nhất vào thu nội địa 6 tháng đầu năm  là thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.619,8 tỷ đồng, tăng 22,8% (chiếm tỷ trọng 29% tổng thu nội địa) và bằng 51,1% dự toán năm. Còn lại 8/14 khoản thu đạt thấp hơn so với 6 tháng 2017 như: thu từ doanh nghiệp nhà nước giảm 5,3%; thu từ khu vực dịch vụ ngoài quốc doanh giảm 0,3%; thu phí, lệ phí giảm 20,5%; thu cấp quyền sử dụng đất giảm 17,4%…
2. Chi ngân sách địa phương
 Tổng chi ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh Sáu tháng đầu năm 2018 đạt 4.869 tỷ đồng, tăng 7,4% so với cùng kỳ và bằng 35,2% dự toán cả năm, trong đó chi cân đối ngân sách địa phương đạt 4.438 tỷ đồng tăng 7,6% so cùng kỳ và bằng 36,6% dự toán cả năm; chi chương trình mục tiêu quốc gia đạt 431 tỷ đồng, tăng 5,9% so cùng kỳ nhưng mới bằng 25,4% dự toán cả năm.
Trong chi cân đối ngân sách địa phương, chi đầu tư phát triển đạt 1.074,3 tỷ đồng, tăng 10% so cùng kỳ, bằng 46% dự toán cả năm; chi thường xuyên đạt 3.363,4 tỷ đồng, tăng 6,8% so cùng kỳ, bằng 43% dự toán năm.
Trong tổng chi thường xuyên có 8/11 khoản chi tăng so cùng kỳ như: chi lớn nhất là chi sự nghiệp giáo dục đào tạo và dạy nghề đạt 1.299,7 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 38,6% tổng chi thường xuyên), tăng 11% so cùng kỳ, bằng 38,8% dự toán cả năm; chi quản lý hành chính đạt 756 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 22,5%), tăng 4,9% so cùng kỳ, bằng 50,3% dự toán năm; chi sự nghiệp phát thanh truyền hình đạt 22,6 tỷ đồng, tăng 25,8% so cùng kỳ... Trong 6 tháng đầu năm 2018, các khoản chi đạt khá cao so với dự toán là: chi cho sự nghiệp khoa học và công nghệ đạt 19,5 tỷ đồng, tăng 2,7% so cùng kỳ và đạt 70% dự toán năm; chi quốc phòng an ninh địa phương đạt 60,2% dự toán; chi đảm bảo xã hội đạt 207,4 tỷ đồng, tăng 27% so cùng kỳ và bằng 61,7% dự toán năm. Một số khoản chi đạt thấp so dự toán hoặc giảm so cùng kỳ như: chi sự nghiệp y tế đạt 411 tỷ đồng, giảm 2% so cùng kỳ và bằng 45% dự toán năm; chi sự nghiệp bảo vệ môi trường đạt 28,8% dự toán; chi khác của ngân sách đạt 24,4% dự toán…
3. Hoạt động ngân hàng
- Tình hình thực hiện lãi suất: Lãi suất huy động VNĐ của các tổ chức tín dụng phổ biến ở mức 0,8-1%/năm đối với lãi suất huy động tiền gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng, từ 4,5-5,3%/năm đối với kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng, từ 5,3-8%/năm đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VNĐ đối với các lĩnh vực ưu tiên là 6-6,5%/năm đối với cho vay ngắn hạn và 9-10%/năm đối với cho vay trung và dài hạn. Lãi suất cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,8-9%/năm đối với ngắn hạn, từ 9,3-11%/năm đối với trung và dài hạn.
- Hoạt động huy động vốn: Nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng (không bao gồm Ngân hàng Phát triển) đến 30/6/2018 đạt 50.549 tỷ đồng, tăng 7,82% so với 31/12/2017 và tăng 16,81% so với cùng kỳ năm 2017. Ước đến 31/7/2018 đạt 50.900 tỷ đồng, tăng 8,57% so với 31/12/2017.
- Dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng (không bao gồm cho vay ưu đãi của Ngân hàng Phát triển) đến 30/6/2018 đạt 48.644 tỷ đồng tăng 5,33% so với 31/12/2017 và tăng 15,7% so với cùng kỳ năm 2017. Ước đến 31/7/2018 đạt 49.100 tỷ đồng, tăng 6,32% so với 31/12/2017.
Nợ xấu đến 30/6/2018 là 446 tỷ đồng chiếm 0,92%/tổng dư nợ.
- Cho vay nông nghiệp, nông thôn: Kết quả dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt 12.881 tỷ đồng với 185.157 khách hàng còn dư nợ, chiếm tỷ trọng 24,33%/tổng dư nợ trên địa bàn. Tính riêng kết quả cho vay xây dựng nông thôn mới với doanh số cho vay đạt 4.150 tỷ đồng, doanh số thu nợ 3.762 tỷ đồng, dư nợ đạt 9.521 tỷ đồng với 140.971 hộ dân, 147 doanh nghiệp và 20 hợp tác xã còn dư nợ.
IV. Thương mại, giá cả, dịch vụ
1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ phục vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn tỉnh tháng 7 năm 2018 ước đạt 2.660 tỷ đồng, tăng 1,6% so với tháng trước, tăng 12,8% so với cùng kỳ. Trong đó khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 183,8 tỷ đồng, tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 16,3% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 2.465,4 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 92,7% thị phần bán lẻ), tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 12,6% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 10,2 tỷ đồng, tăng 2,8% so với tháng trước và tăng 7,3% so với cùng kỳ.
Tính chung 7 tháng đầu năm 2018 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước đạt 18.200 tỷ đồng, tăng 12,2% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước 1.240 tỷ đồng, tăng 15,1%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 16.893 tỷ đồng (chiếm 92,8%), tăng 12%. Còn lại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 67 tỷ đồng, tăng 7,8% so với cùng kỳ.
Nếu phân theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ 7 tháng đầu năm 2018 đạt khoảng 14.646 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 80,5%), tăng 13,3% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 1.552 tỷ đồng (chiếm 8,5% trong tổng mức), tăng 8,1% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ tiêu dùng còn lại ước đạt 1.973 tỷ đồng (chiếm 10,8% tổng số), tăng 7,7% so với cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành đạt 27,6 tỷ đồng, tăng 9,7% so với cùng kỳ.
Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa 7 tháng đầu năm 2018, nhóm lương thực, thực phẩm doanh thu ước đạt 4.636 tỷ đồng (chiếm 31,7% trong tổng mức bán lẻ), tăng 14,8% so với cùng kỳ; nhóm xăng dầu các loại ước đạt 1.726 tỷ đồng (chiếm 11,8% trong tổng mức bán lẻ), tăng 10,7%; nhóm đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình ước đạt 1.679 tỷ đồng, tăng 12,9%; nhóm ô tô các loại ước đạt 1.535 tỷ đồng, tăng 13,8%; nhóm hàng may mặc đạt 1.138 tỷ đồng, tăng 15,3%; nhóm phương tiện đi lại ước đạt 1.031 tỷ đồng, tăng 12%; mặt hàng đá quý, kim loại quý 281 tỷ đồng, tăng 11,9% so với cùng kỳ…
2. Xuất, nhập khẩu
a. Xuất khẩu
Mặc dù giá trị xuất khẩu do địa phương quản lý đạt khá cao nhưng do xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài gặp khó khăn nên giá trị xuất khẩu chung trên địa bàn trong tháng 6 và tháng 7 đạt không cao.
Tổng giá trị xuất khẩu tháng 7/2018 ước đạt 1,97 tỷ USD, tăng 11,4% so với cùng kỳ nhưng giảm 1,5% so với tháng trước; trong đó giá trị xuất khẩu khu vực trong nước ước đạt 39,4 triệu USD, tăng 1,6% so với tháng trước, tăng 18,2% so với cùng kỳ. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,93 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 98% tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn), tăng 11,3% so với cùng kỳ nhưng giảm 1,6% về giá trị xuất khẩu so với tháng trước.
Mặt hàng xuất khẩu tăng cao nhất so với cùng kỳ là kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 32,2 nghìn tấn với giá trị đạt 26,7 triệu USD, giảm 6,5% về lượng nhưng do giá xuất khẩu tăng nên giá trị xuất khẩu tăng 38,9%; chè các loại đạt 317 tấn với giá trị đạt 0,48 triệu USD, tăng 40,3% về lượng, tăng 14,3% về giá trị; sản phẩm từ sắt thép đạt 5 triệu USD, tăng 12,5%; sản phẩm may đạt 29,2 triệu USD, tăng 9,3%; nhóm sản phẩm điện tử đạt 7,9 triệu sản phẩm với giá trị xuất khẩu ước đạt 1,53 tỷ USD, giảm 12% về lượng nhưng tăng 8,4% về giá trị (trong đó, điện thoại thông minh giảm 14% về lượng nhưng tăng 9,9% về giá trị; máy tính bảng giảm 3,9% về lượng nhưng tăng 1,3% về giá trị); linh kiện điện tử và phụ tùng khác đạt 307,6 triệu USD, tăng 1,7%; giấy và các sản phẩm từ giấy đạt 0,2 triệu USD, tăng 5,5%; phụ tùng vận tải đạt 0,1 triệu USD, giảm 79% cùng kỳ...
Tính chung 7 tháng đầu năm 2018, giá trị hàng hóa xuất khẩu ước đạt 14,4 tỷ USD, tăng 8,9% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu do địa phương quản lý đạt 216,2 triệu USD, tăng 35,9% cùng kỳ, bằng 57,7% kế hoạch cả năm; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 14,17 tỷ USD, tăng 8,5% cùng kỳ.
Nhóm mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn là: nhóm sản phẩm điện tử đạt 60 triệu sản phẩm với giá trị xuất khẩu khoảng 11,4 tỷ USD, giảm 5,6% về lượng nhưng tăng 7,6% về giá trị so với cùng kỳ và bằng 53,5% kế hoạch xuất khẩu cả năm; linh kiện điện tử và phụ tùng khác đạt 2,61 tỷ USD, tăng 12,5%, bằng 82,4% kế hoạch; kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 172,3 nghìn tấn với giá trị xuất khẩu 162,4 triệu USD, giảm 13,2% về lượng nhưng tăng 31,5% về giá trị và bằng 90,2% kế hoạch cả năm; sản phẩm may đạt 154,7 triệu USD, tăng 23,7% cùng kỳ; sản phẩm từ sắt thép ước đạt 32 triệu USD, tăng 5,4% và bằng 61,3% kế hoạch; phụ tùng vận tải đạt 2,2 triệu USD, giảm 11,8%; chè các loại xuất khẩu 0,94 nghìn tấn với giá trị 1,46 triệu USD, giảm 38,7% về lượng và giảm 47,6% về giá trị xuất khẩu và mới bằng 18,7% về kế hoạch số lượng xuất khẩu cả năm…
b. Nhập khẩu
Tổng giá trị nhập khẩu tháng 7/2018 trên địa bàn ước đạt 903 triệu USD, tăng 3,6% so với tháng trước nhưng giảm 5,2%  so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 878,6 triệu USD, tăng 4,9% so với tháng trước nhưng giảm 5,6% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 97,3% tổng giá trị nhập khẩu.
Nhóm mặt hàng nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong tháng 7/2018 là nguyên liệu và linh kiện điện tử ước đạt 852,4 triệu USD (chiếm tỷ trọng 94,4% tổng giá trị nhập khẩu), giảm 6,1% so với cùng kỳ; vải và phụ liệu hàng may mặc ước đạt 12,7 triệu USD, tăng 15,3% cùng kỳ; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 12,5 triệu USD, tăng 90,6% cùng kỳ; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 4,1 triệu USD, giảm 52,7% so với cùng kỳ; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 4,8 triệu USD, giảm 60% so với nhập khẩu cùng kỳ...
Tính chung 7 tháng đầu năm 2018, tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn ước đạt 7,9 tỷ USD, tăng 0,1% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước ước đạt 163,8 triệu USD (chiếm tỷ trọng 2,1% tổng giá trị nhập khẩu), tăng 31,3% so với cùng kỳ (chủ yếu do tăng nhập khẩu sắt thép và phế liệu sắt thép); khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 7,73 tỷ USD, giảm 0,4% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 97,9% tổng giá trị nhập khẩu.
Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tính chung 7 tháng 2018 tăng cao so với cùng kỳ là: phế liệu sắt thép đạt 26,5 triệu USD, cao gấp 54 lần (do cùng kỳ nhập khẩu ít); sắt thép các loại nhập khẩu 13,4 triệu USD, cao gấp 2,3 lần; giấy các loại đạt 2,9 triệu USD, cao gấp 2 lần; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 57,5 triệu USD, tăng 71%; vải và nguyên, phụ liệu hàng may mặc đạt 85,8 triệu USD, tăng 19,1%… Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu giảm so với cùng kỳ là: nguyên liệu và linh kiện điện tử đạt 7,57 tỷ USD, giảm 0,6%; sản phẩm từ sắt thép đạt 42,2 triệu USD, giảm 3,9%; máy móc thiết bị và dụng cụ phụ tùng đạt 29,6 triệu USD, giảm 47%; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 21,6%, giảm 53,7% so với cùng kỳ.
3. Giá tiêu dùng
Tháng 7/2018 chỉ số giá tiêu dùng tăng nhẹ với mức tăng 0,22% so với tháng trước do ảnh hưởng tăng giá của nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống và  nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt, vật liệu xây dựng. Bình quân 7 tháng đầu năm 2018 chỉ số giá tiêu dùng tăng 2,43% so với bình quân cùng kỳ.
 So với tháng trước có 9/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chỉ số giá tăng, trong đó nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng cao nhất với mức tăng 1,06% (do nhà ở thuê tăng 1,48%; giá điện sinh hoạt theo giá bậc thang tăng 3,09%); nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống, tăng 0,93% (do giá thịt lợn tăng 4,92%; thịt chế biến tăng 1,3%; giá dầu mỡ ăn tăng 3,06%); nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,81% (do giá bảo hiểm y tế tăng 6,92%); nhóm  hàng hóa và dịch vụ tăng nhẹ với mức tăng từ 0,01% đến 0,11% so với tháng trước như: nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,01%, nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,03%...Còn lại 2/11 nhóm hàng hóa có chỉ số giảm giảm như: nhóm thuốc và dịch vụ y tế giảm 4,65% (do dịch vụ khám sức khỏe giảm 6,36%); nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,03% (do thiết bị điện thoại giảm 0,17%).
So với tháng 12/2017, chỉ số giá tiêu dùng tăng 2,85%. Có 8/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ trong rổ hàng hóa tiêu dùng có chỉ số giá tăng (hàng hóa tăng 4,3%; dịch vụ giảm 0,1%). Trong nhóm hàng hóa, tăng nhiều nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống với mức tăng 6,31% (do giá thịt tươi sống tăng 25,92%, giá thịt gia cầm tươi sống tăng 1,82%; thịt chế biến tăng 16,43%); nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,67% (do dịch vụ về hiếu tăng 11,86%); nhóm giao thông tăng 4,66% (giá nhiên liệu tăng 9,63%; giá vé tàu hỏa tăng 13,85%); nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,7% (do giá điện sinh hoạt tăng 9,86%); nhóm văn hóa, giải rí và du lịch tăng 1,04%. Có 3/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng trong khoảng 0,52% đến 0,91% như nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,91%, nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,55%, nhóm giáo dục tăng 0,52%. Còn lại 3/11 nhóm có chỉ số giá giảm như: nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,37% (do quần áo may sẵn giảm 0,58%; may mặc khác giảm 0,62%); nhóm thuốc và dịch vụ y tế giảm 4,58% (do giá dịch vụ y tế giảm 6,36%); nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,62%.
So với cùng kỳ (tháng 7/2017), chỉ số giá tiêu dùng tháng 7/2018 tăng 4,31%. Có 9/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có chỉ số giá tăng, tăng nhiều nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,46% (do giá thịt lợn tăng 26,78%, giá thịt gia cầm tươi sống tăng 3,95%; thịt chế biến tăng 18,82%); nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,71%; nhóm giao thông tăng 11,11% (giá nhiên liệu tăng 25,17%; giá vé tàu hỏa tăng 10,05%); nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,56%; nhóm giáo dục tăng 3,4% (do giá văn phòng phẩm tăng 4,33%; giá dịch vụ giáo dục tăng 3,19%. Có 4/11 nhóm có chỉ số giá tăng trong khoảng từ 0,2% đến 1,27% như: nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,2%; nhóm may mặc và nhóm thiết bị, đồ dùng gia đình tăng 1,19%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,27%. Còn lại 2/11 nhóm hàng hóa có chỉ số giảm như nhóm thuốc và dịch vụ y tế giảm 3,79% (do giá dịch vụ y tế giảm 5,28%); nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,81% (do giá máy điện thoại di động giảm 4,72%).
 Chỉ số giá vàng tháng 7/2018 giảm 1,88% so với tháng trước và tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá vàng bình quân 7 tháng đầu năm 2018 tăng 5,58% so với  cùng kỳ.
Chỉ số giá Đô la Mỹ: Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 7/2018 tăng 0,89% so tháng trước và tăng 1,21% so với cùng kỳ. Chỉ số giá Đô la Mỹ bình quân 7 tháng  đầu năm 2018 tăng 0,34% so với cùng kỳ.
4. Vận tải
- Vận chuyển hành khách: Số lượt hành khách vận chuyển tháng 7/2018 ước đạt 1,4 triệu lượt khách với lượng hành khách luân chuyển là 76,2 triệu hành khách.km; so với tháng trước tăng 2,1% về số hành khách vận chuyển và hành khách luân chuyển; so với cùng kỳ tăng trên 3,2% về số lượng hành khách vận chuyển và số hành khách luân chuyển. Tính chung 7 tháng đầu năm 2018 số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 10,1 triệu lượt hành khách với 563,6 triệu lượt hành khách.km; so với cùng kỳ tăng 6,6% về số hành khách vận chuyển và tăng 6,4% về số lượng hành khách luân chuyển.
- Vận chuyển hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 7/2018 ước đạt 2,9 triệu tấn với 120,2 triệu tấn.Km, tăng 0,8% so với tháng trước về khối lượng vận chuyển và tăng 1% khối lượng luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 7,1% về khối lượng hàng hóa vận chuyển và tăng 6,2% về khối lượng hàng hóa luân chuyển. Tính chung 7 tháng đầu năm 2018, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 20,5 triệu tấn với 841 triệu tấn.km, tăng 6,5% về khối lượng vận chuyển và tăng 6,4% khối lượng luân chuyển so với cùng kỳ.
Tổng doanh thu vận tải trên địa bàn tháng 7/2018 ước đạt 295 tỷ đồng, tăng 1,2% so tháng trước và tăng 6,6% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 52,4 tỷ đồng, tăng 2,1% so với tháng trước và  tăng 3,4% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa là 227,3 tỷ đồng, tăng 1% so tháng trước và tăng 7,7% cùng kỳ. Tính chung 7 tháng đầu năm 2018, tổng doanh thu vận tải trên địa bàn ước đạt 2 tỷ đồng, tăng 7,9% cùng kỳ (trong đó, doanh thu vận tải hành khách 52,4 tỷ đồng, tăng 8,3%, doanh thu vận tải hành hóa 227,3 tỷ đồng, tăng 8% và dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng 4,8%).
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Giáo dục, đào tạo
- Công tác tuyển sinh vào lớp 10: Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2018-2019, toàn tỉnh tổ chức 29 Hội đồng coi thi. Số thí sinh đăng ký dự thi vào lớp 10 đại trà và lớp 10 chuyên năm học 2018-2019 là 15.219 thí sinh, tăng 18% (tương ứng tăng 2.314 thí sinh) so với năm học 2017-2018, trong đó có 1.078 thí sinh đăng ký dự thi vào trường chuyên, tăng +274 thí sinh so với cùng kỳ.
Hình thức tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2018-2019 vẫn là thi tuyển kết hợp với xét tuyển điểm học lực THCS. Tổng số có 15.033 thí sinh dự thi (chiếm 98,8%), giảm 186 thí sinh so với đăng ký dự thi ban đầu. Có  01 thí sinh vi phạm quy chế thi.
- Kỳ thi Trung học phổ thông quốc gia năm 2018: Toàn tỉnh có 14.505 hồ sơ đăng ký dự thi, tăng 9,6% (tương ứng tăng 1.280 thí sinh) so với năm 2017. Trong tổng số có 5.374 thí sinh đăng ký dự thi chỉ lấy kết quả tốt nghiệp (chiếm 37%); có 8.475 thí sinh (chiếm 58,4% tổng số) đăng ký dự thi vừa lấy kết quả tốt nghiệp và vừa lấy kết quả xét, thi tuyển vào đại học, cao đẳng; có 656 thí sinh, chiếm 4,5% tổng số thí sinh đăng ký dự thi chỉ để xét, thi tuyển vào đại học. Toàn tỉnh có 31 điểm thi và 631 phòng thi. Các hoạt động tổ chức của kỳ thi trên địa bàn tỉnh từ công tác chỉ đạo, công tác phối hợp việc coi thi, chấm thi, xét tốt nghiệp được tiến hành nghiêm túc, đúng quy chế.
Kết quả tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia: Số học sinh thực tế dự thi để xét công nhận tốt nghiệp là 13.828 học sinh; Số học sinh đỗ tốt nghiệp năm học 2017 - 2018 là 13.463 học sinh. Tỷ lệ  đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông của tỉnh Thái Nguyên là 97,36% (trong đó, hệ giáo dục trung học đạt 98%; Hệ Giáo dục thường xuyên đạt 93,41%).
Khối giáo dục trung học có 4/33 trường có tỷ lệ học sinh tốt nghiệp đạt 100%; có 24/33 trường có tỷ lệ đố tốt nghiệp từ 95% đến dưới 100%; còn lại 5 trường tỷ lệ đỗ tốt nghiệp đạt tỷ lệ từ 82% - 94%. Khối giáo dục thường xuyên có 10/19 trường đạt tỷ lệ đỗ tốt nghiệp đạt từ 95% trở lên; có 9/19 trường đạt tỷ lệ đỗ từ 70% - dưới 95%.
2. Y tế
Công tác phòng chống dịch và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm được duy trì triển khai; Trong Bẩy tháng đầu năm 2018 trên địa bàn toàn tỉnh trong không có dịch bệnh lớn xảy ra, số ca mắc bệnh dịch thấp hơn cùng kỳ. Tính chung từ đầu năm đến 20/7/2018, trên địa bàn tỉnh có 263 ca mắc bệnh Quai bị, giảm 70 ca so cùng kỳ (2017 là 333 ca); có 11 ca Sốt phát ban dạng sởi/rubella, tăng 4 ca; Chân tay miệng là 53 ca; Sốt xuất huyết là 7 ca, giảm 04 ca;  Ho gà  02 ca.; Có 01 ca tử vong do bệnh dại (cùng kỳ năm 2017 là 2 ca).
 Công tác an toàn vệ sinh thực phẩm: Ngành chức năng duy trì triển khai đến từng địa phương công tác an toàn vệ sinh thực phẩm. Trong tháng 7 không có vụ ngộ độc thực phẩm nào xảy ra.
Công tác khám chữa bệnh: Trong 7 tháng 2018, các hoạt động khám chữa bệnh, thực hiện quy chế chuyên môn tại các bệnh viện, trạm y tế được duy trì và quan tâm đối với khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, đối tượng chính sách, trẻ em dưới 6 tuổi.
Dân số và trẻ em: 6 tháng đầu năm 2018, tổng số trẻ sinh ra là 7.434 trẻ (giảm 397 trẻ so với cùng kỳ 2017), trong đó số trẻ nam sinh ra là 3.843 trẻ, trẻ nữ sinh ra là 3.591 trẻ. Tỷ số giới tính khi sinh nam/nữ là 104/100. Trong tổng số trẻ sinh ra thì số trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên là 671 trẻ (chiếm 9,03% tổng số trẻ sinh ra) tăng 86 trẻ so với cùng kỳ  2017. Trong đó, huyện Phú Bình có số trẻ sinh ra là con thứ 3 là cao nhất với 138 trẻ; TP Thái Nguyên 105 trẻ; huyện Đồng Hỷ 82 trẻ; huyện Phú Lương 73 trẻ và số trẻ sinh ra là con thứ 3 thấp nhất là huyện Định Hóa với 41 trẻ.
Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn: Tính đến 30/6/2018 số người nhiễm lũy tích là 9.769 người. Trong đó chuyển giai đoạn AIDS lũy tích là 6.721 người; Số tử vong do HIV/AIDS lũy tích là 3.439 người. Riêng trong tháng 6/2018 có 19 người mới được phát hiện; chuyển giai đoạn AIDS là 2 người; Số tử vong do HIV/AIDS là 1 người.
3. Thực hiện chính sách Người có Công; công tác giảm nghèo, bảo trợ xã hội và chăm sóc trẻ em
- Thực hiện chính sách người có công: Hướng tới kỷ niệm 71 năm ngày thương binh liệt sĩ (27/7/1947- 7/7/2018), trên địa bàn tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động như: tổ chức các đoàn đi thăm hỏi, tặng quà các đối tượng người có công, gia đình chính sách. Tổ chức đoàn đại biểu của tỉnh viếng nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn tỉnh Quảng Trị và thăm tặng quà 5 trung tâm Điều dưỡng Người có công tỉnh ngoài có thương binh người Thái Nguyên đang điều trị. Tổ chức đưa đoàn đại biểu Mẹ Việt Nam Anh hùng và Người có công với cách mạng dự hội nghị biểu dương toàn quốc.
Thực hiện thủ tục di chuyển đi, dến 12 trường hợp; Khai thác hồ sơ chuyển cán bộ chuyên môn 350 hồ sơ; Giải quyết chế độ cho 14 trường hợp thân nhân người có công từ trần hưởng trợ cấp tuất hàng tháng; Kiểm tra hồ sơ quyết định giảm và trợ cấp mai tang phí cho Người có công 86 trường hợp...
Thực hiện vận động đóng góp quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”: tính từ ngày 01/7/2018 đến ngày 20/7/2018 đã có 11 đơn vị, cá nhân ủng hộ với tổng số tiền là 47,7 triệu đồng; hiện nay các đơn vị đang tiếp tục ủng hộ theo kế hoạch vận động.
- Công tác giảm nghèo, Bảo trợ xã hội: Ngành chức năng tổ chức lớp tập huấn nâng cao nghiệp vụ chính sách trợ giúp xã hội, thực hiện chính sách đối với người cao tuổi và người khuyết tật năm 2018; phối hợp với Tổ chức nước ngoài khám, chữa bệnh và lắp chân tay giả trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Tiến hành khám và chữa bệnh cho 729 người trong và ngoài tỉnh.
- Công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em: Ngành chức năng tổ chức 03 lớp dạy bơi cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại huyện Định Hóa, thành phố Thái Nguyên; hướng dẫn triển khai lồng ghép Mô hình kết nối dịch vụ chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS và thí điểm Mô hình chăm sóc thay thế cho trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS tại 04 xã thuộc thành phố Thái Nguyên, thị xã Phổ Yên và huyện Đồng Hỷ.
4. Hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin tuyên truyền
Trong tháng 7/2018, trên địa bàn đã triển khai công tác tuyên truyền và thực hiện các hoạt động văn hóa, thể thao hướng tới kỷ niệm 71 năm Ngày Thương binh Liệt sỹ (27/7/1947-27/7/2018).
Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm: đã tiến hành kiểm tra hoạt động của 13 bể bơi trên địa bàn tỉnh; kiểm tra các hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá, du lịch để chấn chỉnh kịp thời các hành vi sai phạm, góp phần để các cơ sở kinh doanh hoạt động theo đúng quy định.
Hoạt động bảo tàng: Tham gia thuyết minh triển lãm "Thái Nguyên - Điểm đến tin cậy của các nhà đầu tư". Xây dựng đề cương, sưu tầm ảnh phục vụ trưng bày triển lãm "Đại tướng Võ Nguyên Giáp với ATK Thái Nguyên". Tiếp tục sưu tầm hiện vật đợt III/2018 với chủ đề "Sưu tầm tài liệu, hiện vật thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên". Phục vụ 500 lượt khách tham quan (65 lượt khách nước ngoài). Nhập kho hiện vật sưu tầm; khảo sát, nghiên cứu viết đề cương trưng bày, nội dung câu đối tại Đền thờ khu di tích Thanh niên xung phong Đại đội 915; xây dựng kế hoạch sưu tập hiện vật về Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên…
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật, phát hành phim và chiếu bóng: Tham gia Hội diễn ca múa nhạc chuyên nghiệp toàn quốc đạt 04 huy chương (01 Huy chương Vàng, 03 Huy chương Bạc) cho tập thể, cá nhân. Thực hiện 102 buổi chiếu phim, trong đó có 02 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị, 100 buổi phục vụ các xã vùng khó khăn, đối tượng chính sách; phục vụ 6.980 lượt người xem. Ngành chức năng đã thực hiện chương trình giám sát hoạt động chiếu phim lưu động tại các địa phương.
Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở: Chuẩn bị tham gia Hội thi sân khấu kịch ngắn, kịch vui không chuyên toàn quốc về công tác bảo vệ môi trường trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch. Ban hành kế hoạch tổ chức Liên hoan văn hóa, văn nghệ điểm xây dựng mô hình, mẫu hình làng, bản văn hóa cơ sở; thực hiện 12 buổi tuyên truyền, triển lãm; biên tập mới 01 tài liệu về chủ đề thương binh, liệt sỹ.Tổ chức 02 buổi văn hóa trà; duy trì hoạt động của các câu lạc bộ theo sở thích.
Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng Nông thôn mới: Xây dựng kế hoạch thực hiện Chương trình hành động về công tác dân số trong tình hình mới. Phối hợp thực hiện chuyên mục truyền hình phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Nếp sống văn hóa và gia đình” số tháng 7/2018. Tổ chức hội nghị cộng tác viên; xuất bản 3.320 cuốn sách “Chuyện quê hương” tuyên truyền cho phong trào. Tổ chức kiểm tra việc  thực hiện chiếu bóng  tại vùng đặc biệt khó khăn; xây dựng điểm mô hình, mẫu hình văn hóa văn nghệ; biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp tại cơ sở; tiến độ thực hiện tiêu chí số 6, 16 trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh.
Hoạt động thể thao: tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo 161 học sinh năng khiếu hệ nội trú, 40 học sinh bán trú. Đội tuyển điền kinh tham gia thi đấu theo kế hoạch; thực hiện sơ tuyển học sinh tại các địa phương trên địa bàn tỉnh. Các đội tuyển, thể thao thành tích cao duy trì công tác quản lý, huấn luyện, kiểm tra việc tập luyện của các đội tuyển. Đạt 19 huy chương các loại (02 huy chương Vàng, 05 huy chương Bạc và 12 huy chương Đồng). Các đội tuyển (karatedo, khiêu vũ, điền kinh…) tập luyện tham gia thi đấu các giải toàn quốc theo kế hoạch.

 
5. Tình hình an toàn giao thông
Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh Thái Nguyên, trong tháng 7/2018 trên địa bàn xảy ra 6 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 3 người chết và 5 người bị thương. Tai nạn liên quan đến ô tô 02 vụ (33,33%); liên quan đến mô tô 04 vụ (66,67%). Thiệt hại tài sản ước tính khoảng 24 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giảm 3 vụ (-33,33%); số người chết giảm 1 người (-25%) và số người bị thương giảm 3 người (tương ứng giảm 37,5%). Tình hình an toàn giao thông dường sắt, đường thủy ổn định, không xảy ra tai nạn giao thông.
Tính chung 7 tháng đầu năm 2018, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 80 vụ tai nạn giao thông, làm chết 32 người và 63 người bị thương. So với cùng kỳ năm 2017 giảm cả 3 chỉ tiêu, số vụ tai nạn giảm 3 vụ (-3,61%), số người bị chết giảm 5 người (-13,51%) và số người bị thương giảm 1 người (-1,56%). Trong đó, địa bàn xảy ra nhiều vụ tai nạn nhất là thành phố Thái Nguyên với 40 vụ (chiếm 50% tổng số), làm 7 người chết (chiếm 21,9%) và 38 người bị thương (chiếm 60,3%).
Trong tháng 7/2018 đã kiểm tra lập biên bản xử lý vi phạm 3.154 trường hợp; tước 364 giấy phép lái xe; tạm giữ 211 xe ô tô, 328 xe mô tô; 6 phương tiện khác. Số tiền xử phạt 3,9 tỷ đồng. Đường thủy xử lý vi phạm 3 trường hợp, tổng tiền phạt là 225 nghìn đồng.
6. Thiệt hại do thiên tai
Trên địa bàn toàn tỉnh từ ngày 24/6 đến ngày 23/7/2018 xảy ra 02 đợt thiên tai tại 04 địa phương (Đồng Hỷ, Phú Lương và Đại Từ và Phổ Yên). Cụ thể là: khoảng 14h00’ ngày 27/6/2018 trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, Phú Lương đã xảy ra mưa kèm gió lốc  và đợt 2 là ngày 21-23/7/2018 do ảnh hưởng của hoàn lưu áp thấp nhiệt đới suy yếu từ bão số 3 đã xảy ra mưa lớn trên địa bàn huyện Đại Từ và Thị xã Phổ Yên.
Trong 02 đợt thiên tai xảy ra như trên đã ảnh hưởng 223 nhà bị tốc mái; 01 chợ bị tốc mái kèm theo sạt lở tường gạch xây; ảnh hưởng 3,5 ha lúa mới gieo cấy bị ngập; làm đổ 20 m móng tường rào trường học THCS và làm vỡ 50 tường kênh Núi Cốc đoạn qua xóm Thù Lâm xã Tiên Phong. Ước tính giá trị thiệt hại khoảng dưới 1 tỷ đồng.
Ngành chức năng đã phối hợp với địa phương khắc phục, xử lý sự cố, đánh giá thiệt hại, huy động lực lượng tại chỗ để tích cực triển khai, trợ giúp các hộ dân khắc phục thiệt hại, đảm bảo ổn định cuộc sống.
7. Phòng chống cháy nổ
Các ngành chức năng của Tỉnh đã tiến hành kiểm tra phòng cháy, chữa cháy tại các cơ quan đơn vị trên địa bàn toàn tỉnh; qua kiểm tra đã nhắc nhở những thiếu sót trong phòng cháy chữa cháy và lập biên bản xử lý các trường hợp vi phạm nhằm hạn chế các vụ cháy, nổ xảy ra.
Tháng 7 năm 2018 (tính từ ngày 16/6/2018 đến 15/7/2018) trên địa bàn tỉnh xảy ra 16 vụ cháy, tăng 11 vụ so với cùng kỳ, trong đó có 8 vụ cháy xảy ra tại Thành phố Thái Nguyên, 2 vụ tại thành phố Sông Công, 3 vụ chát tại thị xã Phổ Yên; 3 vụ cháy tại huyện Phú bình. Các vụ cháy không gây thiệt hại về người; ước thiệt hại khoảng 367 triệu đồng.
Tính chung 7 tháng năm 2018 (tính từ ngày 16/12/2017 đến 15/7/2018), trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 94 vụ cháy, tăng 36 vụ so với cùng kỳ năm 2017 và 1 vụ nổ khí ga, không có thiệt hại về người. Ước tính tổng giá trị thiệt hại khoảng 9,7 tỷ đồng, gấp 4,6 lần và tăng 7,6 tỷ so với 7 tháng 2017. Nếu tính từ ngày 16/11/2017 đến 15/7/2018 thì giá trị thiệt hại do cháy nổ gây ra là khoảng 24,5 tỷ đồng.
8. Vi phạm môi trường
 Trong tháng 7 năm 2018 trên địa bàn tỉnh ngành chức năng đã kiểm tra và xử lý 3 vụ vi phạm môi trường. Trong đó có 03 vụ  đều xảy ra tại thành phố Thái nguyên. Tổng số tiền xử phạt khoảng 6 triệu đồng.
Tính chung trong 7 tháng đầu năm 2018, các ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra và xử lý 35 vụ vi phạm môi trường, nguyên nhân của các vụ xử lý trên là do các cơ sở sản xuất kinh doanh không thực hiện quan trắc giám sát môi trường theo đề án bảo vệ môi trường được Sở Tài Nguyên Môi trường xác nhận. Tổng số tiền thu và nộp vào ngân sách nhà nước là 209,7 triệu đồng.
Trên đây là một số tình hình về kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên tháng 7 và 7 tháng đầu năm năm 2018./. 
 

Nguồn tin: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

CHUYÊN MỤC
dieutradanso2019

hoc tap lam theo HCM

tong cuc thong ke

luat thong ke 1

cong thong tin thai nguyen


Dieu tra DN 2018

anh minh hoa 1
 
anh tuyen dung
Thống kê website
  • Đang truy cập10
  • Hôm nay
  • Tháng hiện tại
  • Tổng lượt truy cập
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây