Cục thống kê Thái Nguyên

https://cucthongkethainguyen.gov.vn


Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2019 tỉnh Thái Nguyên

            Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh năm 2019 duy trì mức tăng so với cùng kỳ trên hầu hết các ngành, lĩnh vực; trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vai trò chủ chốt đóng góp vào mức tăng trưởng chung; bên cạnh đó mặt bằng lãi suất tín dụng thuận lợi cho sản xuất. An ninh trật tự, an toàn xã hội được đảm bảo; các chính sách xã hội được quan tâm và thực hiện đầy đủ, công tác an sinh xã hội, chăm lo đời sống nhân dân tiếp tục được bảo đảm… Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, kinh tế trên địa bàn còn đối mặt không ít khó khăn, thách thức, ngành chăn nuôi ảnh hưởng nặng do dịch tả lợn Châu Phi kéo dài và lây lan trên diện rộng; thời tiết, thiên tai diễn biến phức tạp… ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống một bộ phận nhân dân.
Trên cơ sở kết quả thực hiện 11 tháng, ước tính số liệu tháng 12/2019; đông thời thực hiện công văn số 1580/TCTK-TKQG ngày 29/11/2019 của Tổng cục Thống kê về việc thông báo số liệu GRDP ước tính năm 2019 vàcập nhật số liệu của các sở ngành;Cục Thống kê dự báo tình hình và kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội Quý IV và cả năm 2019 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên như sau:
I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU VỀ KINH TẾ
1.Tăng trưởng kinh tế
Theo số thông báo của Tổng cục Thống kê, chỉ tiêu Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thái Nguyên năm 2019 ước tính tăng 8,8% so với năm 2018; trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp thuỷ sản tăng 2,7%, đóng góp 0,3 điểm phần trăm vào tốc độ tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,2%, đóng góp 6,5 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ và thuế sản phẩm tăng 6,5%, đóng góp 2 điểm phần trăm vào tốc độ tăng trưởng chung.
Với dự ước tăng trưởng năm 2019 đạt xấp xỉ 9%, nếu năm 2020 tốc độ tăng trưởng dự ước đạt từ 7-8% thì tính chung bình quân hàng năm giai đoạn 2015-2020 sẽ đạt mức tăng trưởng bình quân khảng 11%/năm, vượt mục tiêu Đại hội đề ra (mục tiêu từ 10% trở lên).
2. Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm
a, Thu chi Ngân sách
- Thu ngân sách: Tổng thu ngân sách trong cân đối năm 2019 ước đạt 15,1 nghìn tỷ đồng, đạt 100,2% dự toán cả năm. Trong tổng thu cân đối, thu nội địa đạt 11.240 tỷ đồng, vượt 590 tỷ đồng (bằng 103,2%) so dự toán; thu xuất nhập khẩu 2.800 tỷ đồng, bằng 88,5% dự toán; Thu quản lý qua ngân sách ước đạt 60 tỷ đồng.
Trong thu nội địa, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 4.010 tỷ đồng, chiếm 32,7% tổng thu nội địa, tăng 17,6% so cùng kỳ; tiếp đến là thu từ khu vực dịch vụ nước ngoài quốc doanh ước đạt 1.410 tỷ đồng, chiếm 11,5% thu nội địa, bằng 79,9% dự toán (do giá khoáng sản giảm nên tiêu thụ khó khăn, tồn kho lớn); thu từ doanh nghiệp nhà nước 1.175 tỷ đồng, tăng 23,6% cùng kỳ và bằng 121,1% dự toán...
Với dự ước thực hiện thu ngân sách nhà nước năm 2019 như trên thì tốc độ thu ngân sách nhà nước trong cân đối (không kể thu tiền sử dụng đất) bình quân hàng năm giai đoạn 2015 - 2019 tăng 19,4%/năm.
- Chi ngân sách: Ước tính cả năm 2019, tổng chi ngân sách địa phương đạt 15.009,4 tỷ đồng, tăng 133,6 tỷ đồng so với dự toán (do ngân sách Trung ương bổ sung). Trong đó, chi cân đối ngân sách là 13.769 tỷ đồng; trong chi cân đối thì chi đầu tư phát triển tăng 803,6 tỷ đồng (vượt 25%) so với dự toán, do tăng chi đầu tư từ nguồn thu tiền sử dụng đất; chi thường xuyên ước đạt 8.265,6 tỷ đồng, bằng 101,4% dự toán, giảm 0,3% so với năm 2018, đảm bảo kinh phí thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế địa phương, thực hiện tăng lương, các chế độ chính sách theo quy định. Tốc độ tăng chi đầu tư phát triển cao hơn tăng chi thường xuyên; Chi chương trinh mục tiêu quốc gia ước đạt 1.240 tỷ đồng, bằng 100% dự toán cả năm, tăng 1,6% so cùng kỳ.
b. Hoạt động Ngân hàng
Năm 2019 trên địa bàn tỉnh có 34 chi nhánh cấp 1 của tổ chức tín dụng, trong đó có 28 chi nhánh ngân hàng thương mại; 01 chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội, 01 chi nhánh Ngân hàng Phát triển khu vực Bắc Kạn - Thái Nguyên, 03 Qũy tín dụng nhân dân và 1 tổ chức tài chính vi mô.
Các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng trên địa bàn đã thực hiện mở rộng tín dụng đi đôi với cơ cấu lại và nâng cao chất lượng tín dụng, tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên. Triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức và người dân tiếp cận vốn. Tính đến ngày 20/12/2019, tăng trưởng tín dụng trên địa bàn tăng 9,3% so với 31/12/2018, thấp hơn tăng trưởng tín dụng toàn ngành là 11,07%.
- Tình hình thực hiện lãi suất: Lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam phổ biến ở mức 0,2-0,8%/năm đối với lãi suất huy động tiền gửi kỳ hạn dưới 1 tháng; từ 4,5-5,5%/năm đối với kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; từ 5,5-7,5%/năm đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Lãi suất cho vay bằng Việt Nam đồng đối với các lĩnh vực ưu tiên là 6,5%/năm. Lãi suất cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,5%-9%/năm đối với ngắn hạn, từ 9%-11%/năm đối với trung và dài hạn.
- Hoạt động huy động vốn: Nguồn vốn huy động của các Tổ chức tín dụng đến 30/11/2019 đạt 64.226 tỷ đồng, tăng 18,96% so với 31/12/2018. Ước đến 31/12/2019, nguồn vốn huy động đạt 65.000 tỷ đồng, tăng 20,39% so với 31/12/2018.
- Hoạt động tín dụng: Dư nợ cho vay của các Tổ chức tín dụng (chưa bao gồm Ngân hàng Phát triển) tính đến 30/11/2019 đạt 55.158 tỷ đồng, tăng 9,3% so với 31/12/2018. Ước đến 31/12/2019, dư nợ cho vay đạt 56.000 tỷ đồng, tăng 10,96% so với 31/12/2018. Nợ xấu là 520 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 0,94%/tổng dư nợ.
Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn dư nợ cho vay đạt 15.500 tỷ đồng, tăng 9,27% so với cuối năm 2018 và chiếm tỷ trọng 28%/tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng; số khách hàng còn dư nợ là 175.277 khách hàng, nợ quá hạn đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn là 136 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,88%/tổng dư nợ cho vay. Riêng Dư nợ cho vay đối với ngành chăn nuôi lợn đến đầu tháng 11/2019 là 1.933 tỷ đồng, trong đó dư nợ bị thiệt hại là 70 tỷ đồng, các ngân hàng trên địa bàn đã thực hiện giảm lãi vay và cơ cấu lại thời hạn trả nợ với dư nợ 15 tỷ đồng nhằm tháo gỡ khó khăn cho người chăn nuôi lợn khi xảy ra dịch tả lợn Châu Phi.
- Xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng: Lũy kế từ 15/8/2017 đến 30/9/2019, tổng số nợ xấu phát sinh là 809 tỷ đồng, tổng số nợ xấu đã được xử lý là 709 tỷ đồng, chủ yếu do khách hàng trả nợ; sử dụng dự phòng rủi ro; bán, phát mại tài sản…
3. Giá cả
Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng từ đầu năm liên tục có xu hướng tháng sau tăng hơn tháng trước (với mức tăng bình quân 0,4%/tháng) và có 2 tháng chỉ số giá tiêu dùng giảm là tháng 3 (giảm 0,43%) và tháng 6/2019 giảm 0,15% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu là do Nhà nước điều chỉnh tăng giá dịch vụ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế; điều chỉnh học phí đào tạo và giáo dục nghề nghiệp theo lộ trình; điều chỉnh học phí đào tạo đại học và giáo dục nghề nghiệp theo lộ trình; điều chỉnh tăng mức lương cơ sở; điều chỉnh tăng giá điện, nước… Bên cạnh đó một số nhóm hàng hóa chỉ số giá giảm như: giá xăng dầu giảm, giá nhóm thiết bị điện thoại giảm.
Tính riêng Quý IV/2019 so với cùng kỳ năm trước, bình quân chỉ số giá tăng 5% so với bình quân Quý IV/2018. Có 8/11 nhóm hàng hóa tăng, tăng nhiều nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 11,1%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 7,3%; nhóm nhà ở và vật liêu xây dựng tăng 3,74%; nhóm giáo dục tăng 3,09%; các nhóm khác tăng từ 0,19% đến 2,41%. Có 3/11 nhóm có chỉ số giá giảm như nhóm giao thông giảm 2,08%; nhóm bưu chính viễn thông 0,33% và nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,22%.
Bình quân năm 2019, chỉ số giá tiêu dùng tăng 2,68% so với bình quân cùng kỳ, trong đó, nhóm hàng hóa tăng 1,73% và nhóm dịch vụ tăng 7,06%.Trong đó, nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 5,49% (do giá dịch vụ y tế tăng  7,54%); nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 3,72%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,96% (giá thị lợn tăng 13,56%); nhóm giáo dục tăng 3,37%; nhóm đồ dùng và dịch vụ khác tăng 2,04% (do giá dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 3,86%)... còn lại 3/11 nhóm có chỉ số giá bình quân giảm như nhóm giao thông giảm 1,71%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,95% và nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,56%.
Riêng trong tháng 12/2019, có một số yếu tố tác động gây sức ép lên mặt bằng giá cả hàng hóa như: ảnh hưởng của nhu cầu tiêu dùng thực phẩm tăng vào mùa cưới nên có thể gây biến động giá thực phẩm tươi sống. Bên cạnh đó, thời điểm này đang dần vào dịp cuối năm, các vụ chính của sản xuất nông nghiệp, nhu cầu hàng hóa phục vụ sản xuất, tiêu dùng sẽ tăng, nhu cầu mua sắm hàng may mặc, mũ nón giày dép đang có xu hướng tăng do thời tiết chuyển mùa lạnh; Nhà nước điều chỉnh giá xăng dầu; nhu cầu sử dụng vật liệu xây dựng thường có xu hướng tăng cao vào những tháng cuối năm, do đó chỉ số giá tiêu dùng tăng 7,58% so với cùng kỳ và tăng 1,64% so với tháng trước. Có 5/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng có chỉ số giá tăng so với tháng trước, có 3/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ giảm, còn lại 3 nhóm có chỉ số giá tương đương so với tháng trước. Tăng cao nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,59% (trong đó nhóm thực phẩm tăng 5,9%); các nhóm khác tăng nhẹ trong khoảng 0,16% đến 0,52%.Bên cạnh đó, nhóm có chỉ số giá giảm là nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,2%; nhóm văn hóa giải trí và du lịch giảm 0,07% và nhóm đồ dùng và dịch vụ giảm 0,01%.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2019 tăng 7,58% so với cùng kỳ 2018. Có 10/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng (hàng hóa tăng 9,26%; dịch vụ tăng 3,74%).
Chỉ số giá vàng bình quân Quý IV/2019tăng 19,29% so với cùng kỳ;Bình quân 12 tháng năm 2019chỉ số giá vàng tăng 8,66% so với cùng kỳ. Riêng tháng 12/2019 chỉ số giá vàng có xu hướng giảm, so với tháng trước giảm 0,69% (nguyên nhân chủ yếu do biến động thất thường của giá vàng thế giới); so với cùng kỳ tăng 17,6%.
Chỉ số giá Đô la Mỹ bình quân quý IV năm 2019 giảm 0,52% so với cùng kỳ;Bình quân 12 tháng 2019 tăng 1,04% so với bình quân cùng kỳ. Riêng tháng 12/2019 giảm 0,1% so tháng trước và giảm 0,54% so với cùng kỳ.
4. Đầu tư và xây dựng
a. Tình hình Đầu tư
Năm 2018 tỉnh Thái Nguyên đã tổ chức Hội nghị xúc tiến đầu tư. Tại Hội nghị xúc tiến đầu tư, tỉnh Thái Nguyên đã mời gọi đầu tư 65 dự án trên cơ sở lựa chọn từ đề xuất của các sở, ngành, địa phương thuộc tất cả các lĩnh vực.
Qua thống kê ban đầu, có 11 dự án được tỉnh phê duyệt chủ trương đầu tư, phê duyệt kết quả đấu thầu với tổng số vốn đăng ký 6.370 tỷ đồng hiện đã triển khai phê duyệt quy hoạch chi tiết, đang thực hiện khoảng 890 tỷ đồng; còn lại 40 dự án đã ký biên bản ghi nhớ với UBND tỉnh có tổng số vốn đăng ký hơn 104 nghìn tỷ đồng đang hoàn thiện hồ sơ, thủ tục, về cơ bản đang triển khai theo kế hoạch và nội dung cam kết...
Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội quý IV năm 2019 đạt 9 nghìn tỷ đồng, giảm 10,9% so với cùng kỳ. Trong đó vốn của khu vực kinh tế trong nước đạt 6,9 nghìn tỷ đồng (chiếm 77%), giảm 5,5% so với cùng kỳ (vốn đầu tư do nhà nước quản lý 1,7 nghìn tỷ đồng, giảm 26,2%; vốn đầu tư của dân cư và tư nhân 5,3 nghìn tỷ đồng, tăng 4,3% cùng kỳ); còn lại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2,1 nghìn tỷ đồng, giảm 25,9% cùng kỳ.
Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn ước năm 2019 đạt gần 40 nghìn tỷ đồng. Lũy kế bốn năm (từ năm 2016 đến hết năm 2019) tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh đạt gần 200 nghìn tỷ đồng (bình quân đạt 50 nghìn tỷ đồng/năm), vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra cho cả giai đoạn 2016-2020 là 128 nghìn tỷ đồng.
- Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài:Tính từ đầu năm đến 15/12/2019 trên địa bàn tỉnh có 18 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư mới với tổng vốn đầu tư đăng ký là 361,8 triệu USD. So với cùng kỳ số dự án FDI cấp phép mới gần tương đương nhưng vốn đăng ký tăng gấp 6 lần. Lũy kế đến ngày 15/12/2019, trên địa bàn tỉnh hiện có 145 dự án FDI được cấp phép đăng ký và còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 8.308,2 triệu USD (tương đương khoảng 193 nghìn tỷ đồng).
b. Xây dựng
Giá trị sản xuất xây dựng quý IV năm 2019 trên địa bàn ước đạt 6,1 nghìn tỷ đồng, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, đơn vị xây dựng có vốn trong nước thực hiện 5,96 nghìn tỷ đồng, tăng 14,8% cùng kỳ.
Giá trị sản xuất xây dựng năm 2019 trên địa bàn ước đạt trên 20 nghìn tỷ đồng, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước.
5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp
- Đăng ký kinh doanh: Tính từ đầu năm đến ngày 24/12/2018, toàn tỉnh cấp mới đăng ký kinh doanh cho 737 doanh nghiệp với số vốn đăng ký 7.527 tỷ đồng. Bên canh đó, có 147 doanh nghiệp tạm ngừng đã hoạt động trở lại.Tuy nhiên, trong 11 tháng đầu năm có 311 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, 728  doanh nghiệp đóng mã số thuế.
Nếu chia theo đơn vị hành chính, số doanh nghiệp thành lập mới tập trung nhiều nhất là ở TP Thái Nguyên có 398 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới (chiếm 54%); Thị xã Phổ Yên có 115 doanh nghiệp mới thành lập (chiếm 28,9%); TP Sông Công có 73 doanh nghiệp (chiếm 18,3%), Huyện Đại từ có 52 doanh nghiệp, còn lại nằm rải rác ở các huyện khác.
6. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản và thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Năm 2019, sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản trên địa bàn tỉnh gặp nhiều khó khăn, như: Thời tiết diễn biến bất thường ảnh hưởng đến sản xuất trồng trọt; tình hình dịch bệnh trên đàn vật nuôi diễn biến phức tạp, đặc biệt bệnh dịch tả Châu Phi xuất hiện và lây lan nhanh, phạm vi rộng làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển chăn nuôi lợn, gây tổn thất lớn về kinh tế, tác động tiêu cực đến môi trường, đời sống người chăn nuôi và ảnh hưởng tới kết quả sản xuất chung toàn ngành. Tuy nhiên do có sự chỉ đạo quyết liệt và triển khai các giải pháp đẩy mạnh sản xuất các cây trồng, vật nuôi để bù đắp phần giá trị thiếu hụt trong chăn nuôi lợn; trong đó đẩy mạnh chăn nuôi gia cầm, thủy sản đồng thời chú trọng trồng, thâm canh rau, đậu, cây ăn quả, cây chè và chăm sóc, khai thác sản phẩm từ rừng…
* Trồng trọt
- Cây lương thực: Năm 2019 do yêu cầu phát triển cơ sở hạ tầng và chuyển đổi cơ cấu lao động trong khu vực nông thôn, một số địa phương chuyển đổi đất nông nghiệp sang mục đích sử dụng khác nên diện tích gieo trồng cây hàng năm giảm so với năm trước ở hầu hết các loại cây trồng, riêng chỉ có cây rau, thuốc lá có diện tích tăng.
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm 2019 đạt 115 nghìn ha, giảm  0,9% (tương ứng giảm  trên 1 nghìn ha) so với năm 2018 (vụ Đông xuân là 61,5 nghìn ha, giảm 0,9%; vụ Mùa 53,5 nghìn ha, giảm 0,9% cùng kỳ). Trong đó, cây lương thực có hạt (cây lúa và cây ngô) là cây trồng chủ lực, diện tích đạt 87 nghìn ha (chiếm 75,7% tổng số), giảm 1% cùng kỳ; cây có diện tích lớn tiếp theo là cây Rau các loại đạt 13,9 nghìn ha, tăng 2% (+266 ha) so cùng kỳ (chủ yếu tăng ở vụ Mùa, tăng 236 ha). Còn các cây trồng khác diện tích nhỏ lẻ và nhìn chung đều giảm so với cùng kỳ như: cây khoai lang đạt 3,5 nghìn ha, giảm 4% (giảm 146 ha); cây đỗ tương đạt 679 ha, giảm 43 ha (-6 %); cây lạc đạt 3,4 nghìn ha, giảm 3,9%...
 Tính riêng cây lúa, năm 2019 toàn tỉnh gieo cấy được 70,1 nghìn ha, trong đó vụ Đông Xuân gieo cấy được 30 nghìn ha, vụ mùa gieo cấy được 40,1 nghìn ha, cả hai vụ đều giảm khoảng 0,8% so cùng kỳ. Năng suất lúa vụ Mùa 2019 dự ước đạt 53,77 tạ/ha, tăng 1% so với vụ mùa 2018. Năng suất lúa cả năm 2019 đạt 54,77 tạ/ha, tăng nhẹ so với năm 2018. Sản lượng lúa cả năm ước đạt 384 nghìn tấn, bằng 105,6% kế hoạch nhưng do diện tích giảm nên sản lượng giảm 0,6% (- 2,4 nghìn tấn) so với năm 2018.
Diện tích gieo trồng cây ngô cả năm đạt  khoảng 17 nghìn ha, giảm 1,8% so với cả năm 2018. Năng suất ngô bình quân cả năm ước đạt 46,79 tạ/ha, tăng 0,42 tạ/ha so với cùng kỳ; tuy nhiên do diện tích giảm nên sản lượng ngô cả năm ước đạt 79 nghìn tấn, giảm 0,9% so với năm 2018 và bằng 108,3% kế hoạch.
Với dự ước như trên, tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm 2019 ước đạt 463,2 nghìn tấn, vượt 6% kế hoạch đề ra; giảm 0,7% (-3,1 nghìn tấn) so với năm 2018.
- Cây lâu năm
Cây chè: Tổng diện tích chè hiện có tính đến cuối năm 2019 là 22.262 ha, tăng 1,1% so cùng kỳ, trong đó diện tích chè cho sản phẩm là 19.853 ha, tăng 0,9%. Dự ước năng suất chè bình quân chung khoảng 118 tạ/ha, tăng so với năm 2018, nên sản lượng chè búp tươi dự ước đạt tăng so với cùng kỳ và vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra là 234 nghìn tấn.
Diện tích chè trồng mới và trồng lại toàn tỉnh cả năm 2019 ước đạt 1.184,51  ha, bằng 157,8% kế hoạch,tăng 7,6%  so với năm 2018. Trong đó chè trồng mới là 311 ha, trồng lại, cải tạo thay thế chè già cỗi năng suất thấp là 873,51 ha.
Cây ăn quả: Diện tích cây ăn quả của toàn tỉnh khoảng15,5 nghìnha, trong đó, diện tích cây vải, nhãn chiếm khoảng 22% trong tổng diện tích cây ăn quả của toàn tỉnh. Trong năm một số địa phương trên địa bàn tỉnh tiếp tục nhân rộng một số mô hình trồng cây ăn quả có chất lượng cao, đồng thời cây ăn quả hiệu quả kinh tế thấp được chuyển sang trồng chè và cây ăn quả khác có giá trị kinh tế cao hơn.
* Chăn nuôi: Năm 2019 chăn nuôi lợn gặp nhiều khó khăn do phát sinh bệnh Lở mồm long móng và dịch tả lợn Châu Phi. Địa phương và ngành chức năng đã chỉ đạo quyết liệt, đồng thời thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động người dân thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch bệnh.
- Bệnh Lở mồm long móng: xuất hiện trên địa bàn tỉnh từ đầu tháng 12/2018 ở phường Lương Sơn, TP Sông Công, sau đó phát sinh thêm ở 8/9 địa phương khác (riêng huyện Đại Từ không có lợn mắc bệnh); tổng số có 65 hộ thuộc 30 xã có lợn mắc bệnh buộc tiêu hủy là 894 con với tổng khối lượng tiêu hủy 47,3 tấn. Từ tháng 3/2019 dịch bệnh đã được khống chế.
- Tình hình bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Tính lũy kế từ ngày 5/3/2019 khi mới phát hiện ổ dịch đến ngày 22/12/2019, bệnh dịch tả lợn Châu Phi đã phát hiện tại 175 xã, phường, thị trấn trên địa bàn 09 huyện, thành phố, thị xã, tổng số lợn buộc tiêu hủy là 158,4 nghìn con, trọng lượng 9,28 nghìn tấn của 17.207 hộ thuộc 2.253 thôn, xóm. Tỷ lệ tiêu hủy chiếm 22,56% tổng đàn lợn cuối năm 2018. Có 166/175 xã, phường đã qua 30 ngày không phát sinh lợn ốm chết và có 118/175 xã, phường/ 9 huyện. thành phố, thị xã đã công bố hết dịch.
Công tác phòng, chống dịch bệnh: Ngành chức năng, các địa phương đã tiếp tục triển khai các biện pháp chống dịch; tăng cường công tác giám sát, lấy mẫu bệnh phẩm xét nghiệm xác minh dịch (đã lấy mẫu xét nghiệm của 836 hộ, kết quả 700 hộ có mẫu dương tính); duy trì hoạt động các chốt kiểm dịch và 09 đội kiểm tra liên ngành (01 đội cấp tỉnh, 08 đội cấp huyện); triển khai khử trùng tiêu độc.
Kết quả kiểm tra của đội kiểm tra liên ngành: Đội kiểm tra liên ngành cấp tỉnh: đã kiểm tra 262 lượt phương tiện vận chuyển động vật; 12 cơ sở giết mổ động vật nhỏ lẻ tạm thời; xử lý tiêu hủy 14.950kg mật lợn; Đội kiểm tra liên ngành cấp huyện: đã tiến hành kiểm tra công tác phòng, chống bệnh Dịch tả lợn Châu Phi tại các xã, phường, thị trấn trên địa bàn quản lý; trục vớt và tiêu hủy 23 xác lợn. Đồng thời kiểm tra hoạt động buôn bán, vận chuyển động vật, sản phẩm động vật tại các chợ trên địa bàn quản lý. Tổng số tiền nộp Ngân sách là 81,1 triệu đồng (Cấp tỉnh 61,5 triệu đồng, cấp huyện 19,6 triệu đồng).
Tình hình dịch bệnh đến nay có chiều hướng lây lan chậm, số lượng lợn mắc bệnh buộc phải tiêu huỷ giảm đi rõ rệt, cụ thểvào thời điểm tháng  6 và đầu tháng 7bình quân trên 2.000 con/ngày (có ngày cao điểm trên 3.000 con lợn tiêu huỷ/ngày), bắt đầu từ 25/7 đến 15/8 giảm khoảng trên 1.000con/ngày; từ 20/8 đến 30/8 số lượng giảm dần bình quân 160 con/ngày, từ 31/8 đến 30/9 bình quân 55 con/ngày, từ 01/10 đến 09/10 bình quân 20 con/ngày, từ 10/10 đến 30/10 trung bình 15 con/ngày.
- Dự tính năm 2019: Đàn trâu khoảng 52 nghìn con, tăng 0,1% so cùng kỳ; đàn bò khoảng 43,3 nghìn con, tăng 2,5% so cùng kỳ; đàn lợn khoảng 520,6 nghìn con, giảm 26% so với năm 2018 và chỉ đạt 75,4% kế hoạch do dịch tả lợn châu phi; đàn gà 12,8 triệu con, vượt khoảng 7% kế hoạch và tăng 19,6% so cùng kỳ.
Tổng sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng năm 2019 ước đạt là 87,8 nghìn tấn, giảm 14,5% cùng kỳ; sản lượng gia cầm khoảng 47,5 nghìn tấn, tăng 18,7%, trong đó, sản lượng gà hơi xuất chuồng là 45,6 nghìn tấn, tăng 18,8% so cùng kỳ.
- Kết quả tiêm phòng vắc xin năm 2019 như sau: Vắc xin Tụ huyết trùng trâu, bò: 42.020 liều; vắc xin Lở mồn long móng trâu, bò, lợn: 176.100 liều; vắc xin Dịch tả lợn: 91.200 liều; vắc xin Tụ dấu lợn: 69.835 liều; vắc xin Dại chó: 153.370 liều; vắc xin Lepto: 1.500 liều; vắc xin Tai xanh: 7.570 liều;vắc xin Cúm gia cầm: 1.500.000 liều.
Giá bán sản phẩm chăn nuôi: Do bệnh dịch tả lợn Châu Phi lây lan nhanh trên 9/9 huyện, thành phố, thị xã nên thị trường tiêu thụ lợn bị ảnh hưởng, công tác tái đàn bị ảnh hưởng; số lượng lợn bị dịch bệnh đã tiêu hủy trên 22% tổng đàn nên tổng đàn lợn giảm so với tổng đàn cuối năm 2018. Vì vậy đã đẩy giá lợn lên cao; trong đó, chỉ số sản phẩm chăn nuôi lợn quý IV/2019 tăng 37,89% so cùng kỳ và tăng 78,5% so quý III/2019. Hiện nay giá thịt lợn hơi bình quân tăng mạnh, giá khoảng 90 nghìn đồng/kg là do nguồn cung giảm mạnh, khan hiếm; So với tháng trước ( tháng 11/2019), giá gà công nghiệp bình quân tăng 6%; giá gà ta bình quân tăng 3%; giá lợn giống bình quân khoảng 116 nghìn/kg, tăng 16,7%.
* Lâm nghiệp
Công tác quản lý và bảo vệ rừng: Ngành chức năng chỉ đạo các địa phương tăng cường công tác phòng cháy chữa cháy rừng mùa khô 2019-2020; tham gia diễn tập chữa cháy rừng theo kế hoạch diễn tập chiến đấu phòng thủ xã, thị trấn năm 2019. Triển khai công tác tuyên truyền, tập huấn; lũy kế 12 tháng tổ chức 195 lớp với 8.962 lượt người tham gia.
Công tác quản lý, phòng cháy rừng: Trong năm trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng. Tuy nhiên có 8 vụ phá rừng với diện tích bị phá là 10,4 ha ở các địa phương như: huyện Võ Nhai 4 vụ, huyện Đại Từ 01 vụ, TP Thái Nguyên 02 vụ và huyện Định Hóa 01 vụ.Kết quả ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừngnăm 2019 đã xử lý 167 vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp (giảm 35,76%); tịch thu 246,5m3 gỗ quy tròn các loại (giảm 40,29%);phương tiện tịch thu 14 chiếc; thu nộp NSNN 1,1 tỷ đồng (giảm 52,43%) sovới cùng kỳ năm 2018.
* Thủy sản
 Diện tích nuôi trồng thủy sản ước đạt 5.923 ha, tăng 0,6% so cùng kỳ và bằng 95,5% kế hoạch (6.200 ha); trong đó diện tích nuôi cá đạt 5.823 ha; diện tích ươm nuôi giống thủy sản đạt 100 ha. Sản xuất được 550 triệu cá bột, 54 triệu cá giống các loại.
Dự ước sản lượng thủy sản cả năm ước đạt khoảng 14 nghìn tấn, tăng 15,7% so cùng kỳ. Trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 13,65 nghìn tấn, tăng 15,6% so cùng kỳ; sản lượng thủy sản khai thác đạt 0,25 nghìn tấn, tăng 25% so cùng kỳ. Riêng quý 4/2019 sản lượng thủy sản ước đạt 4,18 nghìn tấn tăng 13,6% so cùng kỳ và tăng 6,6% so với quý 3/2019.
* Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Dự ước hếtnăm 2019, có 13 xã đạt chuẩn nông thôn mới, nâng tổng số xã đạt chuẩn toàn tỉnh đạt 101 xã (chiếm 70,6% tổng số xã toàn tỉnh),vượt 01 xã và hoàn thành kế hoạch giai đoạn 2016-2020 trước 01 năm(mục tiêu đến năm 2020 hoàn thành xây dựng nông thôn mới 100 xã).
Có 3/9 đơn vị cấp huyện (33,33%) hoàn thành nhiệm vụ xây dựng Nông thôn mới (thành phố Thái Nguyên, thành phố Sông Công và thị xã Phổ Yên đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận); có 01 xã (xã Vinh Sơn, thành phố Sông Công) cơ bản đạt 19 tiêu chí “xã NTM kiểu mẫu” (địa phương đang tiến hành lập hồ sơ đề nghị công nhận); có 12 xóm được ủy ban nhân dân cấp huyện công nhận đạt xóm Nông thôn mới kiểu mẫu.
Kết quả rà soát 55 xã chưa đạt chuẩn nông thôn mới (theo Bộ tiêu chí giai đoạn 2017-2020):  Đạt 19 tiêu chí có 03 xã, đạt tỷ lệ 5,45%; đạt từ 10-18 tiêu chí có 47 xã, đạt tỷ lệ 85,45%; đạt từ 06-10 tiêu chí có 05 xã, đạt tỷ lệ 9,1%. Bình quân tiêu chí đạt 16,5 tiêu chí/xã.
Năm 2019, toàn tỉnh đã huy động được trên 2.604 tỷ đồng cho xây dựng nông thôn mới. Các địa phương đã triển khai xây dựng được trên 345 km đường bê tông nông thôn; 36 km kênh mương thủy lợi; xây mới, sửa chữa 17 công trình nhà lớp học; xây mới, nâng cấp 05 nhà văn hóa và 07 khu thể thao xã, 84 nhà văn hóa xóm... Ban hành Đề án “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2019-2025 và tổ chức đánh giá, xếp hạng được 25 sản phẩm OCOP đạt từ 3-4 sao.
7. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số tiêu thụ sản phẩm công nghiệp các tháng quý 4/2019 tăng nên chỉ số tồn kho sản phẩm công nghiệp giảm, đã tác động tích cực đến sản xuất công nghiệp những tháng cuối năm.
Chỉ số tiêu thụ sản phẩm công nghiệp tháng 11/2019 tăng 20,2% so với cùng kỳ và chỉ số tồn kho giảm 17,8% so với cùng kỳ. Lượng tồn kho cụ thể của các đơn vị sản xuất công nghiệp tính đến đầu tháng 12/2019 như sau: sắt thép các loại tồn 77,8 nghìn tấn, giảm 65,6% cùng kỳ; xi măng tồn 124 nghìn tấn, tăng 7% so với cùng kỳ; sản phẩm điện thoại thông minh và máy tính bảng tồn kho 1,9 triệu sản phẩm; sản phẩm may tồn 14,3 triệu sản phẩm, tăng 74%…
Tính riêng Quý IV/2019 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 14,9% so với quý IV/2018 (là quý có tốc độ tăng cao nhất), trong đó tăng cao ở nhóm sản phẩm xi măng, sắt thép, may và sản phẩm điện tử, máy vi tính, sản phẩm quang học, đóng góp chủ yếu vào tốc độ tăng cả năm.
Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp cả năm 2019 ước tính tăng 11,1% so với cùng kỳ (đạt so với kế hoạch đề ra là tăng 11%). Trong đó, tăng cao nhất là ngành sản xuất và phân phối điện tăng 14,2%, ngành công nghiệp chế biên, chế tạo tăng 11,4% (do nhóm ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 42,5%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 21,2%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 11,8%); ngành khai khoáng giảm 6,4%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 12,7%.
Sản phẩm công nghiệp sản xuất ước tính cả năm 2019: nhóm sản phẩm tăng trên 8% so với cùng kỳ là: sản phẩm may đạt 85 triệu sản phẩm, tăng 15,3% cùng kỳ và bằng 118,4% kế hoạch; xi măng đạt 2,4 triệu tấn, tăng 16,4% cùng kỳ và bằng 100,7% kế hoạch; mạch điện tử tích hợp đạt 113,5 triệu sản phẩm, tăng 42,9% và bằng 125,6% kế hoạch; camera truyền hình đạt 62,7 triệu sản phẩm, tăng 33,7%; đá khai thác đạt 4,8 triệu m3, tăng 20,5%; điện sản xuất đạt 1.752 triệu kwh, tăng 20% cùng kỳ;thiết bị và dụng cụ khác trong y khoa đạt 1.577 triệu sản phẩm, tăng 8,8%.Nhóm sản phẩm điện thoại thông minh ước đạt 111,5 triệu cái, tăng 6,3% cùng kỳ và bằng 115% kế hoạch.
Nhóm sản phẩm có sản lượng giảm so với cùng kỳ và chưa đạt kế hoạch cả năm là: thép cán các loại ước đạt 1,29 triệu tấn, giảm 5,6% cùng kỳ, và bằng 81,3% kế hoạch; tai nghe khác đạt 43 triệu sản phẩm, giảm 2,1% cùng kỳ và bằng 41,8% kế hoạch; vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 16 nghìn tấn, giảm 5,7% cùng kỳ và bằng 80,7% kế hoạch; đồng tinh quặng (Cu>20%) đạt 41,7 nghìn tấn, giảm 12,7% cùng kỳ; nước máy thương phẩm đạt 30,2 triệu m3, giảm 11,8% cùng kỳ; than khai thác đạt 1,3 triệu tấn, giảm 7,9% cùng kỳ và bằng 82,6% kế hoạch...
8. Thương mại, dịch vụ
a. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn tỉnh tháng 12 năm 2019 ước đạt 3,4 nghìn tỷ đồng, tăng 3,6% so với tháng trước, tăng 14,7% so với cùng kỳ. Tính riêng quý IV/2019 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn đạt 10 nghìn tỷ đồng, tăng 14% cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước đạt 518,3 tỷ đồng, tăng 12,9%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước đạt 9,4 nghìn tỷ đồng, tăng 14,1%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 58,4 tỷ đồng, tăng 7,1%.
Tính chung 2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước đạt 37,4nghìn tỷ đồng, tăng 13,1% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực nhà nước ước đạt 1,97 nghìn tỷ đồng, tăng 13,8%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 35,2 nghìn tỷ đồng, tăng 13,1% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 211 tỷ đồng, tăng 8,7% so với cùng kỳ.
Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, kinh tế cá thể đạt 22 nghìn tỷ đồng (chiếm 58,9% thị phần bán lẻ), tăng 13,4% so với cùng kỳ, còn lại là khối doanh nghiệp vốn trong nước đạt 13,2 nghìn tỷ đồng (chiếm 35,3%), tăng 12,5%; còn lại 1 phần nhỏ là doanh thu dịch vụ lưu trú của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI.
Nếu phân theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ ước đạt 29,3 nghìn tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 78,3%), tăng 13,8% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống doanh thu ước đạt 3.752 tỷ đồng, tăng 11,5% so với cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành chỉ chiếm rất nhỏ (đạt 82,7 tỷ đồng, tăng 9,9% so với cùng kỳ) và nhóm dịch vụ tiêu dùng khác ước đạt 4.284 tỷ đồng, tăng 10% so với cùng kỳ.
b. Hoạt động xuất, nhập khẩu
- Xuất khẩu: Quý IV năm 2019 tổng giá trị xuất khẩu ước đạt 7 tỷ USD, tăng 13% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 156 triệu USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 6,8 tỷ USD, tăng 12,8% so với cùng kỳ. Nhóm sản phẩm tăng cao so với cùng kỳ trong quý IV/2019 là: linh kiện điện tử và phụ tùng khác đạt 1,41 tỷ USD, tăng 10%; máy tính bảng đạt 968 triệu USD, tăng 8,5%; sản phẩm từ sắt thép đạt 19,7 triệu USD, tăng 7,3%... Nhóm sản phẩm đạt thấp hoặc giảm hơn so với cùng kỳ như: sản phẩm may đạt 151,3 triệu USD, tăng 2%; kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 51 triệu USD, giảm 20,7%...
Tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu năm 2019 ước đạt 27,6 tỷ USD, tăng 11,2% so cùng kỳ; trong đó, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 27 tỷ USD (chiếm 98% tổng giá trị xuất khẩu), tăng 10,9% so với cùng kỳ; xuất khẩu địa phương là 558,8 triệu USD, tăng 30% so năm 2018.
Nhóm mặt hàng xuất khẩu năm 2019 chiếm tỷ trọng lớn là nhóm mặt hàng điện tử, điện thoại các loại ước đạt 26,1 tỷ USD (chiếm 96,8% tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn), tăng 8,4% so với cùng kỳ và bằng 106,7% kế hoạch; trong đó, điện thoại thông minh và máy tính bảng xuất khẩu khoảng 120 triệu cái với giá trị 21,9 tỷ USD, tăng 14,8% về lượng và tăng 15,1% về giá trị, vượt 2,6% kế hoạch; linh kiện điện tử và sản phẩm điện tử khác đạt 4,2 tỷ USD, giảm 16,6% cùng kỳ nhưng vượt 34,1% kế hoạch.
Nhóm mặt hàng năm 2019 đạt tốc độ xuất khẩu tăng cao, đóng góp vào tốc độ tăng của xuất khẩu địa phương là sản phẩm may 382,6 triệu USD, tăng 23,5% cùng kỳ; sản phẩm từ sắt thép đạt 83,1 triệu USD, tăng 39,6% cùng kỳ; phụ tùng vận tải đạt 7,7 triệu USD, tăng 38,6% cùng kỳ…
Nhóm mặt hàng xuất khẩu giảm so với năm 2018 do giá xuất khẩu giảm, không tiêu thụ được như: kim loại màu và tinh quặng kim loại màu 232,9 triệu USD, giảm 6,8% cùng kỳ; chè các loại 1,5 nghìn tấn với trị giá xuất khẩu 2,5 triệu USD, giảm 19,5% về lượng và giảm 16,6% về giá trị xuất khẩu và mới bằng 30,9% kế hoạch cả năm về số lượng xuất khẩu…
- Nhập khẩu: Tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn quý IV/2019 ước đạt 3,6 tỷ USD, giảm 12,8% so với cùng kỳ. Trong đó nhóm mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn là: nguyên liệu và linh kiện điện tử đạt 3,44 tỷ USD, giảm 10,5% so với cùng kỳ; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 51,5 triệu USD, tăng 27%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 35,2 triệu USD, giảm 49,7%; vải các loại đạt 32,5 triệu USD, giảm 6,6%...
Tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu trên địa bàn năm 2019 ước đạt 15,2 tỷ USD, tăng 4,1% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 244,5 triệu USD (chiếm 1,6% tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn), giảm 13,2% so cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 15 tỷ USD, tăng 4,4% so với cùng kỳ và chiểm tỷ trọng 98,4% tổng giá trị nhập khẩu.
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tăng từ 5% trở lên so với cùng kỳ là: nhóm nguyên liệu và linh kiện điện tử nhập khẩu14,6 tỷ USD (chiếm 95,9% tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn), tăng 5% cùng kỳ; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc 41,1 triệu USD, tăng 21,8%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng 123,9 triệu USD, tăng 13,2%; giấy các loại 7,2 triệu USD, tăng 35,2%; vải và nguyên, phụ liệu dệt may 169,3 triệu USD, tăng 14%; chất dẻo (plastic) nguyên liệu 147,8 triệu USD, tăng 14,5% cùng kỳ...
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu giảm so với cùng kỳ là sản phẩm từ sắt thép ước đạt 41,2 triệu USD, giảm 50,4%; sắt thép các loại đạt 6,2 triệu USD, giảm 70% cùng kỳ do năm 2019 không nhập khẩu thép phế liệu và thép thành phẩm.
Nguồn nguyên, vật liệu nhập khẩu trong năm 2019 toàn bộ được nhập khẩu theo hình thức trực tiếp và chủ yếu nhập khẩu từ thị trường Châu Á với giá trị 13,9 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 91,1% tổng số); trong đó tập trung chủ yếu ở các nước như: Hàn Quốc là 5,3 tỷ USD, Trung Quốc với 5,7 tỷ USD và Nhật Bản 1,1tỷ USD...
c, Kết quả hoạt độngvận tải
- Vận chuyển hành khách: Số lượt hành khách vận chuyển tháng 12/2019 ước đạt 1,99triệu lượt khách với lượng hành khách luân chuyển là 112,6 triệu hành khách.km; so với tháng trước tăng 9% cả về số hành khách vận chuyển và hành khách luân chuyển; So với cùng kỳ tăng 11,9% so về số lượng hành khách vận chuyển, tăng 10% về số hành khách luân chuyển.
Dự ước năm 2019 số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 20 triệu  hành khách với 1.139,8 triệu hành khách luân chuyển, tăng 10,4% so với cùng kỳ về số hành khách vận chuyển và tăng 9,8% về số lượng hành khách luân chuyển.
Nếu chia theo Quý trong năm 2019, Quý IV đạt 4,9 triệu hành khách, tăng 11,6% so cùng kỳ, tăng 10,8% so với quý III/2019; do đây là khoảng thời gian nhu cầu đi lại của người dân tăng cao, công việc cuối năm có nhiều nên phải di chuyển.
- Vận chuyển hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 12/2019 ước đạt 3,9 triệu tấn với 161 triệu tấn.Km, tăng 10,6% so với tháng trước về khối lượng vận chuyển và khối lượng luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 8,7% về khối lượng hàng hóa vận chuyển và tăng 10% về khối lượng hàng hóa luân chuyển. Tính chung năm 2019, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 42,6 triệu tấn với 1.715 triệu tấn.km, tăng 7,8% về khối lượng vận chuyển và tăng 8,2% khối lượng luân chuyển so với cùng kỳ.
Trong đó quý IV/2019 có số lượng hàng hóa ước đạt 11,5 triệu tấn hàng hóa với 451,1 triệu tấn.km; so với cùng kỳ tăng 7,7% về khối lượng hàng hóa vận chuyển và tăng 7,2% về số lượng hàng hóa luân chuyển. Quý IV/2019 là quý có khối lượng vận chuyển hàng hóa nhiều nhất so với các quý trong năm 2019, tăng 9,7% so với quý III/2019; tăng 12,5% so với quý II/2019 và tăng 17,5% so với quý I/2019.
Tổng doanh thu vận tải tính chung cả năm 2019 ước đạt 4.563,6 tỷ đồng, tăng 11,4% cùng kỳ, trong đó, doanh thu vận tải hàng hóa chiếm tỷ trọng cao nhất và đạt 3.366 tỷ đồng, tăng 10,9%; doanh thu vận tải hành khách 821,9 tỷ đồng, tăng 13,4%; doanh thu từ dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 375,6 tỷ đồng, tăng 12,3%.
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Đời sống dân cư
Do chỉ số giá tiêu dùng năm 2019 tăng 2,68% so với bình quân cùng kỳ; sản xuất công nghiệp tăng cao, sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn do dịch bệnh chăn nuôi phát sinh nhưng đã có sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp chính quyền địa phương, sự quan tâm hỗ trợ, đền bù thiệt hại từ nguồn ngân sách góp phần giảm bớt khó khăn cho người chăn nuôi. Trên địa bàn không xảy ra tình trạng thiếu đói do thiên tai hoặc tháng giáp hạt.
Trong khu vực làm công, ăn lương thu nhập ổn định, trong đó thu nhập bình quân của người lao động trong các doanh nghiệp đạt khoảng 8-9 triệu đồng/tháng/1 lao động. Sức mua tiêu dùng xã hội thể hiện qua chỉ tiêu tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng trên 10% so cùng kỳ... Cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư phát triển, đặc biệt là các xã thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, góp phần nâng cao mức sống, ổn định đời sống dân cư.
2. Công tác giảm nghèo, bảo trợ xã hội và thực hiện chính sách người có công
Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh năm 2019 ước đạt 4,35%, giảm 2,04% so với năm 2018 và vượt chỉ tiêu kế hoạch.
- Công tác giảm nghèo, bảo trợ xã hội: Các ngành, các địa phương, các tổ chức đoàn thể trên địa bàn đã tổ chức triển khai nhiều hoạt động cho các đối tượng chính sách xã hội và người có công trong các dịp Lễ, Tết, tổ chức thăm tặng quà hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và cứu trợ đột xuất các hộ có nguy cơ thiếu đói giáp hạt Tết nguyên đán năm 2019 là 23.358 suất, trị giá 28,2 tỷ đồng; trợ cấp hàng tháng 38.379 đối tượng, tổng kinh phí trên 202 tỷ đồng.... Các địa phương phối hợp cơ quan chức năng thực hiện cấp thẻ Bảo hiểm y tế, đổi mã thẻ cho các đối tượng là người có công, thân nhân người có công và cựu chiến binh, người tham gia chiến tranh và bảo vệ tổ quốc cho 54.758 người.
Triển khai thực hiện 27 dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo tỉnh Thái Nguyên năm 2019 tại các địa bàn các xã thuộc Chương trình 135 và các xã ngoài Chương trình 135với tổng kinh phí thực hiện: 8,2 tỷ đồng, với 457 hộ nghèo, hộ cận nghèo tham gia Dự án.
Công tác thực hiện chính sách người có công: Thực hiện kịp thời, đầy đủ các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng; 100% bà mẹ Việt Nam anh hùng được phụng dưỡng; thường xuyên chi trả trợ cấp cho trên 21.400 đối tượng là người có công, thân nhân người có công, tổ chức các hoạt động như: Tổ chức lễ dâng hương, đặt vòng hoa tại Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh (ATK Định Hoá); thăm Thành cổ Quảng Trị; nghĩa trang liệt sỹ Quốc gia Vị Xuyên (Hà Giang) và thăm hỏi tặng quà nhân dịp Tết Nguyên đán…
Cấp thẻ bảo hiểm y tế cho 54.362 người, trong đó người có công và thân nhân người có công là 26.212 người; 28.150 người là cựu chiến binh, người tham gia kháng chiến và bảo vệ Tổ quốc là 28.150 người. Tổ chức các hoạt động thăm hỏi, tặng quà quà cho các gia đình, thân nhân liệt sỹ TNXP nhân dịp kỷ niệm 47 năm (24/12/1972-24/12/2019) ngày hy sinh của 60 liệt sĩ TNXP Đại đội 915 Bắc Thái; Hỗ trợ làm nhà, sửa chữa nhà ở cho 25 người có công thuộc hộ nghèo thiếu hụt về nhà ở (7 nhà làm mới, 18 nhà sửa chữa) với tổng kinh phí 640 triệu. Hội Cựu chiến binh tỉnh thăm, tặng 2.401 suất quà cho Hội viên Hội CCB có hoàncảnh khó khăn với số tiền là 716 triệu đồng; các cấp Hội huyện hỗ trợ sửa chữa nhà ở với số tiền là 137 triệu đồng.
3. Tình hình dân số, lao động việc làm
- Dân số và trẻ em: 11 tháng năm 2019, tổng số trẻ mới sinh ra là 16.264 trẻ (tăng 772 trẻ so với cùng kỳ 2018), trong đó có 8.452 trẻ là nam và 7.812 trẻ là nữ; tỷ số giới tính khi sinh là 108,19 trẻ nam/100 trẻ nữ. Số trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên là 1.911 trẻ (tăng 443 trẻ so với cùng kỳ năm 2018), chiếm 11,7% tổng số trẻ sinh (cao hơn 2,3% so với năm 2018).
- Kết quả sơ bộ Tổng điều tra dân số thời điểm 1/4/2019: Tổng số dân của tỉnh Thái Nguyên tại thời điểm 0 giờ ngày 01/4/2019 là 1.286.751 người. Trong đó, dân số nam là 629.197 người, chiếm 48,9%; dân số nữ là 657.554 người, chiếm 51,1%. Dân số thành thị là 410.159 người, chiếm 31,9% tổng dân số; dân số khu vực nông thôn là 876.592 người, chiếm 68,1%.
Như vậy, Thái Nguyên là tỉnh đông dân đứng thứ 27 toàn quốc về quy mô dân số. So với năm 2009, vị trí xếp hạng về quy mô dân số của Thái Nguyên trong cả nước tăng lên 6 bậc (từ xếp thứ 33 toàn quốc năm 2009 lên xếp thứ 27 năm 2019); xếp hạng về quy mô dân số so với các tỉnh trong vùng là không thay đổi, đứng thứ 3 các tỉnh vùng Trung du và miền Núi phía Bắc sau tỉnh Bắc Giang và Phú Thọ; dân số tỉnh Thái Nguyên chiếm 10,3% dân số trong vùng.
Cơ cấu dân số thành thị của tỉnh Thái Nguyên năm 2019 đứng thứ 18 so với cả nước, tăng 4 bậc so với năm 2009 (năm 2009 đứng thứ 22 cả nước) và đứng đầu trong số các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc, đứng thứ hai trong vùng Thủ đô (chỉ sau TP Hà Nội).
Kết quả Tổng điều tra cho thấy, sau 10 năm dân số của tỉnh Thái Nguyên tăng thêm 163.635 người (bình quân mỗi năm tăng 16.363 người); trong đó, tỷ lệ dân số khu vực thành thị tăng 6,3 điểm phần trăm, tương ứng tăng 123 nghìn người, bình quân mỗi năm tăng 12,3 nghìn người.
Tỷ lệ tăng dân số bình quân hàng năm giai đoạn 2009-2019 đạt 1,36%/năm (trong đó, khu vực thành thị tăng bình quân 3,56%/năm và khu vực nông thôn tăng 0,48%/năm), tốc độ tăng bình quân giai đoạn 10 năm qua cao hơn so với tốc độ tăng bình quân của 10 năm trước (tỷ lệ tăng dân số bình quân năm giai đoạn 1999-2009 là 0,71%/năm) và cao hơn so với mức tăng 1,14%/năm của bình quân chung của cả nước.
Sở dĩ tỉnh Thái nguyên có tốc độ tăng dân số cao hơn bình quân chung cả nước và cao hơn giai đoạn 10 năm trước chủ yếu là do có sự di chuyển từ các tỉnh khác đến nhập cư vào Thái Nguyên để tham gia lao động làm việc trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, trong đó tăng đột biến ở các năm 2014 và 2015 khi trên địa bàn có các dự án đầu tư nước ngoài sản xuất các sản phẩm điện tử, viễn thông tăng năng lực và đi vào sản xuất.
Dân số trung bình năm 2019 tỉnh Thái Nguyên ước đạt 1.291 nghìn người, trong đó, dân số khu vực thành thị chiếm 32,1% và dân số khu vực nông thôn chiếm67,9%.
- Lao động việc làm:Theo báo cáo của ngành chức năng, dự ước năm 2019 toàn tỉnh tạo việc làm tăng thêm cho 24,7 nghìn người, bằng 165% kế hoạch; trong đó xuất khẩu lao động đạt khoảng 1.702 người; giảm tăng 41,4% so với cùng kỳ và bằng 170,2% kế hoạch.
Thông báo chấp thuận cho 206 đơn vị được sử dụng lao động là người nước ngoài, trong đó có 65 đơn vị bổ sung nhu cầu. Cấp giấy phép lao động cho 227 lao động nước ngoài, trong đó cấp mới 155 trường hợp và cấp lại 72 trường hợp. Xác nhận 117 trường hợp không thuộc diện phải cấp giấy phép lao động, trong đó 114 trường hợp là sinh viên có thỏa thuận thực tập tại trường đại học.
4. Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em
Trên địa bàn đã tổ chức Lễ phát động Tháng hành động vì trẻ em tỉnh Thái Nguyên năm 2019 với chủ đề “Chung tay vì trẻ em nghèo, trẻ em dân tộc thiểu số” với sự tham gia của gần 600 đại biểu; tổng kết 05 năm thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về quy định tiêu chuẩn xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em; phối hợp với các đơn vị tổ chức chương trình Vui Tết Trung thu năm 2019; trao tặng xe lăn cho trẻ em và người khuyết tật và chương trình “Samsung đồng hành” tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn...
Tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được quan tâm chăm sóc: 90,0%; Tỷ lệ xã phường đạt tiêu chuẩn xã/phường phù hợp với trẻ em: 79,4%.
5. Giáo dục, đào tạo
- Số liệu về trường, lớp, giáo viên học sinh đầu năm học 2019-2020:
Trường học: Sau khi sắp xếp lại, năm học 2019-2020 trên địa bàn toàn tỉnh có 681 trường (bao gồm cả 01 trường nội trú thuộc Trung ương quản lý), trong đó có 28 trường ngoài công lập. Bao gồm: hệ mầm non có 237 trường (công lập 215, ngoài công lập 22 trường); Tiểu học có 219 trường (công lập 217, ngoài công lập 2); trung học cơ sở có 191 trường (công lập 190, ngoài công lập 1); trung học phổ thông có 33 trường (3 trường ngoài công lập; 30 trường công lập) và có 01 trường nội trú thuộc Trung ương quản lý.
Số liệu sơ bộ về lớp học và học sinh đầu năm học 2019-2020: Hệ mầm non có 3.080 nhóm/lớp với 83.947 học sinh. Cấp tiểu học có 3.940 lớp với 117.312 học sinh, trong đó tuyển mới vào lớp 1 là 25.235 học sinh. Trung học cơ sở có 2.019 lớp với 71.548 học sinh, trong đó tuyển mới vào lớp 6 là 19.388 học sinh, giảm 0,74% so năm học trước. Trung học phổ thông có 873 lớp với 35.842 học sinh, trong đó tuyển mới vào lớp 10 là 12.057 học sinh, giảm 6,5% cùng kỳ. Nhìn chung học sinh tuyển mới đầu các cấp học đều giảm so với năm học trước.
Riêng số học sinh dân tộc nội trú là 1.887 em, đạt tỷ lệ 6,34% học sinh dân tộc thiểu số được học tại các trường dân tộc nội trú. So với mục tiêu Nghị quyết Đại hội còn thiếu 1,66%; dự kiến đến tháng 9 năm 2020 đạt tỷ lệ 8%, bằng mục tiêu đề ra.
- Kết quả xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia: Thực hiện đề án xây dựng hệ thống trường đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 2016-2020, tính đến ngày 20/12/2019, toàn tỉnh có 560/683 trường đạt chuẩn quốc gia đạt tỷ lệ 82,72%
- Kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên: Số học sinh thực tế dự thi để xét công nhận tốt nghiệp là 13.976 học sinh; Kết quả số học sinh đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông năm học
2018 - 2019 là 12.831 học sinh, đạt tỷ lệ đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông của tỉnh Thái Nguyên năm 2019 là 91,81% (thấp hơn so với tỷ lệ 97,39% của năm 2018).
- Công tác tuyển sinh cao đẳng, đại học năm học 2019-2020: Theo số liệu của Đại học Thái Nguyên, kế hoạch tuyển sinh 12.390 chỉ tiêu; đã tuyển sinh mới được khoảng 8 nghìn chỉ tiêu, bằng 60% kế hoạch, trong đó, có khối ngành y dược vượt chỉ tiêu tuyển sinh; còn lại các khối ngành khác đều chưa đạt kế hoạch.
6. Công tác y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng chống dịch bệnh
Trên địa bàn không có dịch bệnh nguy hiểm xảy ra, không có tử vong do dịch. Công tác phòng chống dịch và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm được duy trì triển khai. Tính chung từ đầu năm đến 20/12/2019, trên địa bàn tỉnh có 163 ca mắc bệnh Quai bị, giảm 185 ca so cùng kỳ (cùng kỳ 2018 là 325 ca); có 116 ca Sốt phát ban dạng sởi/rubella; chân tay miệng là 239 ca (cùng kỳ 2018 là 173 ca);  ho gà 09 ca (cùng kỳ 3 ca); sốt xuất huyết 96 ca; có 4 ca tử vong do bệnh dại (cùng kỳ năm 2018 là 2 ca); có khoảng 9 nghìn người phải tiêm vắc xin/huyết thanh đề phòng và điều trị dự phòng bệnh dại, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2018.
Trong năm 2019 không có vụ ngộ độc thực phẩm tập thể xảy ra; ngành chức năng duy trì triển khai công tác an toàn vệ sinh thực phẩm, đảm bảo an toàn trong các bếp ăn tập thể. Ngành chức năng đã thanh kiểm tra 7.640 cơ sở chế biến thực phẩm, trong đó có 6.020 cơ sở đạt tiêu chuẩn (chiếm 78,8%), có 1.620 cơ sở vi phạm (chiếm 21,2%), tổng số tiền nộp phạt là 335,17 triệu đồng.
Công tác khám chữa bệnh: Tổng số lượt bệnh nhân đến khám, chữa bệnh tại các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện tăng 1,6% so cùng kỳ; trong đó bệnh nhân điều trị nội trú tăng 1,2% và chiếm khoảng 16,2% tổng số bệnh nhân đến khám, chữa bệnh. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân toàn tỉnh theo giường kế hoạch đạt 103,6%(trong đó tuyến tỉnh là 100,8%; tuyến huyện là 108,3%), thấp hơn cùng kỳ năm 2018 và cơ bản các đơn vị đã khắc phục tình trạng bệnh nhân phải nằm ghép. Các bệnh viện tư nhân đã thu hút nhiều lượt bệnh nhân đến khám chữa bệnh. Hoạt động khám chữa bệnh tại tuyến xã tiếp tục duy trì, đến nay đã có 170/180 xã, phường thị trấn (chiếm 96,1%) đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế.
Tuy nhiên hiện nay công tác y tế còn nhiều khó khăn, hạn chế như số ca tiêm phòng dại còn cao; trường hợp sinh con thứ ba trở lên tăng so với cùng kỳ. Còn nhiều bất cập trong việc thực hiện tự chủ tại các cơ sở khám chữa bệnh cần được tháo gỡ nhằm ổn định việc làm và hạn chế tình trạng bác sỹ bỏ việc hoặc chuyển công tác.
7. Hoạt động văn hóa, thể thao
Năm 2019 trên địa bàn các hoạt động tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ mừng Đảng, mừng Xuân, chào mừng các sự kiện chính trị, ngày lễ, kỷ niệm  được tổ chức từ tỉnh xuống cơ sở với nhiều hình thức phù hợp, thiết thực, an toàn, tiết kiệm; phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị được giao, tạo không khí phấn khởi cho nhân dân các dân tộc trong tỉnh.
Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm: Tiến hành kiểm tra 246  lượt cơ sở hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch; xử phạt vi phạm hành chính, thu nộp ngân sách nhà  nước 10 triệu đồng. Tham gia hoạt động kiểm tra liên ngành 178 về phòng, chống mại dâm; việc chấp hành các quy định của pháp luật về an toàn vệ sinh thực phẩm và dịch vụ lưu trú tại các cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Hoạt động bảo tàng: Tổ chức trưng bày triển lãm “Thành tựu kinh tế-xã hội tỉnh Thái Nguyên”; “Thái Nguyên - 50 năm thực hiện di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh” tại Hà Nội; triển lãm bản đồ và tư liệu; thực hiện công tác sưu tầm hiện vật; tổ chức lễ hội “Hương sắc trà xuân-Vùng chè đặc sản Tân Cương”... phục vụ 15.200 lượt khách tham quan.
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật, phát hành phim và chiếu bóng:  Tổ chức 1.071 buổi chiếu phim (1.045 buổi phục vụ các xã vùng khó khăn, đối tượng chính sách; 26 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị); phục vụ 70.155 lượt người xem.
Hoạt động biểu diễn, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở: Phối hợp tổ chức biểu diễn văn nghệ phục vụ lễ hội, sự kiện chính trị tại các huyện, thành phố, thị xã; tổ chức 112 buổi tuyên truyền, 11 buổi văn hóa trà; xây dựng 10 điểm mô hình mẫu hình hoạt động văn hoá văn nghệ, nhà văn hoá; duy trì hoạt động của các Câu lạc bộ văn hoá, nghệ thuật theo sở thích; Tổ chức 119 buổi biểu diễn nghệ thuật (23 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị, 96 buổi phục vụ vùng đặc biệt khó khăn và các dối tượng chính sách); tham gia Liên hoan sân khấu chèo chuyên nghiệp toàn quốc đạt Huy chương Bạc toàn đoàn, 01 HCV, 02 HCB cho cá nhân.
Lĩnh vực thể thao: Phong trào thể dục thể thao quần chúng được phát triển rộng khắp, thu hút đông đảo người dân tham gia với phương châm mỗi người tự chọn cho mình một môn thể thao phù hợp, góp phần tích cực nâng cao thể chất phục vụ lao động, sản xuất, học tập, công tác. Thể thao thành tích cao tiếp tục đạt được nhiều kết quả đáng kể, tiếp tục khẳng định vị thế của tỉnh trung tâm vùng các tỉnh miền núi và trung du phía Bắc.
Thể thao thành tích cao: Duy trì công tác quản lý, huấn luyện, kiểm tra  việc tập luyện của các đội tuyển. Tính đến thời điểm báo cáo, tham gia thi đấu 27/29 giải theo kế hoạch và 05 giải ngoài kế hoạch, đạt 220 huy chương (76 Huy chương vàng, 71 huy chương bạc, 73 Huy chương đồng) trong đó, có 21 huy chương quốc tế (09 Huy chương vàng, 06 Huy chương bạc, 06 Huy chương đồng) tại giải Cupcanoieng vô địch thế giới, canoeing và vật vô địch trẻ Đông Nam Á; giành 01 cờ Nhất,  03 cờ Nhì , 02 cờ Ba toàn đoàn, đội tuyển bóng đá nữ thi đấu giải cúp quốc gia xếp thứ 3 toàn quốc (chương trình xã hội hóa); 22 Vận động viên kiện tướng, 45 Vận động viên cấp I quốc gia, cung cấp 18 vận động viên cho đội tuyển quốc gia.
8. Tình hình an toàn giao thông
Theo báo cáo của cơ quan chức năng, trong tháng 12/2019 trên địa bàn xảy ra 12 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 6 người chết và 10 người bị thương. Tai nạn liên quan đến ô tô 02 vụ (16,66%); liên quan đến mô tô 8 vụ (66,66%), phương tiện khác 2 vụ (16,66%). Thiệt hại tài sản ước tính khoảng 43,1 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn tăng 01 vụ (+9,09%); số người chết tăng 1 người (+20%) và số người bị thương giảm 1 người (-9,09%).
Tình hình an toàn giao thông đường sắt 01 vụ làm 1 người chết và 1 người bị thương. So với cùng kỳ tăng 100% cả 03 tiêu chí.
Tình hình giao thông đường thủy ổn định, không xảy ra tai nạn giao thông.
Tính riêng theo quý, Quý IV/2019 có 67 vụ tai nạn giao thông, số người chết là 23 người và số người bị thương là 73 người. Quý IV là quý có số vụ, số người bị chết, bị thương do tai nạn giao thông cao nhất so với các quý trong năm 2019; So với quý IV/2018 tăng 13,5% về số vụ tai nạn; giảm 12% về số người chết, tăng 43,1% số người bị thương; Tiếp đến là quý II/2019 có 44 vụ tai nạn (-13,7%), 14 người bị chết (-22,3%) và 39 người bị thương (+15,3%); trong năm có quý I/2019 có số vụ tai nạn thấp nhất là 26 vụ, 14 người chết và 12 người bị thương.
Tính chung 12 tháng năm 2019, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 168 vụ tai nạn giao thông, làm chết 67 người và 153 người bị thương. Trong đó giao thông đường bộ là 167 vụ tai nạn và 01 vụ tai nạn giao thông đường sắt.
 So với cùng kỳ năm 2018, tai nạn giao thông đường bộ có  số vụ tai nạn giảm 2 vụ (-1,18%), số người bị chết giảm 3 người (-4,34%) và số người bị thương tăng 23 người (+8,57%). Trong đó, địa bàn xảy ra nhiều vụ tai nạn nhất là thành phố Thái Nguyên với 67 vụ (chiếm 40,1% tổng số), làm 16 người chết (chiếm 24,2%) và 58 người bị thương (chiếm 38,1%).
Tháng 12/2019 đã kiểm tra lập biên bản xử lý vi phạm 4.755 trường hợp; tước 466 giấy phép lái xe; tạm giữ 187 xe ô tô, 647 xe mô tô; 46 phương tiện khác. Số tiền xử phạt 3,8 tỷ đồng.
9. Thiệt hại do thiên tai
Từ đầu năm đến ngày 30/11/2019 toàn tỉnh đã xảy ra 13 đợt thiên tai mưa giông lốc và sấm sét (cùng kỳ là 12 đợt thiên tai), làm 8 người bị thương và có 07 người chết (trong đó có 3 người chết do bị sét đánh, 1 người chết do lũ cuốn trôi).
Thiệt hại về tài sản,như về nhà ở có 3.947 nhà bị hư hỏng, 1.536 hộ gia đình bị ngập; về giáo dục có 52 điểm trường bị ảnh hưởng; về văn hóa có 24 công trình văn hóa bị ảnh hưởng, tốc mái; về y tế có 9 bệnh viện cấp tỉnh và một số đơn vị thuộc trạm y tế cấp huyện, cấp xã bị ảnh hưởng; về chăn nuôi có 05 cơ sở chăn nuôi bị ảnh hưởng làm chết  khoảng 29 nghìn con gà, 5 con trâu bò và một số công trình về thủy lợi, giao thông, thủy sản bị ảnh hưởng, cháy 01 trạm biến áp và 03 trạm biến áp khác bị hư hỏng, bị thiệt hại.... Tổng giá trị tài sản thiệt hại do 13 đợt thiên tai gây ra ước tính khoảng trên 101,5 tỷ đồng.
Ngành chức năng đã huy động lực lượng quân đội, dân quân, lực lượng công an; cán bộ ngành điện lực và huy động các lực lượng địa phương tại chỗ nhanh chóng ứng phó với tình hình thiên tai. Khắc phục thiệt hại, vệ sinh môi trường, đảm bảo ổn định sản xuất và đời sống của nhân dân vùng bị ảnh hưởng.
10. Phòng chống cháy nổ
Các ngành chức năng của tỉnh đã tiến hành kiểm tra phòng cháy, chữa cháy tại các cơ quan đơn vị trên địa bàn toàn tỉnh; qua kiểm tra đã nhắc nhở những thiếu sót trong phòng cháy chữa cháy và lập biên bản xử lý các trường hợp vi phạm nhằm hạn chế các vụ cháy, nổ xảy ra.
Quý 4/2019 có 32 vụ cháy, giảm 22 vụ so cùng kỳ. Tính các quý trong năm 2019 thì quý 2/2019 có số vụ nhiều nhất và có 1 người chết. Chung cả năm 2019 (tính từ ngày 16/12/2018 đến 15/12/2019), trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 113 vụ cháy (giảm 58 vụ, giảm 34% so cùng kỳ), có 01 người bị chết. Ước tính tổng giá trị tài sản thiệt hại khoảng trên 9 tỷ đồng (giảm 38,1 % so cùng kỳ).
11. Vi phạm môi trường
Tính chung năm 2019, các ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra và xử lý 53 vụ vi phạm môi trường; nguyên nhân của các vụ xử lý trên là do các cơ sở sản xuất kinh doanh không thực hiện quan trắc giám sát môi trường theo đề án bảo vệ môi trường được ngành chức năng xác nhận. Tổng số tiền thu và nộp vào ngân sách nhà nước là 2,4 tỷ đồng; so với năm  2018, số vụ vi phạm đã xử lý tăng 11 vụ nhưng số tiều xử phạt và thu nộp vào ngân sách nhà nước tăng trên 1,7 tỷ đồng.
12. Phòng chống tệ nạn xã hội
Ngành chức năng hướng dẫn, chỉ đạo các địa phương triển khai công tác cai nghiện ma túy, phòng, chống tệ nạn mại dâm năm 2019. Ngành chức năng tổ chức nhiều lớp tập huấn nghiệp vụ như; 06 lớp tập huấn nâng cao năng lực về hỗ trợ giảm hại, hòa nhập cộng đồng cho cán bộ làm công tác phòng, chống mại dâm, cán bộ tham gia công tác cung cấp hỗ trợ dịch vụ cho người bán dâm với 390 đại biểu tham dự; 16 hội nghị tuyên truyền về phòng, chống ma túy học đường với 3.000 học sinh tham gia...
Toàn tỉnh đã tổ chức cai nghiện cho 1.415/1.000 người, đạt 141,5%, trong đó: Cai nghiện bắt buộc tại cơ sở Tư vấn và điều trị cai nghiện ma túy tỉnh: 386 người; cai nghiện tự nguyện tại cơ sở cai nghiện: 499 người; cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng 530 người. Điều trị methadone tại các cơ sở cai nghiện: 351 người; Phối hợp với Đội kiểm tra liên ngành 178 về phòng, chống mại dâm tỉnh đã tổ chức kiểm tra 40 cơ sở kinh doanh dịch vụ có điều kiện trên địa bàn tỉnh. Qua kiểmtra đã nhắc nhở, chấn chỉnh 26 cơ sở chưa thực hiện đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật về phòng, chống mại dâm.
III. KHÁI QUÁT LẠI VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
1. Một số kết quả nổi bật
Năm 2019 các cấp, các ngành đã tích cực triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp đề ra trong các nghị quyết, văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2019 và thực hiện quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư phát triển, cải thiện môi trường đầu tư tạo bước đột phá trong thu hút đầu tư. Từ hiệu ứng lan tỏa của Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh Thái Nguyên năm 2018, nhiều nhà đầu tư đã đến nghiên cứu, đề xuất đầu tư các dự án tại tỉnh Thái Nguyên.
Kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh đạt được kết quả tích cực. Một số chỉ tiêu chủ yếu đạt mức tăng khá so với cùng kỳ và cao hơn bình quân chung cả nước như: sản xuất ngành công nghiệp; tốc độ tăng giá trị xuất khẩu trên địa bàn; tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng; giá cả thị trường tăng thấp hơn bình quân cả nước, cung cầu hàng hóa được đảm bảo; đời sống dân cư cơ bản ổn định và phát triển. Đây là kết quả của sự chỉ đạo tập trung, quyết liệt của các cấp ủy đảng, chính quyền và sự nỗ lực của các cấp, các ngành và nhân dân trên địa bàn tỉnh.
2. Khó khăn, hạn chế
Bên cạnh những kết quả nổi bật như trên, kinh tế xã hội trên địa bàn có một số khó khăn ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh và đời sống nhân dân, trong đó tình hình bệnh dịch tả lợn Châu Phi đã ảnh hưởng đến kết quả sản xuất nông nghiệp và khó khăn cho người chăn nuôi.
Một số dự án, công trình trọng điểm còn vướng mắc về quy trình thủ tục đầu tư, chưa bảo đảm được nguồn vốn đối ứng cho dự án nên chậm triển khai thực hiện. Việc phân bổ vốn đầu tư các dự án còn xảy ra hiện tượng dàn trải, chưa tập trung, làm giảm hiệu quả đầu tư từ ngân sách nhà nước; một số dự án đầu tư còn chậm tiến độ; nhu cầu vốn của ngân sách địa phương còn thiếu để đầu tư hoàn thành các chương trình, dự án theo quy định…
3. Đề xuất giải pháp
Thực hiện các giải pháp kiểm soát dịch bệnh ở gia súc, gia cầm để ổn định sản xuất, đồng thời thực hiện công tác tái đàn hợp lý đảm bảo nguồn cung thực phẩm trong dịp lễ, tết.
Thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong xuất khẩu địa phương; thúc đẩy hơn nữa sản xuất công nghiệp, trong đó tập trung thúc đẩy tiêu thụ và sản xuất các sản phẩm công nghiệp chiếm tỷ trọng giá trị sản xuất lớn và truyền thống của địa phương như: điện thoại thông minh, máy tính bảng, sản phẩm xi măng, vonfram và sắt thép... Giải pháp đề xuất là cần chủ động tập trung tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong sản xuất kinh doanh bằng nhiều hình thức, trong đó chú trọng tổ chức gặp mặt đối thoại với doanh nghiệp, nhà đầu tư để bàn các giải pháp thúc đẩy sản xuất và đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án trên đia bàn.
Tăng cường kiểm tra, đôn đốc, theo dõi, giám sát, đánh giá quá trình giải quyết thủ tục hành chính bằng các phương thức khác nhau, thực hiện tốt việc sử dụng, ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình trao đổi, giải quyết các thủ tục hành chính theo chức năng, nhiệm vụ để góp phần tiết kiệm thời gian, chi phí và nâng cao chất lượng, hiệu suất công việc.
Đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm giải ngân. Tăng cường công tác giám sát đánh giá đầu tư và việc sử dụng vốn ngân sách nhà nước thực hiện được tốt hơn trong giai đoạn tiếp theo.
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, lao động, việc làm. Thực hiện tốt công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống. Tăng cường công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ./.

Nguồn tin: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây