Cục thống kê Thái Nguyên

https://cucthongkethainguyen.gov.vn


Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 năm 2019 tỉnh Thái Nguyên

A. KINH TẾ
I. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp
1. Trồng trọt
Hiện nay các trên toàn tỉnh cây hàng năm vụ Mùa 2019 cơ bản đã thu hoạch xong, các địa phương đang triển khai gieo trồng và chăm sóc cây vụ Đông năm 2019-2020.
* Sản xuất vụ Mùa: Do chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở một số địa phương, mặt khác do hiệu quả sản xuất cây công nghiệp hàng năm không cao, nên tính chung tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm giảm so vụ mùa 2018 và giảm hầu hết ở các loại cây trồng; riêng chỉ có nhóm cây rau, hoa cây cảnh diện tích tăng.
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Mùa 2019 (bao gồm cả cây sắn) đạt 53,47 nghìn ha, bằng 102,7% kế hoạch và giảm 0,9% (tương ứng giảm 474 ha) so với vụ Mùa năm 2018. Trong đó, cây lúa 40,2 nghìn ha, giảm 1% (tương ứng giảm 387 ha) và bằng 101,7% kế hoạch; cây ngô 4,8 nghìn ha, giảm 1% (-46 ha) và bằng 100,7% kế hoạch; cây lấy củ có chất bột giảm 12,5% (-404 ha); nhóm cây có hạt chứa dầu giảm 2,9% (- 23 ha). Riêng cây Rau diện tích gieo trồng đạt 3,5 nghìn ha, tăng 7,2% so cùng kỳ;  cây mía 163 ha, giảm 1,2% cùng kỳ.
Theo kết quả sơ bộ, năng suất các cây hàng năm vụ Mùa 2019 đều tăng so với năm trước. Ước tính năng suất Lúa vụ Mùa đạt 53,8 tạ/ha, bằng 103,4% so kế hoạch tỉnh giao, tăng 1,3% (+0,7tạ/ha) so với vụ Mùa năm 2018; sản lượng ước đạt 216 nghìn tấn, bằng 105,2% so với kế hoạch, tăng 0,4% so với cùng kỳ. Năng suất Ngô ước đạt 47,5tạ/ha, bằng 106,3% so với kế hoạch, tăng 1,3% so với cùng kỳ, sản lượng ước đạt 22,6 nghìn tấn, bằng 107% so với kế hoạch, tăng 0,3% (tương ứng tăng 65 tấn) so với vụ mùa năm 2018.
Sản lượng lương thực có hạt vụ Mùa 2019 ước đạt 238,7 nghìn tấn, bằng 105,3% kế hoạch và tăng 0,4% (tăng 834 tấn) so cùng kỳ. Sản lượng cây Rau ước đạt 58,5 nghìn tấn, tăng 7,2% cùng kỳ và bằng 114,8% kế hoạch; còn lại các cây hàng năm khác sản lượng đều giảm từ 5-15% do diện tích gieo trồng giảm.
* Sản xuất vụ Đông 2019-2020: Vụ Đông năm nay kế hoạch gieo trồng cây hàng năm chủ yếu trên địa bàn tỉnh là 11,1 nghìn ha, cao hơn so với vụ Đông năm trước. Trong đó cây ngô 4,6 nghìn ha, cây rau các loại 6,5 nghìn ha.
Tiến độ gieo trồng ước tính đến ngày 30/11/2019, toàn tỉnh gieo trồng được khoảng 12,5 nghìn ha, bằng 103,1% so với thực hiện vụ Đông năm trước. Các cây trồng theo kế hoạch giao đạt 95,5%; trong đó, cây Ngô gieo trồng ước đạt 4,5 nghìn ha, bằng 102,3% so cùng kỳ và bằng 97,8% kế hoạch; cây Rau các loại đạt khoảng 6,1 nghìn ha, bằng 93,8% kế hoạch và tăng 5,2% cùng kỳ. Cây khoai lang trồng được khoảng 1,8 nghìn ha; cây đậu tương khoảng 51 ha; cây lạc 80 ha...
* Cây lâu năm
- Cây chè: Tháng 11 thời tiết thuận lợi cho cây trồng phát triển và sinh trưởng. Trên địa bàn có mưa, cung cấp độ ẩm cho đất làm cho cây chè vẫn phát triển tốt. Một số địa phương có nguồn nước tưới đẩy mạnh sản xuất chè vụ Đông mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Công tác trồng mới và trồng cải tạo thay thế cây chè già cỗi được các địa phương triển khai. Tính đến ngày 30/11/2019 diện tích chè trồng mới và trồng lại ước đạt 943 ha, bằng 125,7% so với kế hoạch năm, giảm 14,7% so năm trước, trong đó diện tích chè trồng mới ước đạt 289 ha và trồng lại là 654 ha.
Dự ước sản lượng chè búp tươi năm 2019 đạt trên 232 nghìn tấn, tăng 3,3% so cùng kỳ năm trước.
Cây ăn quả: Diện tích cây ăn quả toàn tỉnh khoảng 16 nghìn ha, trong đó diện tích cây nhãn, vải vẫn chiếm khoảng 25%. Hiện nay một số địa phương tiếp tục nhân rộng một số mô hình trồng cây ăn quả chất lượng cao và chuyển đổi diện tích có hiệu quả kinh tế thấp sang trồng chè và cây trồng khác. Trong đó một số cây ăn quả có diện tích tăng hơn so với cùng kỳ năm trước như: Ổi diện tích hiện có là 400 ha, tăng 13,2%; cây Bưởi diện tích hiện có là 1.506 ha, tăng 10,2%...; một số cây ăn quả có diện tích giảm so với cùng kỳ như: Nhãn 1.828 ha, giảm 0,25%; Vải 1.999 ha, giảm 8,8%....
2. Chăn nuôi
 Từ đầu năm 2019 đến nay, trên địa bàn gặp nhiều khó khăn do xuất hiện dịch Lở mồm long móng và dịch tả lợn Châu phi. Trong đó gặp nhiều khó khăn chủ yếu do dịch tả lợn Châu phi làm ảnh hưởng nhiều đời sống của người chăn nuôi, công tác tái đàn thấp, ảnh hưởng đến đời sống người chăn nuôi. Các ngành chức năng tăng cường công tác kiểm dịch vận chuyển, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y, cơ sở giết mổ đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
* Tình hình dịch bệnh ở đàn gia súc và gia cầm trên địa bàn: Số lợn tiêu huỷ luỹ kế: Tính đến ngày 20/11/2019, tổng số lợn mắc bệnh, nghi mắc bệnh dịch tả lợn Châu Phi buộc tiêu hủy là 158.734 con, trọng lượng 9.256 tấn tại 17.186 hộ thuộc 2.250 thôn, xóm, 175 xã, phường, thị trấn/09 huyện, thành phố, thị xã. Tỷ lệ tiêu hủy bằng 22,6% so tổng đàn lợn cuối năm 2018.
Số ổ dịch đã qua 30 ngày:  Tổng số có 146/175 xã, phường, thị trấn của 09 huyện, thành, thị đã qua 30 ngày không có lợn mắc bệnh, chết, tiêu hủy: H. Phú Bình (19/19 xã); TP.Thái Nguyên (24/30 xã); H.Võ Nhai (15/15 xã); TX.Phổ Yên (15/18 xã); H.Đại Từ (28/30 xã); H.Định Hóa (14/24 xã); TP. Sông Công (5/9 xã); H.Đồng Hỷ (15/15 xã); H.Phú Lương (11/15 xã).
Số ổ dịch đã qua 30 ngày tái phát dịch trở lại: Có 09 xã/05 huyện (P. Gia Sàng, Tích Lương -TP.Thái Nguyên, P.Bách Quang, Bá Xuyên, Tân Quang -TP.Sông Công, xã Tân Phú - TX.Phổ Yên, xã Bộc Nhiêu, Phú Tiến - H.Định Hóa, xã Bình Thuận - H.Đại Từ).
Số xã công bố hết dịch: Tổng số có 44/175 xã, phường, thị trấn của 6/9 huyện, thành, thị đã qua 30 ngày không có lợn mắc bệnh, chết, tiêu hủy: H. Phú Bình (19/19 xã); H.Đại Từ (12/30 xã); H.Định Hóa (2/24 xã); TP. Sông Công (2/9 xã); H.Đồng Hỷ (5/15 xã); H.Phú Lương (4/15 xã).
Công tác phòng, chống dịch đã thực hiện:  Ngành chức năng tiếp tục thực hiện công tác chỉ đạo các địa phương, tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ, chủ động, kịp thời các biện pháp phòng chống Dịch tả lợn Châu Phi; thực hiện các thủ tục và chính sách hỗ trợ người chăn nuôi có lợn mắc bệnh và nghi mắc bệnh buộc tiêu hủy, hỗ trợ cho lực lượng tham gia phòng, chống dịch; giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của các địa phương trong công tác phòng, chống dịch; các ngành chức năng tăng cường giám sát dịch bệnh tới hộ chăn nuôi, cơ sở thu gom, buôn bán, cơ sở giết mổ động vật; Tổ chức thu gom, vớt xác gia súc trôi nổi ở kênh mương, đập tràn để xử lý tiêu hủy theo quy định, đảm bảo không để ô nhiễm môi trường và làm lây lan dịch bệnh; Yêu cầu các hộ chăn nuôi báo ngay cho cơ quan thú y, chính quyền địa phương khi phát hiện lợn có biểu hiện lợn bệnh (sốt, bỏ ăn); không tự ý chữa trị, mổ khám, bán chạy; xử lí nghiêm các trường hợp vi phạm trong công tác phòng chống dịch...
Công tác vệ sinh, tiêu độc khử trùng: Tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn, vận động áp dụng các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học vì đây là một trong những biện pháp được đánh giá là mang lại hiệu quả trong công tác phòng, chống bệnh Dịch tả lợn Châu phi hiện nay. Tập trung cho các cơ sở chăn nuôi có từ 10 nái trở lên, cơ sở chăn nuôi lợn giống bố mẹ, cơ sở chăn nuôi có từ 100 lợn thịt trở lên có các giải pháp để hỗ trợ như: hướng dẫn thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp an toàn sinh học, hỗ trợ cách ly, xử lý các ổ dịch xung quanh, hỗ trợ vật tư, hoá chất, hỗ trợ vác xin để tiêm phòng các bệnh khác ....
Tình hình dịch bệnh đến nay có chiều hướng lây lan chậm, số lượng lợn mắc bệnh buộc phải tiêu huỷ giảm đi rõ rệt, cụ thể: vào thời điểm tháng  6 và đầu tháng 7 bình quân trên 2.000 con/ngày (có ngày cao điểm trên 3.000 con lợn tiêu huỷ/ngày), bắt đầu từ 25/7 đến 15/8 giảm khoảng trên 1.000 con/ngày; từ 20/8 đến 30/8 số lượng giảm dần bình quân 160 con/ngày, từ 31/8 đến 30/9 bình quân 55 con/ngày, từ 01/10 đến 09/10 bình quân 20 con/ngày, từ 10/10 đến 30/10 trung bình 15 con/ngày. Tuy nhiên trong tháng có một số ổ dịch đã qua 30 ngày hiện đang tái phát dịch trở lại trên địa bàn 08 xã của 04 huyện, do đó cần tăng cường công tác theo dõi diễn biến dịch bệnh và các biện pháp phòng trừ quyết liệt tránh lây lan tái diễn.
Theo kết quả điều tra chăn nuôi thực hiện quý 3/2019, tại thời điểm 01/10/2019 tổng đàn lợn trên địa bàn toàn tỉnh là 483,9 nghìn con, giảm 31,1% (tương ứng tăng 218,6 nghìn con); đàn gà đạt 12,3 triệu con, tăng 14,9% so cùng kỳ; ngan, vịt xu hướng tăng hơn so với  cùng kỳ, do dịch bệnh trên địa bàn xảy ra trên đàn lợn nên hạn chế công tác tái đàn lợn, chuyển sang đầu tư nuôi và chăm sóc đàn vịt, ngan.
Giá bán sản phẩm chăn nuôi: Do bệnh Dịch tả lợn Châu phi lây lan nhanh trên 9/9 huyện, thành phố, thị xã nên thị trường tiêu thụ lợn bị ảnh hưởng, công tác tái đàn hạn chế; số lượng lợn bị dịch bệnh đã tiêu hủy trên 22,6% tổng đàn nên tổng đàn lợn giảm so với tổng đàn cuối năm 2018. Vì vậy giá lợn hơi trên địa bàn toàn tỉnh tăng cao, giá lợn hơi bình quân khoảng 70 nghìn đồng/kg do nguồn cung giảm mạnh; giá lợn giống bình quân khoảng  trên 95 nghìn đồng/kg, tăng 32,7% so tháng trước (tháng 10/2019), so cùng kỳ tăng 45,7%.
 3. Lâm nghiệp
Diện tích rừng trồng mới tập trung toàn tỉnh năm 2019 đạt 5.321,7 ha chủ yếu là rừng sản xuất 4.970 ha; rừng phòng hộ 351,7 ha. Trong đó, trồng rừng theo Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững được 2.554 ha, bằng 100,2% kế hoạch; trồng cây phân tán được 682,7 nghìn cây, đạt 136,5% kế hoạch năm; khoán bảo vệ rừng 28,9 nghìn ha, đạt 120,2% kế hoạch năm; chăm sóc rừng trồng 1 nghìn ha, đạt 100% kế hoạch năm.
Công tác quản lý bảo vệ rừng:  Ngành chức năng đã phối hợp thực hiện chuyên mục quản lý bảo vệ rừng. Lũy kế có 10 chuyên mục quản lý bảo vệ rừng và 27 tin bài trên sóng truyền hình và báo Thái Nguyên; chỉ đạo các đơn vị trực thuộc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tập huấn… Trong tháng đã tổ chức được 09 lớp tuyên truyền với 335 lượt người tham gia, (lũy kế 182 lớp với 8.251 lượt người tham gia).
Công tác phòng cháy chữa cháy rừng: Trong tháng trên địa bàn không có vụ cháy rừng xảy ra.  Ngành chức năng tăng cường công tác phòng cháy chữa cháy rừng mùa khô 2019-2020; Tham gia tổ đạo diễn khu vực phòng thủ huyện Võ Nhai, Đồng Hỷ; Tổ chức diễn tập phòng cháy chữa cháy rừng tại các đơn vị Ban Quản lý rừng  phòng hộ bảo vệ môi trường Hồ Núi Cốc; Các đơn vị trực thuộc tham gia diễn tập chữa cháy rừng theo kế hoạch diễn tập chiến đấu phòng thủ xã, thị trấn năm 2019.
Tình hình khai thác gỗ:  Sản lượng gỗ khai thác trong  tháng 11/2019 ước đạt  25,2 nghìn m3, tăng 12,7% so cùng kỳ. Tính chung 11 tháng sản lượng gỗ khai thác khoảng 196,9 nghìn m3, tăng 17,4% so với cùng kỳ; sản lượng củi khai thác khoảng 161 nghìn ste, tăng 9,3% so với cùng kỳ.
Kết quả xử lý vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng: Trong tháng 10/2019 đã xử lý 12 vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp; tịch thu 13 m3; phương tiện tịch thu 02 chiếc; thu nộp ngân sách nhà nước 43 triệu đồng. Lũy kế 10 tháng năm 2019 xử lý 159 vụ, giảm 34% so cùng kỳ; tịch thu 235 m3 gỗ quy tròn các loại, giảm 34,7%;  14 chiếc phương tiện;  thu nộp 1 tỷ đồng, giảm 54%  so với cùng kỳ năm 2018.
II. Sản xuất công nghiệp
Nhìn chung ngành sản xuất công nghiệp trên địa bàn đang bước vào giai đoạn tăng tốc chuẩn bị cho tiêu thụ mùa cuối năm, chỉ số tiêu thụ tháng 10/2019 tăng 45,5% so với cùng kỳ và chỉ số tồn kho giảm 16,2% so với cùng kỳ. Lượng tồn kho cụ thể của các đơn vị sản xuất công nghiệp tính đến đầu tháng 11/2019 như sau: sắt thép các loại tồn 99,4 nghìn tấn, giảm 51,9% so với cùng kỳ; xi măng tồn 99,5 nghìn tấn, giảm 30,5% so với cùng kỳ nhưng tăng 14,8% so với tháng trước; sản phẩm điện thoại thông minh và máy tính bảng tồn kho 2,2 triệu sản phẩm; sản phẩm may tồn 10,5 triệu sản phẩm, tăng 62,7%…
Với nhịp độ sản xuất và tiêu thụ như trên dự ước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tháng 11/2019 tăng 0,8% so với tháng trước. Trong đó ngành khai khoáng giảm 3,9%; công nghiệp chế biến chế tạo tăng 0,8%; cung cấp nước và hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 2,4%; sản xuất và phân phối điện tăng 2,6%.
So với cùng kỳ chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11/2019 tăng 17,4%, trong đó tăng cao nhất là nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,9%; nhóm ngành sản xuất và phân phối điện với mức tăng 15,3%. Còn lại là công nghiệp khai khoáng giảm 13,6%; ngành cung cấp nước và hoạt động quản lý và xử lý rác thải giảm 15,5%.
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất trong tháng 11/2019: Nhóm sản phẩm ước tính sản lượng tăng trên 10% so với cùng kỳ là: mạch điện tử tích hợp đạt 14,5 triệu sản phẩm, tăng 73,2%; thiết bị và dụng cụ khác trong y khoa đạt 181,7 triệu sản phẩm, tăng 43,2%; tai nghe khác đạt 5,3 triệu sản phẩm, tăng 40,7%; gạch xây dựng bằng gốm, sứ đạt 6 triệu viên, tăng 25,6%; điện sản xuất đạt 165 triệu kwh, tăng 22,2%; sắt thép các loại đạt 136,3 nghìn tấn, tăng 22,2%; xi măng đạt 235,5 nghìn tấn, tăng 20,3%; camera truyền hình đạt 4 triệu sản phẩm, tăng 15,6%; sản phẩm may đạt 8,6 triệu sản phẩm, tăng 10,1%... Nhóm sản phẩm ước tính tăng thấp hoặc giảm hơn so với cùng kỳ là: điện thương phẩm đạt 410 triệu Kwh, tăng 2%; điện thoại thông minh đạt 10,4 triệu sản phẩm, tăng 1,5% (trong đó, điện thoại dưới 3 triệu giảm 18,1%; điện thoại có giá từ 3 đến dưới 6 triệu giảm 1,8%; và điện thoại có giá từ 6 triệu trở lên tăng 47%); vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 1,2 nghìn tấn, giảm 11%; than khai thác đạt 109 nghìn tấn, giảm 16,3%; nước máy thương phẩm đạt 2,6 triệu m3, giảm 16,9%; đồng tinh quặng (Cu>20%) đạt 3,2 nghìn tấn, giảm 25,1%; máy tính bảng đạt 1,7 triệu sản phẩm, giảm 37,9%...
Tính chung 11 tháng đầu năm 2019, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 11% so với cùng kỳ. Trong đó, sản xuất phân phối điện tăng 15%; công nghiệp chế biến chế tạo tăng 11,3% (trong đó tăng cao là sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 46,1%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 44,6% và sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 20,2%); nhóm ngành công nghiệp khai khoáng giảm 7,6%; cung cấp nước và hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 12,2%.
Sản phẩm sản xuất chủ yếu tính chung 11 tháng đầu năm 2019 tăng trên 10% so với cùng kỳ năm 2018 là: camera truyền hình đạt 61,1 triệu sản phẩm, tăng 51,5%; mạch điện tử tích hợp đạt 110,4 triệu sản phẩm, tăng 50%; điện sản xuất đạt 1.581 triệu kwh, tăng 21,3%; sản phẩm may đạt 78,3 triệu sản phẩm, tăng 19,2%; xi măng đạt 2,1 triệu tấn, tăng 16,4%; thiết bị và dụng cụ khác trong y khoa đạt 1.539 triệu sản phẩm, tăng 16,4%...
Ngoài ra nhóm sản phẩm công nghiệp có sản lượng tăng thấp hoặc giảm hơn so với cùng kỳ là: nhóm điện thoại thông minh và máy tính bảng đạt 118,9 triệu sản phẩm, tăng 2%, trong đó, điện thoại thông minh đạt 103 triệu sản phẩm, tăng 7% (điện thoại có giá dưới 3 triệu đạt 42,1sản phẩm, giảm 2,4%; điện thoại có giá từ 3 đến dưới 6 triệu đạt 29,1 triệu sản phẩm, tăng 10,9%; điện thoại có giá từ 6 triệu trở lên đạt 31,8 triệu sản phẩm, tăng 18,2%), máy tính bảng đạt 15,9 triệu sản phẩm, giảm 21,6%; điện thương phẩm đạt 4.451 triệu kwh, tăng 2,7%; tai nghe khác đạt 38,6 triệu sản phẩm, giảm 3,8%; gạch xây dựng bằng gốm, sứ đạt 59,6 triệu viên, giảm 3,8%; sắt thép các loại đạt 1,2 triệu tấn, giảm 4,3%; vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 14,6 nghìn tấn, giảm 5,9%; than khai thác đạt 1,2 triệu tấn, giảm 7,3%; đồng tinh quặng đạt 38,4 nghìn tấn, giảm 11,5%; nước máy thương phẩm đạt 27,6 triệu m3, giảm 12,8%...
III. Thương mại, giá cả, dịch vụ
1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn tỉnh tháng 11 năm 2019 ước đạt 3.347 tỷ đồng, tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 14,5% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 170 tỷ đồng, tăng 11,7% cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 3.156,5 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 94,3% thị phần bán lẻ), tăng 14,7% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 20,6 tỷ đồng, tăng 13,2% so với cùng kỳ.
Nếu phân theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ tháng 11 năm 2019 ước đạt 2.583,6 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 77,2%), tăng 15,4% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 351,7 tỷ đồng, tăng 12% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ tiêu dùng còn lại ước đạt 407,3 tỷ đồng, tăng 11,3% cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành chỉ chiếm một phần rất nhỏ (đạt khoảng 4,5 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,13% trong tổng mức), tăng 10% so với cùng kỳ.
Tính chung 11 tháng năm 2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn ước đạt 34 nghìn tỷ đồng, tăng 13% so với cùng kỳ; trong đó, khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 1.790 tỷ đồng, tăng 13,6% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 32 nghìn tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 94,2% thị phần bán lẻ), tăng 13% cùng kỳ; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 191 tỷ đồng, tăng 9,2% so với cùng kỳ.
Nếu phân theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ ước đạt 26,7 nghìn tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 78,5%), tăng 13,8% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống doanh thu ước đạt 3.368,7 tỷ đồng, tăng 10,5% so với cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành chỉ chiếm rất nhỏ đạt 81,9 tỷ đồng, tăng 9,6%  và nhóm dịch vụ tiêu dùng khác ước đạt 3.867 tỷ đồng, tăng 9,7% cùng kỳ.
Trong cơ cấu doanh thu bán lẻ, tất cả các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng 11 tháng năm 2019 đều tăng. Nhóm mặt hàng đạt doanh thu bán lẻ lớn nhất là nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 8.722 tỷ đồng (chiếm 32,7% doanh thu bán lẻ), tăng 14,4% so với cùng kỳ; tiếp đến là nhóm xăng, dầu các loại ước đạt 3.179,3 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 11,9%), tăng 14,6%; nhóm đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình 3.021,6 tỷ đồng, tăng 14% cùng kỳ; nhóm ô tô các loại 2.790,6 tỷ đồng, tăng 14,6%; nhóm hàng may mặc 2.060,2 tỷ đồng, tăng 12,9%; mặt hàng đá quý, kim loại quý ước đạt 332,1 tỷ đồng, tăng 13,5% so với cùng kỳ…
2. Xuất, nhập khẩu
a. Xuất khẩu
Tổng giá trị xuất khẩu tháng 11/2019 ước đạt 2,29 tỷ USD, tăng 9,6% so với tháng trước; so với cùng kỳ tăng 1,9%; trong đó, khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 42,2 triệu USD, tăng 21,5% cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 2,25 tỷ USD, tăng 9,8% so với tháng trước và tăng 1,5% so với cùng kỳ.
Mặt hàng xuất khẩu dự tính tháng 11/2019 tăng cao so với cùng kỳ là chè các loại xuất 259 tấn với giá trị đạt 0,5 triệu USD, tăng 50,6% về lượng và tăng 78,8% giá trị; linh kiện điện tử và phụ tùng khác đạt 593 triệu USD, tăng 65,4%; kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 14,5 triệu USD, tăng 28,1%; sản phẩm may đạt 32 triệu USD, tăng 15,1%; máy tính bảng xuất 1,7 triệu sản phẩm với giá trị đạt 322 triệu USD, giảm 11,2% về lượng nhưng tăng 21,3% về giá trị… Nhóm hàng xuất khẩu tăng thấp hoặc so với cùng kỳ như: sản phẩm từ sắt thép đạt 7,1 triệu USD, giảm 2,1%; điện thoại thông minh xuất 8,1 triệu sản phẩm với giá trị đạt 1,3 tỷ USD, tăng 1,5% về lượng nhưng giảm 15,8% về giá trị; gỗ các loại đạt 0,2 triệu USD, giảm 16,5%; phụ tùng vận tải đạt 0,6 triệu USD, giảm 25,2%…
Tính chung 11 tháng đầu năm 2019 giá trị xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn ước đạt 25 tỷ USD, tăng 8,4% so với cùng kỳ, bằng 90,7% kế hoạch cả năm. Trong đó, xuất khẩu do địa phương quản lý 488 triệu USD, tăng 29,2% cùng kỳ, bằng 81,3% kế hoạch cả năm; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 24,5 tỷ USD, tăng 8% cùng kỳ và bằng 90,9% kế hoạch.
 Nhóm mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn là Nhóm sản phẩm điện thoại các loại, máy vi tính và kinh kiện điện tử ước đạt 24,2 tỷ USD (chiếm 97,5% tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn), tăng 8,3% so với cùng kỳ và bằng 99,1% kế hoạch (trong đó điện thoại thông minh đạt 94,2 triệu sản phẩm với giá trị đạt 17,7 tỷ USD, tăng 21,8% về lượng và tăng 18,3% về giá trị; máy tính bảng đạt 16,1 triệu sản phẩm với giá trị đạt 2,7 tỷ USD, giảm 15,6% về lượng và giảm 2,3% về giá trị; linh kiện và phụ tùng khác ước đạt 3,8 tỷ USD, giảm 17,9% cùng kỳ).
Ngoài ra một số mặt hàng đạt tốc độ xuất khẩu tăng cao, đóng góp vào tốc độ tăng của xuất khẩu địa phương là sản phẩm may 359 triệu USD, tăng 27,3% cùng kỳ; sản phẩm từ sắt thép đạt 77,4 triệu USD, tăng 44,7%; phụ tùng vận tải đạt 7 triệu USD, tăng 51,8%… Nhóm mặt hàng xuất khẩu tăng thấp hoặc giảm so cùng kỳ là: chè các loại đạt 1,6 nghìn tấn với giá trị đạt 2,6 triệu USD, tăng 7,3% về lượng và tăng 8% về giá trị; kim loại màu và tinh quặng kim loại màu 210,8 triệu USD, giảm 4,1%; sản phẩm từ chất dẻo đạt 45,4 triệu USD, giảm 14,5%; giấy và các sản phẩm từ giấy đạt 2,1 triệu USD, giảm 23,9%...
b. Nhập khẩu
Tổng giá trị nhập khẩu tháng 11/2019 trên địa bàn ước đạt 1,28 tỷ USD, tăng 7% so với tháng trước nhưng giảm 8,8% so với cùng kỳ; trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 13,3 triệu USD, giảm 54,8% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,27 tỷ USD, tăng 7,2% so với tháng trước nhưng giảm 7,9% so với cùng kỳ (do giảm nhập khẩu máy móc).
Nhóm mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tháng 11/2019 tăng hơn so với cùng kỳ là giấy các loại đạt 0,7 triệu USD, tăng 77,5%; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 3,3 triệu USD, tăng 34,6%; nguyên phụ liệu dệt may đạt 1 triệu USD, tăng 11,1%... Nhóm mặt hàng nhập khẩu chủ yếu giảm so cùng kỳ như: nguyên liệu và linh kiện điện tử đạt 1,24 tỷ USD, giảm 3,3%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 15,8 triệu USD, giảm 10,4%; vải các loại đạt 9,5 triệu USD, giảm 17,7%; sản phẩm từ sắt thép đạt 2,7 triệu USD, giảm 40,6% cùng kỳ; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 5,4 triệu USD, bằng 39,4%...
Tính chung 11 tháng đầu năm 2019, tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn ước đạt 14,11 tỷ USD, tăng 6,1% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 223,9 triệu USD, giảm 10,2%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 13,88 tỷ USD, tăng 6,4% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 98,4% tổng giá trị nhập khẩu.
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ là: máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 120,3 triệu USD, tăng 74,9%; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 38,3 triệu USD, tăng 22,7%; giấy các loại đạt 5,9 triệu USD, tăng 21,3%; vải và nguyên, phụ liệu dệt may đạt 155,2 triệu USD, tăng 13,8%; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 119,4 triệu USD, tăng 8,8%; nguyên liệu và linh kiện điện tử đạt 13,5 tỷ USD, tăng 6,9%;... Nhóm hàng hóa nhập khẩu chủ yếu có giá trị đạt thấp hơn so với cùng kỳ là: sản phẩm từ sắt thép đạt 36,8 triệu USD, bằng 47,7%...
3. Giá tiêu dùng
Tháng 11 năm 2019 do giá một số mặt hàng tiêu dùng chủ yếu như: thịt lợn, xăng và ga tiếp tục tăng cao nên chỉ số giá tiêu dùng chung trong tháng 11/2019 tăng 2,08% so với tháng trước và tăng 5,16% so với cùng kỳ. Bình quân 11 tháng năm 2019 tăng 2,25% so với bình quân cùng kỳ.
So với tháng trước, có 5/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, trong đó, tăng cao là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,31%, trong đó: nhóm thực phẩm tăng 7,81% (do giá thịt lợn tăng 20,04%; giá mỡ lợn và chất béo khác tăng 10,59%; giá thịt chế biến tăng 10,97%;  thịt gia cầm tăng 10,58%); nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,23% (nhóm  may mặc tăng 0,3%; nhóm giày dép tăng 0,22%); nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,15% (nhóm giải trí tăng 1,81%; nhóm hoa, cây cảnh tăng 3,31%); nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng nhẹ 0,06%...Còn lại có 3 nhóm có chỉ số giá giảm so với tháng trước là nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,46%; nhóm giao thông giảm 0,44%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,03%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác như: nhóm đồ uống và thuốc lá; thuốc và dịch vụ y tế; nhóm giáo dục là có chỉ số giá tương đương so với tháng trước.
So với cùng kỳ (tháng 11/2018), chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2019 tăng 5,16%. Có 8/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có chỉ số giá tăng, trong đó nhóm chỉ số giá tăng cao nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 11,96% (trong đó, giá thực phẩm tăng 16,13%; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 5,43%); nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 9,56% (trong đó nhóm dịch vụ y tế tăng 13,35%); nhóm nhà ở, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,73%; nhóm giáo dục tăng 3,1%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,43%...Còn lại 3/11 nhóm có chỉ số giá giảm như: nhóm giao thông giảm 3,21% (do giá nhiên liệu giảm 5,03%); nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,38% (trong đó nhóm thiết bị điện thoại giảm 2,46%); nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,28%.
So với tháng 12/2018, chỉ số giá tiêu dùng tăng 5,84%. Có 9/11 nhóm có chỉ số giá tăng. Trong đó, tăng nhiều nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 13,45% (do giá thực phẩm tăng 18,13%; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 5,43%); nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,7% (do giá điện và dịch vụ điện tăng 12,16%; nhóm nhà ở thuê và nhà chủ sở hữu tăng 4,98%); nhóm giáo dục tăng 3,04%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 2,98%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,41%; nhóm giao thông tăng 1,47%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,74%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,11%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,05%. Con lại 2/11 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm nhẹ trong khoảng 0,14% như: nhóm đồ uống, thuốc lá và nhóm bưu chính viễn thông.
Chỉ số giá vàng tháng 11/2019 giảm 0,41% so với tháng trước, tăng 18,42% so với tháng 12/2018 và tăng 18,89% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá vàng bình quân 11 tháng năm 2019 tăng 7,88% so với bình quân cùng kỳ.
Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 11/2019, tương đương so với tháng trước, giảm 0,44% so với tháng 12 năm 2018 và giảm 0,48% so với cùng kỳ. Chỉ số giá Đô la Mỹ bình quân 11 tháng năm 2019 tăng 1,18% so với bình quân cùng kỳ.
4. Vận tải
- Vận tải hành khách:  Hành khách vận chuyển tháng 11/2019 ước đạt 2 triệu lượt khách với khối lượng luân chuyển là 112,6 triệu hành khách.km, tăng 11,8% so với cùng kỳ về khối lượng hành khách vận chuyển và tăng 10% về khối lượng luân chuyển.
Tính chung 11 tháng năm 2019 hành khách vận chuyển ước đạt 18,4 triệu lượt người, tăng 9,5% so với cùng kỳ (trong đó, vận tải đường thủy 270 nghìn hành khách, tăng 11,1%), hành khách luân chuyển ước đạt 1.046 triệu hành khách.km, tăng 8,8% so cùng kỳ.
- Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 11/2019 ước đạt 3,9 triệu tấn với khối lượng luân chuyển ước đạt 161,4 triệu tấn.km; so với cùng kỳ tăng 8,9% về khối lượng vận chuyển và tăng 10% về khối lượng luân chuyển.
Tính chung 11 tháng năm 2019, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 38,7 triệu tấn, tăng 8,1% so với cùng kỳ về khối lượng hàng hóa vận chuyển; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 1.547,5 triệu tấn.km, tăng 8,4% so cùng kỳ.
- Doanh thu vận tải trên địa bàn tháng 11/2019 ước đạt 438,8 tỷ đồng, tăng 11,7% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 83,4 tỷ đồng, tăng 12,1% so cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 321,2 tỷ đồng, tăng 11,7% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 34,1 tỷ đồng, tăng 10,4% so với cùng kỳ.
Tính chung 11 tháng năm 2019, doanh thu vận tải trên địa bàn ước đạt 4.166,3 tỷ đồng, tăng 11,3% so cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hàng hóa chiếm tỷ trọng cao nhất (73,5%) và đạt 3.062,7 tỷ đồng, tăng 11,2% so cùng kỳ; doanh thu vận tải hành khách đạt 756,9 tỷ đồng, tăng 12,2%; doanh thu từ dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 346,7 tỷ đồng, tăng 10,4% cùng kỳ.
IV. Thu, chi ngân sách
1. Thu ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tính chung Mười tháng năm 2019 đạt 12.399,2 tỷ đồng, tăng 10,1% so cùng kỳ và bằng 82,7% dự toán cả năm. Trong tổng thu, thu trong cân đối ngân sách nhà nước đạt 12.350,1 tỷ đồng, tăng 10% so với cùng kỳ và bằng 82,3% so với dự toán cả năm; thu quản lý qua ngân sách đạt 49,2 tỷ đồng.
Trong tổng thu cân đối, thu nội địa đạt 10.043 tỷ đồng, tăng 14,7% so với cùng kỳ và bằng 86,2% so với dự toán cả năm; thu hoạt động xuất nhập khẩu 2.307 tỷ đồng, giảm 6,8% so với cùng kỳ và bằng 68,9 % so với dự toán cả năm 2019.
Trong thu nội địa, có 6/14 khoản thu đã thu vượt dự toán và tăng so với cùng kỳ như: Thu từ doanh nghiệp nhà nước trung ương và địa phương  đạt 997,5 tỷ đồng, tăng 2,8% so dự toán và tăng 26,6% so cùng kỳ; thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đạt 17,4 tỷ đồng, bằng 115,9% kế hoạch năm và tăng 7,2% so cùng kỳ; thu tiền cho thuê đất đạt 546,9 tỷ đồng, bằng 143,9% dự toán năm, tăng gấp 2,2 lần so cùng kỳ; thu lệ phí trước bạ đạt 393,6 tỷ đồng, bằng 106,4% kế hoạch năm, tăng 20,4% so cùng kỳ; thu phí lệ phí đạt 234 tỷ đồng tăng 17% so kế hoạch và tăng 59,8% cùng kỳ; thu cấp quyền khai thác khoáng sản đạt 423,7 tỷ đồng, tăng gấp 2,8 lần dự toán năm và tăng gấp 3,1 lần so cùng kỳ.
Có 3/14 khoản thu đạt thấp so với cùng kỳ như: Thu từ khu vực dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 1,2 nghìn tỷ bằng 66,4% dự toán  và giảm 19,3% so cùng kỳ; thu ngân sách xã đạt 3,1 tỷ đồng, bằng 76,3% dự toán năm và đạt 27,3% so cùng kỳ.
2. Chi ngân sách địa phương
 Tổng chi ngân sách địa phương trên địa bàn tính chung Mười tháng  năm 2019 đạt 9.579,4 tỷ đồng, tăng 8,1% so với cùng kỳ và bằng 64,4% dự toán cả năm, trong đó chi cân đối ngân sách địa phương đạt 8.863 tỷ đồng tăng 12,1% so cùng kỳ và bằng 65% dự toán cả năm; chi chương trình mục tiêu quốc gia đạt 716,4 tỷ đồng, tăng 25% so cùng kỳ và bằng 57,8% dự toán cả năm.
Trong chi cân đối ngân sách địa phương, chi đầu tư phát triển đạt 2.518,1 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 28,5% trong chi cân đối), tăng 27,5% so cùng kỳ, bằng 78,3% dự toán cả năm; chi thường xuyên đạt 6.344,9 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng  71,5% trong chi cân đối), tăng 7% so cùng kỳ, bằng 76,5% dự toán năm.
Trong tổng chi thường xuyên có 8/11 khoản chi tăng so cùng kỳ như: chi lớn nhất là chi sự nghiệp giáo dục đào tạo và dạy nghề đạt 2.505,5 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 39,4% tổng chi thường xuyên), tăng 9,4% so cùng kỳ, bằng 69,1% dự toán cả năm; chi sự nghiệp khoa học và công nghệ đạt 31,8 tỷ đồng, tăng 26,7% so cùng kỳ và bằng 79,2% dự toán năm; chi sự nghiệp văn hóa thông tin, thể dục thể thao đạt 140,8 tỷ đồng, tăng 37,6% so cùng kỳ và bằng 76,6% dự toán năm; chi sự nghiệp kinh tế  đạt 748 tỷ đồng, tăng 17% so cùng kỳ, bằng 84,7% dự toán năm; chi quản lý hành chính đạt 1.353 tăng 5,7% so cùng kỳ và bằng 85,2% dự toán; chi sự nghiệp bảo vệ môi trường đạt 242,3 tỷ đồng, tăng 21,6% so cùng kỳ và bằng 64,6% dự toán năm.
Có 3/11 khoản chi đạt thấp hơn so cùng kỳ như: Chi sự nghiệp y tế, dân số đạt 735,5 tỷ  đồng, bằng 86% dự toán, giảm 8,8% so cùng kỳ; chi đảm bảo xã hội đạt 284,1 tỷ đồng, giảm 3,6% so cùng kỳ; chi quốc phòng an ninh đạt 173,8 tỷ đồng, giảm 8,3% so cùng kỳ.
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin tuyên truyền
 Trong tháng 11/2019 ngành chức năng tiếp tục triển khai thực các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, luân chuyển sách phục vụ nhân dân đặc biệt là đồng bào vùng sâu, vùng xa, các đối tượng chính sách được thực hiện đảm bảo kế hoạch đề ra. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, xây dựng Nông thôn mới, “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” tiếp tục được triển khai, thực hiện; Các hoạt động tuyên truyền văn nghệ, thể thao chào mừng kỷ niệm Ngày đại đoàn kết toàn dân tộc (18/11), Ngày nhà giáo Việt Nam (20/11), Di sản văn hoá Việt Nam (23/11) được tổ chức sôi nổi; tiếp tục thực hiện công tác giới thiệu, quảng bá du lịch Thái Nguyên trên các phương tiện truyền thông.
Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm: Tiến hành kiểm tra việc thực hiện quảng cáo của 20 tổ chức, cá nhân trên địa bàn thành phố Thái Nguyên và 02 buổi biểu diễn nghệ thuật; Công tác kiểm tra các hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá, du lịch đã chấn chỉnh kịp thời các hành vi sai phạm, góp phần tích cực đưa các cơ sở kinh doanh hoạt động theo đúng quy định.
Hoạt động bảo tàng: Thực hiện công tác kiểm kê bảo quản tại Không gian văn hóa Trà, phòng trưng bày truyên đề “Bác Hồ với Thái Nguyên”, “Di sản văn hóa Thần Sa và Tiềm năng thiên nhiên Thái Nguyên”; sắp xếp bảo quản hiện vật sưu tập đá tại hang Ốc xã Bình Long, huyện Võ Nhai; thực hiện đăng ký hiện vật vào sổ kiểm kê bước đầu, đánh số vào sổ trên 200 đơn vị tài liệu, hiện vật về mẹ Việt Nam anh hùng và Đại đội 915 Thanh niên xung phong Bắc Thái; đón tiếp hơn 600 lượt khách tham quan (50 khách nước ngoài).
Hoạt động phát hành phim và chiếu bóng: Thực hiện 81 buổi chiếu phim (65 buổi phục vụ xã vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn; 16 buổi phục vụ đối tượng chính sách), phục vụ 5.265 lượt người xem.
 Hoạt động thư viện: Cấp, đổi 52 thẻ mới, phục vụ 2.858 lượt bạn đọc, luân chuyển 5.092 lượt sách báo; thực hiện 04 cuộc giới thiệu sách trên Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh. Hoàn thành xử lý nghiệp vụ sách cho 30 xã đặc biệt khó khăn tại các huyện Định Hóa, Võ Nhai, Đại Từ; hướng dẫn các xã xây dựng thư viện, tủ sách. Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả phong trào “Xây dựng thư viện và môi trường văn hóa đọc xanh - sạch - đẹp - thân thiện”.
 Hoạt động Khu di tích lịch sử và sinh thái ATK - Định Hoá: Thực hiện đảm bảo kế hoạch công tác lập hồ sơ khoa học, nghiên cứu sưu tầm, bổ sung tài liệu, hiện vật và trưng bày, triển lãm; các dự án đầu tư xây dựng, phục hồi, tu bổ di tích; bảo tồn sinh thái - cảnh quan và môi trường; tuyên truyền quảng bá và bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hoá gắn với phát triển du lịch; đón tiếp 246 đoàn với hơn 18.296 lượt khách tham quan.
Hoạt động thể thao: Phong trào thể dục thể thao quần chúng tiếp tục được tổ chức rộng khắp, thu hút đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia; tham gia thi đấu các môn thể thao (bắn nỏ, đẩy gậy, tung còn) tại chương trình du lịch “Qua những miền di sản Việt Bắc” đạt 17 huy chương (08 huy chương vàng, 05 Huy chương bạc, 04 Huy chương đồng). Tổ chức giải quần vợt cấp tỉnh, tập huấn trọng tài các môn võ, quần vợt; chuẩn bị tổ chức giải võ cổ truyền, vovinam, karatedo, taekwondo.
Thể thao thành tích cao: Duy trì công tác quản lý, huấn luyện,kiểm tra  việc tập luyện của các đội tuyển; đạt 71 huy chương (27 Huy chương vàng, 23 huy chương bạc, 21 Huy chương đồng), cờ Nhì toàn  đoàn tại giải Cúp canioeing Câu lạc bộ toàn quốc. Các đội tuyển (wushu, cử tạ, muay) tập luyện tham gia thi đấu các giải toàn quốc theo kế hoạch.
2. Thực hiện chính sách Người có công; công tác giảm nghèo, bảo trợ xã hội, chăm sóc trẻ em và lao động việc làm.
Thực hiện chính sách người có công: Phối hợp Bưu điện tỉnh thực hiện Đề án thí điểm chi trả trợ cấp ưu đãi đối với Người có công với Cách mạng qua hệ thống Bưu điện trên địa bàn; Hướng dẫn, chỉ đạo Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh thực hiện tổng kết công tác điều dưỡng tập trung năm 2019 và xây dựng kế hoạch năm 2020…
Công tác giảm nghèo, bảo trợ xã hội: Tổ chức Đoàn liên ngành của tỉnh kiểm tra, giám sát kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2019 tại các huyện, thành phố, thị xã; Tổ chức Hội nghị tập huấn một số nội dung, chính sách trợ giúp xã hội cho người cao tuổi  và quy định mức quà tặng chúc thọ, mừng thọ người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; Tiếp tục đôn đốc các địa phương triển khai, thực hiện rà soát, phân loại lập hồ sơ ra quyết định trợ cấp xã hội hàng tháng cho các đối tượng Bảo trợ xã hội tại cộng đồng và vào nuôi dưỡng tập trung tại cơ sở bảo trợ xã hội; theo dõi tổng hợp tình hình cứu trợ tại các địa phương trên địa bàn tỉnh..
Công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em: Tổ chức 09 lớp tập huấn nghiệp vụ về công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em tại 09 huyện, thành phố, thị xã; Tiếp tục triển khai các hoạt động của dự án Plan trong quý IV năm 2019; Phối hợp với doanh nghiệp tổ chức chương trình “Samsung đồng hành” tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại huyện Đồng Hỷ.
  Lao động việc làm: Tổ chức 01 hội nghị đối thoại các cấp với người sử dụng lao động, người lao động về chính sách pháp luật lao động, An toàn vê sinh lao động; Tiếp tục triển khai thực hiện Dự án 3 thuộc Chương trình mục tiêu Giáo dục nghề nghiệp – Việc làm và an toàn lao động năm 2019.
3. Y tế
Công tác phòng chống dịch và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm được duy trì triển khai. Tính chung từ đầu năm đến 20/11/2019, trên địa bàn tỉnh có 156 ca mắc bệnh Quai bị, giảm 184 ca so cùng kỳ (cùng kỳ 2018 là 340 ca); có 119 ca Sốt phát ban dạng sởi/rubella; chân tay miệng là 266 ca (cùng kỳ 2018 là 274 ca);  ho gà 09 ca (cùng kỳ 3 ca); có 4 ca tử vong do bệnh dại; sốt xuất huyết 134 ca.
Riêng 20 ngày đầu  tháng 11/2019 đã phát hiện 2 ca sốt phát ban dạng sởi, giảm 1 ca so cùng kỳ;  tay chân miệng 12 ca (cùng kỳ 23 ca); sốt xuất huyết 17 ca, tăng hơn cùng kỳ (3 ca).
Công tác an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng 11 không có vụ ngộ độc thực phẩm tập thể xảy ra. Ngành chức năng duy trì triển khai đến từng địa phương công tác an toàn vệ sinh thực phẩm.
Công tác khám chữa bệnh: Trong 11 tháng 2019, các hoạt động khám chữa bệnh, thực hiện quy chế chuyên môn tại các bệnh viện, trạm y tế được duy trì và quan tâm đối với khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, đối tượng chính sách, trẻ em dưới 6 tuổi.
Dân số và trẻ em: 10 tháng năm 2019, tổng số trẻ mới sinh ra là 14.388 trẻ (tăng 672 trẻ so với cùng kỳ 2018), trong đó có 7.501 trẻ en nam; 6.887 trẻ em nữ; tỷ số giới tính khi sinh (số trẻ trai/100 trẻ gái)  là 108,9/100. Số trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên là 1.695 trẻ (tăng 377 trẻ so với cùng kỳ năm 2018), chiếm 11,8% tổng số trẻ sinh; Trong đó, huyện Phú Bình có 471 trẻ và là địa phương có trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên cao nhất so với các địa phương khác, huyện Đại Từ có 250 trẻ; thành phố Thái Nguyên 212 trẻ; còn lại các địa phương khác cũng đều từ 100 trẻ đến dưới 200 trẻ được sinh ra là con thứ ba trở lên.
Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn: Tính đến 31/10/2019 số người nhiễm lũy tích là 10.336 người; trong đó chuyển giai đoạn AIDS lũy tích là 6.778 người; số tử vong do HIV/AIDS lũy tích là 3.521 người. Riêng trong tháng 10/2019 có 15 người mới được phát hiện; chuyển giai đoạn AIDS là 4 người; số tử vong do HIV/AIDS là 5 người.
4. Giáo dục
Trong tháng 11/2019 Ngành chức năng đã tổ chức triển khai, thực hiện nghiêm túc khung kế hoạch thời gian năm học 2019-2020.
Tháng 11 các trường học trên địa bàn tỉnh đã tổ chức Lễ kỷ niệm và các hoạt động văn hóa thể thao nhằm tri ân và tôn vinh các nhà giáo và chào mừng 37 năm Ngày Nhà giáo Việt nam (20/11/1982-20/11/2019).
Kết quả xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia: Thực hiện đề án xây dựng hệ thống trường đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 2016-2020, theo báo cáo tổng kết năm học 2019-2020  tháng 11/2019, toàn tỉnh có 564/683 trường đạt chuẩn quốc gia đạt tỷ lệ 82,58% (về trước 2 năm so với chỉ tiêu Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh giao); Trong đó: Mầm non có 189/240 trường đạt tỷ lệ 78,8 %; Tiểu học: 208/219 trường đạt tỷ lệ 94,98%; THCS có 147/191 trường đạt tỷ lệ 76,9%; THPT có 20/33 trường đạt tỷ lệ 60,6%.
5. Tình hình an toàn giao thông
 Trong tháng 11/2019 ngành chức năng phối hợp tổ chức chương trình giao lưu, tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật về trật tự an toàn giao thông cho người dân trên địa bàn và đã phổ biến, hướng dẫn người dân các kỹ năng lái xe an toàn, cách xử lý các tình huống gặp phải khi tham gia giao thông.
  Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh Thái Nguyên, trong tháng 11/2019 (tính từ 16/10/2019 đến 15/11/2019) trên địa bàn xảy ra 38 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 12 người chết và 44 người bị thương. Tai nạn liên quan đến ô tô 8 vụ (21,05%); liên quan đến mô tô 27 vụ (71%), khác 3 vụ (7,89%). Thiệt hại tài sản ước tính khoảng 142 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2018 số vụ tai nạn tăng 11 vụ (+40,74%); số người chết tương đương và số người bị thương tăng 19 người (tương ứng tăng 76,0%). Không xảy ra tai nạn giao thông trên đường sắt, đường thủy.
Tính chung 11 tháng năm 2019, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 155 vụ tai nạn giao thông, làm chết 60 người và 142 người bị thương. So với cùng kỳ năm 2018 số vụ tai nạn giảm 3 vụ (-1,9%), số người bị chết giảm 4 người (giảm 6,2%) và số người bị thương tăng 13 người (tăng 10,1%). Trong đó, địa phương xảy ra nhiều vụ tai nạn nhất là thành phố Thái Nguyên với 65 vụ (chiếm 41,9% tổng số), làm 15 người chết (chiếm 25%) và 56 người bị thương 9 (chiếm 39,4% tổng số); tiếp đến là Thị xã Phổ Yên với 23 vụ tai nạn; huyện Đại Từ 20 vụ và các địa phương còn lại dưới  từ 4 đến dưới 20 vụ tai nạn.
Trong tháng 11/2019 ngành chức năng đã kiểm tra lập biên bản xử lý vi phạm 5.091 trường hợp; tước 482 giấy phép lái xe; tạm giữ 184 xe ô tô, 629 xe mô tô; 68 phương tiện khác. Số tiền xử phạt 4,4 tỷ đồng.
6.  Phòng chống cháy nổ
Các ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra phòng cháy, chữa cháy tại các cơ quan đơn vị trên địa bàn toàn tỉnh; qua kiểm tra đã nhắc nhở những thiếu sót trong phòng cháy chữa cháy và lập biên bản xử lý các trường hợp vi phạm nhằm hạn chế các vụ cháy, nổ xảy ra.
Trong tháng 11 năm 2019 trên địa bàn tỉnh xảy ra 7 vụ cháy, không có vụ nổ nào xảy ra, trong đó có 3 vụ cháy xảy ra tại Thành phố Thái Nguyên, 01 vụ cháy tại thị xã Phổ Yên, 01 vụ cháy tại huyện Phú Bình và 01 vụ xảy ra ở Thành Phố Sông Công, 01 vụ tại huyện Võ Nhai.  Các vụ cháy xảy ra không có thiệt hại về người, không có người bị thương. Giá trị tài sản thiệt hại ước tính khoảng 1 tỷ đồng.
Tính chung 11 tháng năm 2019, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 100 vụ cháy, không có thiệt hại về người và làm 1 người bị thương. Ước tính tổng giá trị tài sản thiệt hại khoảng 8,2 tỷ đồng.
7. Vi phạm môi trường
 Trong tháng 11 năm 2019 ngành chức năng trên địa bàn tỉnh đã kiểm tra không có vụ vi phạm nào xảy ra.
Tính chung trong 11 tháng 2019, các ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra và xử lý 44 vụ vi phạm môi trường. Nguyên nhân chủ yếu là do các cơ sở sản xuất kinh doanh không thực hiện quan trắc giám sát môi trường theo đề án bảo vệ môi trường được ngành chức năng phê duyệt. Tổng số tiền thu và nộp vào ngân sách nhà nước là 2,2 tỷ đồng.
Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên dự ước tháng 11 và 11 tháng năm 2019.

Nguồn tin: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây