Báo cáo tình hình kinh tế xã hội quý I năm 2019 tỉnh Thái Nguyên

Thứ bảy - 30/03/2019 10:12
Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh trong quý I năm 2019 vẫn duy trì mức tăng so với cùng kỳ trên hầu hết các ngành, lĩnh vực. Hoạt động thương mại dịch vụ phát triển tốt; chỉ số giá tiêu dùng tăng hợp lý; mặt bằng lãi suất tín dụng thuận lợi cho sản xuất; các chính sách xã hội được quan tâm, thực hiện đầy đủ, công tác an sinh xã hội, chăm lo đời sống nhân dân tiếp tục được bảo đảm, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi năm 2019; chương trình chung tay vì người nghèo được triển khai sâu rộng đã góp phần tạo điều kiện ổn định và cải thiện đời sống dân cư; trật tự an toàn xã hội được giữ vững … Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, nhịp độ sản xuất công nghiệp và xuất khẩu đang tăng chậm lại và thấp hơn so với mức tăng của bình quân chung cả nước do sản xuất của các dự án lớn đã đi vào ổn định; ngành chăn nuôi gặp khó khăn do dịch bệnh nên ảnh hưởng đến mức tiêu thụ sản phẩm; sản xuất vụ Đông giảm so cùng kỳ… là những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sản xuất nông nghiệp trên địa bàn; trật tự an toàn giao thông được kiểm soát nhưng tai nạn giao thông đang tăng hơn so với cùng kỳ.
A. KINH TẾ
I. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản và xây dựng nông thôn mới
1. Trồng trọt
- Kết quả sản xuất vụ Đông: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông 2018-2019 đạt 13,76 nghìn ha, giảm 1,6% (giảm 226 ha) so vụ Đông năm trước; trong đó, 2 cây trồng chủ lực là ngô và rau đạt diện tích 10,9 nghìn ha (chiếm 79,5% tổng diện tích gieo trồng vụ Đông), giảm 0,2% (so vụ Đông năm trước và bằng 100,2% kế hoạch (vụ Đông chỉ giao kế hoạch cho cây ngô và cây rau các loại).
Cây ngô diện tích đạt 4,66 nghìn ha, giảm 6,4% (tương ứng giảm 318 ha), bằng 101,4% kế hoạch. Cây rau các loại diện tích đạt 6,28 nghìn ha, tăng 5% (tương ứng tăng 298 ha) so với vụ Đông năm trước và xấp xỉ đạt kế hoạch; cây khoai lang đạt 1,9 nghìn ha, giảm 6% (-125 ha) so cùng kỳ; khoai tây đạt 274 ha, giảm 33,7% (-139 ha); cây đỗ tương đạt 62 ha, tăng 24,2% (+12 ha) so cùng kỳ; cây lạc đạt 82 ha, tăng 2% (+2 ha) so cùng kỳ.
 Về năng suất, sản lượng: Cây ngô năng suất đạt 43,36 tạ/ha, đạt xấp xỉ kế hoạch và tăng 0,52 tạ/ha so với cùng kỳ; tuy nhiên do diện tích giảm nên sản lượng ngô đạt 20,2 nghìn tấn, giảm 5,3% (tương ứng giảm 1,12 nghìn tấn) so với vụ Đông năm trước. Cây rau các loại đạt sản lượng 105,2 nghìn tấn, tăng 5,1% so với vụ Đông năm trước; khoai lang ước đạt 13,9 nghìn tấn, giảm 5,5% so vụ Đông năm trước; khoai tây đạt 3,9 nghìn tấn, giảm 31,2%; đỗ tương đạt 98 tấn, tăng 23,8% so cùng kỳ; sản lượng lạc đạt 130 tấn, tăng 3,8%...
- Tiến độ gieo trồng cây hàng năm vụ Xuân: Vụ xuân năm nay thời tiết ấm, thuận lợi cho công tác gieo trồng, không xảy ra tình trạng rét đậm như mọi năm nên ngành chức năng chỉ đạo các địa phương điều chỉnh khung thời vụ, trên 98% diện tích lúa đều cấy sau tiết lập xuân, 2% cấy trà lúa xuân chính vụ.
Hiện nay các địa phương đang tiếp tục gieo trồng cây màu vụ Xuân và  chăm sóc diện tích lúa; điều tiết nguồn nước tưới. Tuy nhiên, vụ Xuân năm nay thời tiết ấm, có tổng số giờ nắng và nhiệt độ giai đoạn đầu vụ cao hơn so với bình quân các năm trước nên cây lúa sẽ phát triển nhanh, khả năng sẽ làm đòng và trổ bông sớm hơn, sâu bệnh có xu hướng phát triển; ngành chức năng đã phối hợp chặt chẽ với các địa phương kiểm tra, nắm tình hình diễn biến dịch hại trên đồng ruộng để có các biện pháp phòng trừ hiệu quả.
Tính đến hết tháng 3/2019, tổng diện tích gieo trồng các cây trồng chính trong vụ Xuân 2019 đạt 43,7 nghìn ha; trong đó diện tích lúa Xuân đạt khoảng 30 nghìn ha, xấp xỉ diện tích lúa Xuân năm 2018 và bằng 103,5% kế hoạch; Diện tích cây màu vụ Xuân đạt gần 14 nghìn ha, thấp hơn 4% so với tiến độ cùng kỳ và bằng 74% kế hoạch; trong đó, cây ngô 5,1 nghìn ha, bằng 71,8% kế hoạch trong vụ và bằng 90% tiến độ cùng kỳ; cây rau các loại đạt khoảng 3,2 nghìn ha, bằng 77% kế hoạch, tăng 1,5% so cùng kỳ; cây khoai lang đạt 790 ha, tăng 7,8% so cùng kỳ; cây lạc đạt 2,1 nghìn ha, tăng 12% so cùng kỳ; cây sắn ước đạt 2,2 nghìn ha, giảm 12,6% so cùng kỳ.
- Cây lâu năm: Nhìn chung cây lâu năm sinh trưởng và phát triển tốt.
Đối với công tác trồng mới chè: Các địa phương đang tập trung chuẩn bị mặt bằng đất và chăm sóc vườn ươm giống cây. Toàn tỉnh có 53 vườn ươm đã cắm hom với tổng số hom cắm khoảng 76 triệu hom bằng các giống LDP1, Kim tuyên, Tri 777 và một số giống chè khác.
Cây ăn quả: Dự kiến năm 2019 diện tích cây ăn quả trồng mới tiếp tục tăng ở một số cây như: Thanh long, Na, bưởi diễn...Thời tiết từ đầu năm đến nay ấm, có mưa xuân nên nhìn chung các loại cây trồng lâu năm trên địa bàn tỉnh đều phát triển tốt và đang nẩy lộc, ra hoa như cây nhãn, vải, xoài..
- Tình hình sâu bệnh: tính đến thời điểm giữa tháng 3/2019 diện tích nhiễm sâu bệnh trên cây lúa khoảng 80 ha và cao hơn so cùng kỳ. Các loại sâu bệnh như rầy, sâu cuốn lá, đục nõn và ốc bươu vàng... mật độ gây hại thấp; trên cây chè, tổng diện tích nhiễm sâu bệnh khoảng 22 ha, thấp hơn so với cùng kỳ, các loại sâu bệnh chủ yếu là bệnh phồng lá chè (xuất hiện nhiều ở huyện Đồng Hỷ), còn lại các đối tượng gây hại như rầy xanh, bọ cánh tơ, bọ xít muỗi mật độ thấp. Ngành chức năng đã chỉ đạo các địa phương thường xuyên theo dõi, phát hiện và phòng trừ kịp thời.
2. Chăn nuôi
- Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc
Tình hình bệnh Lở mồm long móng (LMLM): Trên đàn lợn bệnh lở mồm long móng đã xuất hiện trên địa bàn tỉnh từ đầu tháng 12/2018 ở phường Lương Sơn, TP Sông Công, sau đó phát sinh thêm ở 8/9 địa phương khác (riêng huyện Đại Từ chưa có lợn mắc bệnh); tính đến ngày 13/2/2019 tổng số có 65 hộ thuộc 30 xã có lợn mắc bệnh buộc tiêu hủy là 894 con với tổng khối lượng tiêu hủy 47 tấn. Toàn bộ 30/30 xã, thị trấn đã qua 21 ngày; trong tháng 3/2019 không phát sinh bệnh LMLM. Dịch bệnh LMLM đã được các cơ quan thú y và chính quyền địa phương khống chế.
Tình hình bệnh Dịch tả lợn Châu phi: Ngày 05/3/2019 bệnh Dịch tả lợn Châu Phi bắt đầu được phát hiện tại 01 hộ thuộc xóm Giữa, xã Úc Kỳ, huyện Phú Bình với tổng số lợn mắc bệnh là 52 con (05 lợn nái, 01 lợn thịt và 46 lợn con) với biểu hiện lợn ốm, sốt cao, bỏ ăn, một số lợn đã chết. Cơ quan chức năng đã tiến hành lấy mẫu bệnh phẩm gửi xét nghiệm cho kết quả dương tính với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi. Sau đó được phát hiện tiếp ở 2 địa phương là Phổ Yên và Sông Công.
Tính từ ngày 5/3 đến ngày 22/3/2019 có 03 địa phương là huyện Phú Bình, Thị xã Phổ Yên và Thành phố Sông Công có lợn dương tính với Dịch tả lợn Châu Phi của 04 hộ ở 04 xóm, 3 xã và 1 phường ở 3 địa phương trên. Đã xử lý các ổ dịch, buộc tiêu hủy toàn bộ 349 con lợn mắc bệnh và nghi mắc bệnh với  khối lượng 22,1 tấn (tiêu hủy 112 con lợn mắc bệnh với khối lượng trên 7,8 tấn; tổng số lợn ốm, chết, nghi mắc bệnh Dịch tả lợn Châu Phi tại các hộ liền kề ổ dịch, trong vùng dịch buộc tiêu hủy là 237 con lợn với trọng lượng trên 14,3 tấn); đồng thời phun thuốc và rắc vôi bột để khử trùng, tiêu độc tại các gia đình đã tiêu hủy lợn.
Để ngăn chặn sự lây lan của bệnh dịch tả lợn châu Phi, hiện nay công tác phòng, chống dịch đang được cơ quan chức năng và chính quyền địa phương tích cực triển khai thực hiện; đến ngày 22/3/2019 đã thành lập 37 Chốt Kiểm dịch động vật tạm thời (04 chốt cấp tỉnh, 33 chốt cấp huyện); 08 đội kiểm tra liên ngành (01 đội cấp tỉnh, 07 đội cấp huyện). Thực hiện quản lý chặt chẽ việc kiểm dịch, cấp giấy chứng nhận kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật; tiếp tục thực hiện công tác tiêu độc khử trùng nhằm tiêu diệt mầm bệnh với tổng số hóa chất đã sử dụng là 15,2 nghìn lít, 262 tấn vôi bột.
Nhận định tình hình và giải pháp triển khai: Dịch bệnh tả lợn Châu phi xuất hiện ở tỉnh Thái Nguyên có tính chất rải rác, ngoài ra xuất hiện một số hộ có lợn ốm chết tại các địa phương nhưng mẫu xét nghiệm cho kết quả âm tính với bệnh tả lợn. Trong thời gian tới, thời tiết vẫn có ẩm độ cao nên thuận lợi cho dịch, vẫn còn nguy cơ phát sinh và lây lan. Lãnh đạo tỉnh Thái Nguyên đã thực hiện kiểm tra thực địa và chỉ đạo quyết liệt; ngành chức năng và các địa phương thực hiện giám sát tình hình dịch bệnh đến tận các hộ chăn nuôi, cơ sở thu gom, buôn bán, cơ sở giết mổ động vật; chuẩn bị đầy đủ kinh phí, vật tư, dụng cụ, bảo hộ phục vụ công tác phòng chống dịch và thực hiện hỗ trợ thiệt hại cho các hộ chăn nuôi có lợn tiêu hủy theo quy định; giao UBND cấp xã thực hiện cam kết  “5 không” trong phòng chống dịch…  
Kết quả tiêm vác xin đợt I năm 2019: Một số địa phương đã triển khai tiêm phòng bệnh LMLM cho gia súc với tổng số 162,8 nghìn liều vắc xin; còn một số loại vắc xin khác ngành chức năng đã triển khai kế hoạch tiêm và đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời  lượng vắc xin cho các địa phương theo kế hoạch.
  • Sản Lượng thịt hơi xuất chuồng: Quý I năm 2019 là thời điểm trùng vào tháng Tết Kỷ Hợi 2019 nên sản lượng tiêu thụ thịt hơi xuất chuồng tăng cao, tăng nhiều nhất là thịt lợn và thịt gà. Dự ước sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý I/2019 ước đạt 49 nghìn tấn, tăng 4,5% so cùng kỳ. Trong đó, thịt trâu hơi xuất chuồng khoảng 1,1 nghìn tấn, thịt bò hơi xuất chuồng khoảng 905 tấn; thịt lợn hơi xuất chuồng đạt khoảng 33,6 nghìn tấn, tăng 4% so cùng kỳ; thịt gia cầm hơi xuất chuồng đạt 13,7 nghìn tấn, tăng 6,5% so cùng kỳ.
Tính chung Quý I/2019, chỉ số giá bán sản phẩm của người chăn nuôi lợn giảm do ảnh hưởng tâm lý tiêu dùng của dịch bệnh trên đàn lợn; tuy nhiên so với cùng kỳ, giá bán sản phẩm chăn nuôi vẫn đang cao hơn trên 30%.
Chỉ số giá bán sản phẩm chăn nuôi của người sản xuất Quý I/2018 giảm 5,37% so với quý trước; trong đó giá bán thịt lợn hơi giảm 12,42%; gia cầm tăng 3,33% so với quý 4/2018. Nhưng nếu so với cùng kỳ (quý 1/2018), giá bán sản phẩm chăn nuôi Quý I/2019 vẫn tăng 32,22% (thịt lợn hơi tăng 54,7% và thịt gà hơi tăng 15,6%).
Tính riêng tháng 3/2019 chỉ số giá sản phẩm chăn nuôi giảm 1,54% so với tháng trước (thịt lợn giảm 4,14%; thịt gà tăng 4,88%). So với cùng kỳ giá bán sản phẩm chăn nuôi tăng 30,6% (thịt lợn hơi tăng 24,5%; thịt gà tăng 8,9%).
3. Lâm nghiệp
Công tác trồng rừng: Ngành chức năng đang chuẩn bị hiện trường, thẩm định thiết kế trồng rừng, xử lý thực bì, cuốc hố, chuẩn bị cây giống cho công tác trồng rừng năm 2019; rà soát diện tích đất đủ điều kiện đưa vào thiết kế trồng rừng với diện tích 2.500 ha theo kế hoạch.
Trồng cây phân tán: Các địa phương đồng loạt triển khai Tết trồng cây trong dịp đầu xuân 2019. Đến nay đã trồng được 535 nghìn cây phân tán các loại bao gồm cây bóng mát, cây ăn quả và cây lâm nghiệp.
Tình hình khai thác lâm sản: Trong quý I năm 2019, dự ước sản lượng gỗ khai thác đạt 36,8 nghìn m3, tăng 2,8% so với cùng kỳ, củi khai thác ước đạt 43,1 nghìn ste, tăng 2,4%. Riêng tháng 3/2019 khai thác ước đạt 10 nghìn m3 gỗ các loại, tăng 2,8% so cùng kỳ, củi  khai thác khoảng 12,1 nghìn ste, tăng 3,1%.
Công tác quản lý và bảo vệ rừng: Từ đầu năm 2019 đến nay trên địa bàn  toàn tỉnh không xảy ra cháy rừng. Trong quý I/2019 trên địa bàn tỉnh đã phát hiện, xử lý 50 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, giảm 35% (tương ứng giảm 27 vụ) so cùng kỳ, tịch thu 50m3 gỗ quy tròn các loại, giảm 50% so cùng kỳ và thu 06 phương tiện các loại... thu nộp ngân sách nhà nước 313 triệu đồng, giảm 24% so quý I/2018.
4. Thủy sản
Các địa phương tiếp tục chăm sóc, phòng bệnh cho thủy sản và tiêu thụ cá giống cung cấp cho thả cá năm 2019. Dự ước đến hết tháng 3 năm 2019 sản xuất cá bột đạt hơn 190 triệu con, cá giống 3,8 triệu con và sản lượng thủy sản thu hoạch ước đạt 5 nghìn tấn.
5. Tiến độ thực hiện Chương trình MTQG Xây dựng nông thôn mới
Tính đến đầu năm 2019, toàn tỉnh có 91 xã đạt 19 tiêu chí, đạt tỷ lệ 63,6% tổ số xã, trong đó có 68 xã đạt chuẩn nông thôn mới (bao gồm cả 04 xã đã chuyển thành phường, thị trấn); 22 xã đã được thẩm định đang hoàn thiện hồ sơ và 01 xã mới đề nghị thẩm định trong Quý I/2019.
Trên địa bàn tỉnh còn lại 52 xã chưa đạt 19 tiêu chí. Cụ thể như sau: Đạt 16 tiêu chí có 03 xã; đạt 15 tiêu chí có 04 xã; đạt 10-14 tiêu chí có 41 xã; có 2 huyện Định Hóa và Võ Nhai còn 4 xã mới đang đạt 9 tiêu chí (huyện Định Hóa 02 xã, huyện Võ Nhai 02 xã). Tính chung, bình quân các xã trên địa bàn tỉnh đạt 16,6 tiêu chí/xã và cao hơn bình quân chung cả nước.
Năm 2019 tỉnh Thái Nguyên đặt ra mục tiêu xây dựng nông thôn mới là: có 11 xã đạt chuẩn Nông thôn mới; thị xã Phổ Yên hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; tiếp tục xây dựng 09 xã nông thôn mới kiểu mẫu giai đoạn 2016-2020; 09 xóm nông thôn mới kiểu mẫu; duy trì, nâng cao chất lượng tiêu chí đối với những xã đã công nhận đạt chuẩn nông thôn mới theo tiêu chí xã nâng cao và xã nông thôn mới kiểu mẫu; tăng số tiêu chí đạt chuẩn với các xã còn lại...
II. Công nghiệp
Lượng tồn kho các sản phẩm công nghiệp chủ lực tính đến đầu tháng 3/2019 tuy tăng cao so với cùng kỳ nhưng đã giảm nhiều so với tháng trước (trong đó, điện thoại thông minh và máy tính bảng tồn 10,6 triệu cái, giảm 18,5% so với tồn kho tháng trước; sắt thép tồn 187,2 nghìn tấn, giảm 2,3%; sản phẩm may tồn 9,5 triệu sản phẩm, tăng 1,4%...), nên nhịp độ sản xuất công nghiệp trong tháng Ba tăng cao so tháng trước, thúc đẩy Quý I/2019 tăng cao hơn so với tốc độ tăng của 2 tháng đầu năm 2019.
Dự ước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tháng 3/2019 tăng 26,7% so với tháng trước và tăng 7,9% so với cùng kỳ; trong đó ngành khai khoáng tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,1%. Riêng 2 ngành sản xuất và phân phối điện, nước giảm so cùng kỳ (sản xuất và phân phối điện giảm 0,7% do sản xuất điện giảm; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 4,6%).
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất tháng 3/2019: hầu hết các sản phẩm đều có sản lượng sản xuất tăng cao so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ chỉ có một số ngành hàng chủ lực tăng trên 7% đóng góp vào tốc độ tăng công nghiệp so cùng kỳ là: mạch điện tử tích hợp đạt 9,7 triệu sản phẩm, cao gấp 2,5 lần cùng kỳ; điện thoại thông minh sản xuất tháng 3/2019 ước đạt 7 triệu cái, tăng 7,5% so cùng kỳ (trong đó nhóm điện thoại tầm trung có giá bán trên 6 triệu đồng/1 sản phẩm đạt 2,26 triệu cái, tăng 11% so cùng kỳ và điện thoại có giá từ 6 triệu trở xuống đạt 4,7 triệu cái, tăng 6% so cùng kỳ); đá khai thác đạt 345 nghìn m3 tăng 81%; quặng sắt và tinh sắt chưa nung đạt 152 nghìn tấn, tăng 25,7%; gạch xây dựng bằng gốm sứ đạt 5,9 triệu viên, tăng 11,2% cùng kỳ; camera truyền hình đạt 7,3 triệu sản phẩm, tăng 16,1%; phân phối điện (điện thương phẩm) đạt 370 Tr.Kwh, tăng 7,9%... Nhóm sản phẩm sản xuất trong tháng 3/2019 tăng dưới 7% hoặc giảm so cùng kỳ là: đồng tinh quặng đạt 3,8 nghìn tấn, tăng 1,6%; máy tính bảng 1,4 triệu cái, giảm 3%; than sạch khai thác đạt 124,4 nghìn tấn, giảm 19,4%; xi măng 128,9 nghìn tấn, giảm 23,2%; sắt thép các loại đạt 123,5 nghìn tấn, giảm 10,2%; Vonfram và sản phẩm của Vonfram 1,4 nghìn tấn, giảm 13,5%; tai nghe khác đạt 1,6 triệu sản phẩm, giảm 67,5%; sản phẩm may 6,3 triệu sản phẩm, giảm 1,9%...
Tính chung Quý I năm 2019, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước (thấp hơn mức tăng 12,3% của Quý I/2018). Trong đó, ngành khai khoáng tăng 7,5%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,6%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước tăng 3,9%; riêng ngành cung cấp nước, quản lý, xử lý rác thải, nước thải giảm 7,9%.
Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất Quý I/2019 tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Khai thác quặng kim loại tăng 19,3%; khai khoáng khác tăng 30,9%; sản xuất trang phục tăng 30%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 20,6%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 6,2%; bên cạnh đó nhóm sản xuất giảm là: sản xuất kim loại giảm 18,4%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại giảm 1%... 
Nếu tính theo giá so sánh năm 2010, Giá trị sản xuất công nghiệp Quý I/2019 trên địa bàn ước đạt 144 nghìn tỷ đồng, bằng 19,4% kế hoạch cả năm (Quý I/2018 đạt 20% kế hoạch). Trong đó, khu vực công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 134,1 nghìn tỷ đồng (chiếm 93,1% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh), tăng 6,4% so với cùng kỳ và bằng 19,2% kế hoạch cả năm; khu vực công nghiệp trong nước đạt xấp xỉ 10 nghìn tỷ đồng, tăng 8,4% cùng kỳ và bằng 21,3% kế hoạch cả năm (bao gồm: công nghiệp địa phương là 5,76 nghìn tỷ đồng, tăng 14% so cùng kỳ và bằng 20,3% kế hoạch; công nghiệp nhà nước Trung ương 4,15 nghìn tỷ đồng, tăng 1,5% cùng kỳ và bằng 23% kế hoạch).
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu tính chung Quý I năm 2019: nhóm các sản phẩm tăng trên 5% so với cùng kỳ và đạt trên 20% kế hoạch cả năm là: sản phẩm may 21 triệu sản phẩm, tăng 30% cùng kỳ và bằng 29,2% kế hoạch; mạch điện tử tích hợp đạt 23,4 triệu sản phẩm, tăng 17,9% và bằng 25,9% kế hoạch; camera truyền hình đạt 21,5 triệu sản phẩm, tăng 67,3%, bằng 32,3% kế hoạch; điện thương phẩm đạt 1.102 Tr.Kwh, tăng 5,2% so với cùng kỳ và bằng 21,5% kế hoạch; quặng sắt và tinh sắt chưa nung đạt 439,2 nghìn tấn, tăng 19,3%; đá khai thác đạt 1,06 triệu m3, tăng 44,3%; đồng tinh quặng (Cu>20%) đạt 11,2 nghìn tấn, tăng 13,7%...
Nhóm sản phẩm dự ước sản xuất trong Quý I/2019 tăng dưới 5% hoặc giảm so cùng kỳ và đạt dưới 20% kế hoạch cả năm như: điện sản xuất đạt 426,4 Tr.Kwh, tăng 3,3% cùng kỳ; than sạch khai thác đạt 343,2 nghìn tấn, giảm 6,4% và bằng 21,3% kế hoạch; xi măng đạt 441,3 nghìn tấn, giảm 6,6% và bằng 18,7% kế hoạch; sắt thép các loại đạt 291,5 nghìn tấn, giảm 22,6% và bằng 18,3% kế hoạch; tai nghe khác đạt 6 triệu sản phẩm, giảm 52,1% cùng kỳ và mới đạt 5,9% kế hoạch...
Riêng nhóm sản phẩm điện thoại thông minh và máy tính bảng ước đạt 25,74 triệu sản phẩm, chỉ đạt tương đương sản lượng cùng kỳ và bằng 21% kế hoạch cả năm (trong đó, điện thoại thông minh ước đạt 21,7 triệu sản phẩm, tăng 2% so cùng kỳ và bằng 22,4% kế hoạch; máy tính bảng ước đạt 4 triệu sản phẩm, giảm 10,2% cùng kỳ và bằng 15,7% kế hoạch). Cơ cấu sản phẩm điện thoại sản xuất Quý I/2019 như sau: nhóm điện thoại có giá từ 3 đến dưới 6 triệu đạt 4,4 triệu cái, giảm 26,9% cùng kỳ; trong khi đó tăng sản lượng sản xuất ở dòng sản phẩm dưới 3 triệu đồng và trên 6 triệu đồng/1 sản phẩm (nhóm điện thoại có giá dưới 3 triệu đồng/1 sản phẩm, sản xuất khoảng 11,8 triệu cái, tăng 15,8% cùng kỳ; nhóm điện thoại có giá trên 6 triệu trở lên đạt 5,5 triệu cái, tăng 8,9% cùng kỳ và đóng góp vào tốc độ tăng chung của ngành công nghiệp trên địa bàn).
III. Hoạt động Tài chính, ngân hàng
1. Thu, chi ngân sách
- Thu ngân sách nhà nước: Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh 2 tháng đầu năm 2019 đạt 2.181 tỷ đồng, giảm 9% so với cùng kỳ và bằng 14,5% so với dự toán cả năm. Trong đó thu nội địa đạt 1.816,3 tỷ đồng, giảm 8,3% so với cùng kỳ và bằng 15,6% so với dự toán; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 348 tỷ đồng, giảm 16,5% so với cùng kỳ và bằng 10,4% so với dự toán cả năm 2018.
Trong thu nội địa, có 8 trong tổng số 14 khoản thu tăng so với cùng kỳ, trong đó Thu từ doanh nghiệp Nhà nước trung ương và địa phương đạt 260,4 tỷ đồng, cao gấp 2,1 lần so cùng kỳ; thu tiền cấp quyền sử đụng đất đạt 260,9 tỷ đồng, tăng 51,8%; thu cấp quyền khai thác khoáng sản đạt 54,3 tỷ đồng,  gấp 5,3 lần cùng kỳ; thu lệ phí trước bạ đạt 100,7 tỷ đồng, tăng 26,4%; còn lại các khoản thu tăng dưới 10% như thu từ hoạt động xổ số đạt 1,8 tỷ đồng, thu phí lệ phí đạt 42,3 tỷ đồng.
Các khoản thu đạt thấp hơn so với tháng 2/2018 như: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; thu từ khu vực dịch vụ ngoài quốc doanh; thuế thu nhập cá nhân; thu tiền cho thuê đất; thuế bảo vệ môi trường; thu khác ngân sách.
Ước tính Quý I/2019, tổng thu nội địa đạt 2.958 tỷ đồng, bằng 25,4% dự toán cả năm.
- Chi ngân sách địa phương: Tổng chi cân đối ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh hai tháng đầu năm 2019 đạt 1.550 tỷ đồng,  tăng 52,4% so với cùng kỳ và bằng 10,4% dự toán cả năm, trong đó chi đầu tư phát triển 526 tỷ đồng (chiếm 34,5% trong tổng chi cân đối ngân sách địa phương), tăng gấp 2,4 lần so với cùng kỳ và bằng 16,3% dự toán cả năm; chi thường xuyên đạt 998,1 tỷ đồng (chiếm 65,5%), tăng 25,1% so với cùng kỳ và bằng 12% dự toán cả năm.
Trong tổng chi thường xuyên, chi lớn nhất là chi sự nghiệp giáo dục đào tạo và dạy nghề đạt 405,9 tỷ đồng (chiếm 41%), tăng 8,9% so với cùng kỳ và bằng 11,2% dự toán cả năm; chi quản lý hành chính đạt 259,5 tỷ đồng (chiếm 26%),  tăng 4,3% so với cùng kỳ và bằng 16,3% so với dự toán cả năm; chi sự nghiệp kinh tế đạt 130,5 tỷ đồng, tăng 2,3 lần; chi khác ngân sách đạt 27 tỷ đồng, tăng 15 lần… Nhìn chung, chi thường xuyên 2 tháng đầu năm 2019 đã đáp ứng được các yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương, đảm bảo tốt công tác an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh tỉnh trong dịp Tết Nguyên đán.
2. Ngân hàng
- Lãi suất: Lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam của các tổ chức tín dụng ổn định so với năm trước, phổ biến ở mức 0,8-1%/năm đối với lãi suất huy động tiền gửi kỳ hạn dưới 1 tháng; từ 4,5-5,3%/năm đối với kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; từ 5,3-8%/năm đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên; một số ngân hàng huy động kỳ hạn trên 12 tháng lãi suất trên 8%/năm.
Về lãi suất cho vay bằng Việt Nam đồng, tương đối ổn định so với năm 2018; đối với các lĩnh vực ưu tiên là 6,5%/năm. Lãi suất cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,8%-9%/năm đối với ngắn hạn, từ 9%-11%/năm đối với trung và dài hạn.
- Nguồn vốn huy động của các Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng (chưa bao gồm nguồn vốn ngân hàng phát triển) đến 28/02/2019 đạt 56.624,8 tỷ đồng, tăng 2.635 tỷ đồng (tỷ lệ tăng 4,88% so với 31/12/2018). Ước đến 31/3/2019 đạt 57.000 tỷ đồng, tăng 5,58% so với 31/12/2018. Nguồn vốn NH Phát triển khu vực Bắc Kạn - Thái Nguyên là 1.474 tỷ đồng, giảm 41 tỷ đồng (tỷ lệ giảm 2,71% so với 31/12/2018) 
- Dư nợ cho vay của các Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng (chưa bao gồm nguồn vốn ngân hàng phát triển) đến 28/02/2019 đạt 50.761 tỷ đồng, tăng 294 tỷ đồng (tỷ lệ tăng 0,58%) so với 31/12/2018. Ước đến 31/3/2019 đạt 51.000 tỷ đồng, tăng 1,05% so với 31/12/2018. Ngân hàng Phát triển khu vực Bắc Kạn - Thái Nguyên dư nợ là 4.134 tỷ đồng, giảm 7,85% so với 31/12/2018.
- Nợ xấu đến 28/02/2019 là 432 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,85%/tổng dư nợ.
IV. Xây dựng - Vốn đầu tư
1. Vốn đầu tư
Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn Quý I/2019 đạt khoảng 9 nghìn tỷ đồng, giảm 28% so với cùng kỳ và giảm chủ yếu ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài do các doanh nghiệp lớn đã đi vào sản xuất ổn định.
Trong tổng số, vốn đầu tư của khu vực kinh tế trong nước Quý I/2019 ước đạt 4,8 nghìn tỷ đồng (chiếm 53,3%), tăng 40,7% cùng kỳ (bao gồm: vốn nhà nước quản lý đạt 835 tỷ đồng (chiếm 9,3%), tăng 40,7%; vốn đầu tư của khu vực ngoài nhà nước (doanh nghiệp, cá thể và hộ dân cư) đạt gần 4 nghìn tỷ đồng, tăng 40,7% so với cùng kỳ); khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước thực hiện đầu tư khoảng 4,2 nghìn tỷ đồng (chiếm 46,7% tổng mức đầu tư Quý I/2019 trên địa bàn), giảm 53,8% so cùng kỳ.
2. Tình hình thu hút đầu tư
Sau Hội nghị Xúc tiến đầu tư, tỉnh Thái Nguyên đã thu hút được 64 dự án của 45 nhà đầu tư với tổng số vốn đăng ký đầu tư đạt khoảng 114 nghìn tỷ đồng. Để triển khai nội dung các Dự án đã thống nhất ký kết, tăng cường phối hợp chặt chẽ, khẳng định sự quyết tâm giữa tỉnh Thái Nguyên với các Nhà đầu tư, nên các ngành chức năng có liên quan đã tạo điều kiện giải quyết các thủ tục hành chính nhanh nhất theo quy định, đồng thời đôn đốc, phối hợp với Nhà đầu tư hoàn thiện hồ sơ, thủ tục trình cấp có thẩm quyền... Ban chỉ đạo đã trực tiếp làm việc với 25 nhà đầu tư (33 dự án); định kỳ thường xuyên đối thoại, tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắt, đề ra các giải pháp đẩy nhanh tiến độ, sớm đưa các dự án đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
 Tính chung từ đầu năm đến ngày 15/ 3/2019, trên địa bàn có thêm 03 dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, tổng vốn đăng ký là 16 triệu USD (so với thời điểm cùng kỳ số dự án mới tương đương, nhưng vốn đăng ký tăng 23%). Các dự án này đều thuộc ngành công nghiệp chế biến chế tạo.
Tính lũy kế đến thời điểm báo cáo, trên địa bàn hiện có 132 dự án FDI được cấp phép đăng ký và còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đầu tư đạt trên 7,63 tỷ USD, trong đó có 35 dự án FDI có tăng vốn đăng ký, tăng thêm là 41,4 triệu USD so với vốn đăng ký ban đầu.
3. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Tính từ đầu năm đến ngày 15/3/2019 toàn tỉnh cấp mới đăng ký kinh doanh cho 122 doanh nghiệp với số vốn đăng ký là 715 tỷ đồng. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới là 2.216 người. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 5,8 tỷ đồng. Bên cạnh đó, trong 3 tháng đầu năm 2019 có 72 doanh nghiệp tạm ngừng đã hoạt động trở lại.
Trong tổng số doanh nghiệp đăng ký mới trong Quý I/2019, thành phố Thái Nguyên có số doanh nghiệp đăng ký mới nhiều nhất với 67 doanh nghiệp (chiếm 55%); tiếp đến là thị xã Phổ Yên 19 doanh nghiệp; Đại Từ 13 doanh nghiệp và Sông Công 11 doanh nghiệp…
Tuy nhiên, trong 3 tháng đầu năm 2019 trên địa bàn tỉnh có 185 doanh nghiệp, chi nhánh tạm ngừng hoạt động (gồm 180 doanh nghiệp và 5 chi nhánh doanh nghiệp) và 101 doanh nghiệp, chi nhánh đóng mã số thuế (gồm 75 doanh nghiệp và 26 chi nhánh doanh nghiệp đóng mã số thuế). So với cùng kỳ, số doanh nghiệp xin tạm ngừng hoạt động cao hơn và số doanh nghiệp đóng mã số thuế thấp hơn.
Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo xu hướng tổng quan về tình hình sản xuất kinh doanh chế biến, chế tạo: có 57% doanh nghiệp dự báo xu hướng trong quý tới thực hiện tốt lên so với quý I/2019; 32,3% số doanh nghiệp dự báo giữ nguyên và 10,7% số doanh nghiệp dự báo sản xuất kinh doanh giảm hơn so với Quý I/2019.
4. Xây dựng
Giá trị sản xuất xây dựng thực hiện Quý I/2019 do các đơn vị xây dựng thường trú trên địa bàn thực hiện đạt 5.215 tỷ đồng, tăng 21,1% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 4.514,6 tỷ đồng, chiếm 86,6%, tăng 10,1% so cùng kỳ (khối doanh nghiệp thực hiện 2.250 tỷ đồng, tăng 12,5% cùng kỳ và loại hình xây dựng khác, bao gồm cả cá thể, hộ dân cư, xây dựng xã phường, thị trấn thực hiện 2.264,6 tỷ đồng, tăng 7,8% cùng kỳ); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 700 tỷ đồng.
V. Thương mại, giá cả, dịch vụ
1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn tỉnh tháng 3 năm 2019 ước đạt 2.943 tỷ đồng, tương đương so với tháng trước, nhưng tăng 14,2% so với cùng kỳ. Trong đó khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 161,5 tỷ đồng, tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 16,8% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 2.766,8 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 94% thị phần bán lẻ), tương đương so với tháng trước, nhưng tăng 14,1% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 14,7 tỷ đồng, tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 8,7% so với cùng kỳ.
Tính chung quý I/2019 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội đạt khoảng 9 nghìn tỷ đồng, tăng 12,4% so với quý I/2018 (nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì mức tăng là 9,5%). Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước bán lẻ đạt 477,8 tỷ đồng (chiếm 5,3% tổng mức bán lẻ), tăng 15,2%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 8.444,7 tỷ đồng (chiếm 94,2%), tăng 12,3%. Còn lại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 44,2 tỷ đồng (toàn bộ là từ dịch vụ lưu trú và dịch vụ khác), tăng 8% so với cùng kỳ.
Nếu phân theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ Quý I năm 2019 đạt khoảng 7.214 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 80,5% tổng số), tăng 13,4% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 812 tỷ đồng (chiếm 9,1% trong tổng mức), tăng 8,4% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ tiêu dùng còn lại ước đạt 934 tỷ đồng (chiếm 10,4% tổng số), tăng 8,5% so với cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành chỉ chiếm một phần rất nhỏ (đạt 6,7 tỷ đồng, chiếm 0,07% tổng mức và tăng 8,1% so với cùng kỳ).
Trong cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hóa Quý I/2019, nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 2.393 tỷ đồng (chiếm 33,2% trong tổng mức bán lẻ), tăng 14% so với cùng kỳ; nhóm xăng dầu các loại ước đạt 845 tỷ đồng (chiếm 11,7%), tăng 14,4% so với cùng kỳ; nhóm đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình ước đạt 816,3 tỷ đồng, tăng 13,7% so với cùng kỳ; nhóm hàng may mặc đạt 564 tỷ đồng (chiếm 7,8% tổng mức), tăng 11,2% cùng kỳ; mặt hàng đá quý, kim loại quý 87 tỷ đồng, tăng 12,4%; nhóm ô tô các loại ước đạt 756,1 tỷ đồng, tăng 14,9% so với cùng kỳ; nhóm phương tiện đi lại ước đạt 506,5 tỷ đồng, tăng 13,6% so với cùng kỳ…
2. Giá tiêu dùng
Trong quý I/2019 trên địa bàn có xuất hiện dịch bệnh trên đàn gia súc nên đã ảnh hưởng đến tâm lý người tiêu dùng, dẫn đến giá thịt lợn giảm tác động đến chỉ số giá tiêu dùng chung trên địa bàn.
Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng 3 tháng đầu năm 2019 như sau: Tháng 1 chỉ số giá tiêu dùng tăng 0,02% so với tháng trước; tháng 2 tăng 0,89%; bước sang tháng 3/2019, chỉ số giá tiêu dùng giảm 0,43% so với tháng trước, chủ yếu giảm ở nhóm thực phẩm, đồ uống, may mặc, mũ nón…nhưng tăng 2,61% so với cùng kỳ năm trước; tăng 0,48% so với tháng 12/2018.  Bình quân Quý I/2019 chỉ số giá tiêu dùng tăng 2,66% so với bình quân cùng kỳ.
So với tháng trước, chỉ có 5/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm nhẹ trong khoảng từ  0,03% đến 2,46%. Trong đó giảm nhiều nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 2,46% (do nhóm thực phẩm giảm như thịt gia súc tươi sống giảm 6,32%); tiếp đến nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,27% (do quần áo may sẵn giảm, giày dép giảm); còn lại 3 nhóm giảm trong khoảng từ 0,03% đến 0,1% như nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,1%, nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,03%, nhóm đồ dùng và dịch vụ khác giảm 0,02%. Có 6/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng, trong đó tăng nhiều nhất là nhóm Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,19% (do nhà ở thuê tăng 3,3%, điện sinh hoạt tăng 1,32%, nước sinh hoạt tăng 2,61%); nhóm Giao thông tăng 1,47% (do giá xăng dầu tăng 5,25%); còn lại 4/11 nhóm tăng nhẹ trong khoảng từ 0,08% đến 0,03% như: nhóm  thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,03%, nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%, nhóm giáo dục tăng 0,06%, nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,08%.
So với cùng kỳ (tháng 3/2018), chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2019 tăng 2,61%.  Có 8/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có chỉ số giá tăng, trong đó nhóm chỉ số giá tăng cao nhất là nhóm Nhà ở và vật liệu xây dựng
tăng 4,66% (do giá nhà ở thuê tăng 8,31%, giá gas và các loại chất đốt
tăng 5,09%); nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,89% (do giá thực phẩm tăng 4,39% như thịt gia súc tăng tươi sống tăng 11,84%; giá rau tươi, khô tăng 9,79%...); nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 3,16% (do thuốc các loại tăng 0,66%, giá dịch vụ y tế tăng 4,18%, trong đó khám chữa bệnh nội trú tăng 7,04%); nhóm giáo dục tăng 3,4% (do đồ dùng học tập và văn phòng tăng 4,37%, dịch vụ giáo dục tăng 3,18%), còn lại 4/11 nhóm tăng trong khoảng từ 4/11 nhóm tăng trong khoảng  0,96% đến 1,49% như nhóm đồ dùng và dịch vụ khác tăng 1,49%, nhóm may mặc tăng 1,47%, nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,13%, nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,96%. Còn lại 3 nhóm có chỉ số giá giảm từ 0,5% đến 2,08% như: Nhóm Giao thông giảm 2,08% (do phương tiện đi lại giảm 1,09%, nhiên liệu xăng dầu giảm 4,62%); nhóm  bưu chính viễn thông giảm 1,49% (do thiết bị điện thoại giảm 8,34%); nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,5%.
So với tháng 12/2018, chỉ số giá tiêu dùng tăng 0,48%. Chỉ có 5/11 nhóm có chỉ số giá tăng. Trong đó, tăng nhiều nhất là nhóm Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 3,91% (do điện và dịch vụ điện tăng 3,34%, nhà ở thuê tăng 5,53%), còn lại 3/11 nhóm tăng nhẹ trong khoảng 0,09% đến 0,36% như nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,36%, nhóm giáo dục tăng 0,09%, nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%. Còn lại 5/11 nhóm giảm nhẹ trong khoảng từ 0,04% đến 1,14% như nhóm  giao thông giảm 1,44% (do phương tiện đi lại và giá nhiên liệu xăng dầu giảm..), nhóm may mặc giảm 0,29%, nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,04%... còn lại nhóm  đồ uống và thuốc lá tương đương tháng trước.
Chỉ số giá vàng: chỉ số giá vàng tháng 3/2019 giảm 0,14% so với tháng trước và giảm 0,17% so với cùng kỳ năm trước; bình quân Quý I/2019 tăng 0,1% so bình quân cùng kỳ.
Chỉ số giá Đô la Mỹ: Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 3/2019 tăng 0,05% so tháng trước và tăng 2,02% so cùng kỳ năm trước; bình quân Quý I/2019 tăng 2,16% so với cùng kỳ.
3. Xuất, nhập khẩu
a. Xuất khẩu
Tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu tháng 3/2019 ước đạt 2,17 tỷ USD, tăng 5,7% so với tháng trước, nhưng so với cùng kỳ giảm 13% (do tháng cùng kỳ là tháng 3/2018 xuất khẩu mặt hàng điện thoại tăng đột biến so với các tháng khác trong năm). Trong đó, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu ước đạt 2,13 tỷ đồng (chiếm 98,2% tổng số), giảm 13,5% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu ước đạt 39,1 triệu USD, tăng 16,3% so với cùng kỳ.
Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu tháng 3/2019 tăng so cùng kỳ là: chè các loại xuất khẩu ước đạt 350 tấn với trị giá 590 nghìn USD; sản phẩm từ sắt thép đạt 6,6 triệu USD, tăng 44,8%; phụ tùng vận tải 0,7 triệu USD, tăng 78,4% so cùng kỳ; sản phẩm may đạt 21,2 triệu USD, tăng 20,6%... Bên cạnh đó, nhóm mặt hàng xuất khẩu giảm so với cùng kỳ là: nhóm điện thoại các loại và linh kiện; máy vi tính và sản phẩm điện tử đạt 2,1 tỷ USD, giảm 14% so cùng kỳ (điện thoại thông minh và máy tính bảng đạt 1,72 tỷ USD, giảm 9,5%; nhóm linh kiện điện tử và phụ tùng khác đạt 0,38 tỷ USD, giảm 29,7% cùng kỳ); kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 23 triệu USD, giảm 5,1% cùng kỳ.
Tính chung Quý I/2019, tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn ước đạt 6,32 tỷ USD, mặc dù chỉ tăng 0,3% so với cùng kỳ năm trước, nhưng đã đạt gần 23% kế hoạch cả năm. Trong đó, xuất khẩu do địa phương quản lý tăng cao, ước đạt 123,7 triệu USD, tăng 66% so với cùng kỳ và đạt 20,6% kế hoạch cả năm (xuất khẩu địa phương tăng cao một phần là do có sự chuyển đổi hình thức sở hữu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài về khu vực vốn trong nước); xuất khẩu của các đơn vị nhà nước Trung ương đạt 2,2 triệu USD, tăng 60% so với cùng kỳ; xuất khẩu của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt khoảng 6,2 tỷ USD, giảm 0,5% so với cùng kỳ.
Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu Quý I/2019 tăng cao so cùng kỳ là sản phẩm từ sắt thép đạt 20,8 triệu USD, tăng 77,3% và bằng 40% kế hoạch; sản phẩm may 68,6 triệu USD, tăng 37,2%; phụ tùng vận tải đạt 2,1 triệu USD, tăng 71,7%; kim loại màu và tinh quặng kim loại màu 74,1 triệu USD, tăng 22,1% cùng kỳ và bằng 41,2% kế hoạch (riêng các sản phẩm khoáng Flourit xuất khẩu đạt cao gấp 2,3 lần cùng kỳ). Mặt hàng xuất khẩu mới (sản phẩm của đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài, cùng kỳ chưa có giá trị xuất khẩu) là sản phẩm từ chất dẻo, đạt giá trị xuất khẩu 26,5 triệu USD... Nhóm sản phẩm giá trị xuất khẩu đạt thấp hoặc giảm so cùng kỳ là: giấy và các sản phẩm từ giấy xuất khẩu đạt 0,5 triệu USD, giảm 28,6% so cùng kỳ.
Riêng mặt hàng chè, xuất khẩu Quý I/2019 đạt khoảng 770 tấn với giá trị xuất khẩu khoảng 1,26 triệu USD, so với cùng kỳ đạt gấp 3,5 lần về lượng và gấp 4,4 lần về giá trị (do quý I/2019 xuất khẩu được sang nước Pa-ki-xtan), tuy nhiên so với chỉ tiêu kế hoạch cả năm 2019 mới đạt 15,5% về số lượng xuất khẩu.
Nhóm điện thoại, máy tính bảng và sản phẩm điện tử khác xuất khẩu tính chung Quý I/2018 ước đạt 6,1 tỷ USD (chiếm 97% tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn) giảm 1% so cùng kỳ (chủ yếu giảm ở nhóm máy tính bảng và sản phẩm điện tử khác); bao gồm: điện thoại thông minh và máy tính bảng đạt 4,95 tỷ USD, đạt 23,2% kế hoạch cả năm (điện thoại thông minh đạt giá trị xuất khẩu 4,35 tỷ USD, tăng 3,1% cùng kỳ; máy tính bảng 0,61 tỷ USD, giảm 18,3%); sản phẩm điện tử khác và linh kiện, phụ tùng đạt 1,16 tỷ USD, giảm 4,5% cùng kỳ và bằng 36,6% kế hoạch.
Hình thức xuất khẩu trên địa bàn trong Quý I/2019 toàn bộ là xuất khẩu  trực tiếp. Thị trường xuất khẩu lớn nhất là Châu Âu chiếm tỷ trọng 30%; đứng thứ hai là thị trường Châu Á chiếm tỷ trọng 27,8% tổng giá trị xuất khẩu (tập trung chủ yếu ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á các nước như: Hàn Quốc 823,7 triệu USD; Thái Lan 184,8 triệu USD; Nhật Bản 74,5 triệu USD; Malaixia 37,8 triệu USD). Ngoài ra, Châu Mỹ chiếm 27,7% tổng giá trị xuất khẩu (tương đương với thị trường Châu Á), trong đó nước Mỹ chiếm chủ yếu với 1.483,9 triệu USD…
Đối với mặt hàng chè, thị trường xuất khẩu Quý I/2019 chủ yếu là Đài Loan và Pa-ki-xtan; mặt hàng dệt may xuất khẩu đi trên 20 nước và vùng lãnh thổ; các sản phẩm điện thoại và điện tử xuất khẩu đi khoảng 50 nước và vùng lãnh thổ...
b. Nhập khẩu
Tổng giá trị nhập khẩu tháng 3/2019 trên địa bàn ước đạt 1,3 tỷ USD, tăng 9,1% so với tháng trước và nhưng giảm 5,6% so với cùng kỳ. Khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu khoảng 15,2 triệu USD, cao gấp 2,3% so với cùng kỳ (do nhập vải và máy móc tăng); khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,3 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 98,9% tổng giá trị nhập khẩu), tăng 9,4% so với tháng trước và nhưng giảm 6,3% so với cùng kỳ.
Nhóm mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tháng 3/2019 tăng cao so với cùng kỳ là: máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 3,8 triệu USD, cao gấp 3,4 lần; vải các loại ước đạt 9,3 triệu USD, tăng 54,6% so với cùng kỳ; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 2,6 triệu USD, tăng 97,1%; phân bón nhập khẩu đạt 0,06 triệu USD, tăng 83,3%…Nhóm mặt hàng có giá trị nhập khẩu thấp hoặc nhỏ hơn so với cùng kỳ là: sản phẩm từ sắt thép đạt 2,2 triệu USD, giảm 2,5% so với cùng kỳ; nguyên, phụ liệu dệt may đạt 0,5 triệu USD, giảm 44,8% so với cùng kỳ; giấy các loại đạt 0,3 triệu USD, giảm 40% so với cùng kỳ.
Tính chung Quý I/2019, tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu ước đạt 3,88 tỷ USD, tăng 0,4% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước ước đạt 60,2 triệu USD (chiếm 1,5% tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn), tăng 59,2% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 3,82 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 98,5% tổng giá trị nhập khẩu), giảm 0,2% so với cùng kỳ.
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu Quý I/2019 phục vụ sản xuất ước tính tăng trên 30% so với cùng kỳ là: máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 41,1 triệu USD, cao gấp 3,4 lần; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 34,2 triệu USD, tăng 74,4%; vải các loại nhập khẩu 35,2 triệu USD, tăng 36,3%; sản phẩm từ sắt thép đạt 8,4 triệu USD, tăng 33,2%. Riêng nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc 7,9 triệu USD, tăng 14%.
Bên cạnh đó các loại mặt hàng nhập khẩu chủ yếu giảm so cùng kỳ là: nguyên liệu và linh kiện điện tử đạt 3,7 tỷ USD, giảm 1,2%; nguyên, phụ liệu dệt may đạt 4,2 triệu USD, giảm 21,4%; giấy các loại đạt 1,2 triệu USD, giảm 15,7% so cùng kỳ.
Nguồn nguyên liệu và hàng hóa nhập khẩu trên địa bàn trong Quý I/2019 toàn bộ được nhập khẩu theo hình thức trực tiếp và chủ yếu nhập khẩu từ thị trường Châu Á với 3,6 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 92,5% tổng giá trị nhập khẩu); trong đó chủ yếu ở các nước là Hàn Quốc 1,5 tỷ USD (chiếm 38,6%), Trung Quốc đạt 1,2 tỷ USD (chiếm 31%) và Nhật Bản đạt 378 triệu USD (chiếm 10%)…
4. Vận tải
- Vận tải hành khách: Số lượng hành khách vận chuyển tháng 3/2019 ước đạt 1,6 triệu lượt khách với khối lượng luân chuyển là 93,7 triệu hành khách.km, so với tháng trước giảm 6,6% về số lượng hành khách vận chuyển và số hành khách luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 12,1% về số lượng hành khách vận chuyển và tăng 11,7% về số hành khách luân chuyển. Tính chung quý I năm 2019 số lượng hành khách vận chuyển là 4,9 triệu lượt người, tăng 9,4% so với cùng kỳ; trong đó vận tải đường bộ 4,8 triệu lượt hành khách, tăng 9,4%; vận tải đường thủy ước đạt 25 nghìn lượt hành khách, tăng 7,3% cùng kỳ.
- Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 3/2019 ước đạt 3,5 triệu tấn với khối lượng hàng hóa luân chuyển khoảng 138,1 triệu tấn.km; so với tháng trước tăng 9,4% về cả số hàng hóa vận chuyển và số lượng hàng hóa luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 9,5% số hàng hóa vận chuyển và tăng 8,1% số hàng hóa luân chuyển. Tính chung Quý I năm 2019 khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 10,6 triệu tấn và khối lượng hàng hóa luân chuyển là 417 triệu tấn.km, tăng 10% so với cùng kỳ về vận chuyển và tăng 8,2% về khối lượng luân chuyển.
Tổng doanh thu vận tải trên địa bàn tháng 3/2019 ước đạt 352 tỷ đồng, tăng 5,9% so với tháng trước và tăng 11,6% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 66,6 tỷ đồng, tăng 14,8% so cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 268,7 tỷ đồng,  tăng 9,4% so với tháng trước và tăng 10,7% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 16,7 tỷ đồng, tăng 9,2% so với tháng trước và tăng 12,9% so với cùng kỳ.
Tính chung doanh thu vận tải Quý 1 năm 2019 ước đạt 1.062 tỷ đồng, tăng 11,3% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải  hàng hóa ước đạt 811 tỷ đồng (chiếm 76,3% tổng số), tăng 11,3% cùng kỳ; vận tải hành khách ước đạt 198,6 tỷ đồng, tăng 12% và doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 52,2 tỷ đồng, tăng 7,8%.
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Đời sống dân cư
Do giá tiêu dùng các mặt hàng thiết yếu cơ bản ổn định, sản xuất công nghiệp tăng, cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư phát triển, đặc biệt là các xã thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới. Các chính sách hỗ trợ phát triển và an sinh xã hội được triển khai thực hiện góp phần cải thiện đời sống dân cư trên địa bàn từ khu vực thành thị đến nông thôn. Tuy nhiên trong sản xuất nông nghiệp sản xuất còn gặp khó khăn do trong quý I/2019 phát sinh dịch bệnh trên đàn lợn, đã ảnh hưởng đến một bộ phận dân cư trên địa bàn.
2. Tình hình thực hiện chính sách xã hội, giảm nghèo và cứu trợ xã hội
Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững: Đã thực hiện tốt các chính sách giảm nghèo chung của Quốc gia theo Nghị quyết của Chính phủ. Các chính sách thường xuyên cho hộ nghèo, hộ cận nghèo như: y tế, giáo dục, nhà ở, tín dụng ưu đãi, trợ giúp pháp lý… đã được các địa phương xây dựng kế hoạch và tích cực tổ chức triển khai thực hiện ngay từ đầu năm.
Bên cạnh đó tiếp tục được triển khai, thực hiện chính sách hỗ trợ giảm nghèo đặc thù của tỉnh (ban hành theo Quyết định số 2037/QĐ-UBND ngày 16/9/2014 của UBND tỉnh) nhằm trợ giúp người nghèo là đồng bào Mông sinh sống ở các xóm, bản đặc biệt khó khăn phát triển kinh tế, ổn định sản xuất và đời sống, giúp hộ thoát nghèo và thực hiện công bằng xã hội. Đồng thời huy động được các nguồn vốn để thực hiện chương trình, chính sách, dự án giảm nghèo đảm bảo theo quy định và phát huy có hiệu quả nguồn vốn.
Nhân dịp Tết nguyên đán Kỷ Hợi năm 2019, toàn tỉnh đã thực hiện thăm, tặng quà, giúp đỡ các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn (hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đối tượng bảo trợ xã hội tại các cơ sở bảo trợ xã hội và các đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng) là 23.358 suất quà, trị giá 28.218,75 triệu đồng.
3. Thực hiện chính sách ưu đãi Người có công
Tổ chức Đoàn đại biểu của tỉnh viếng, dâng hương tại Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, Vị Xuyên; các nghĩa trang liệt sĩ, đài tưởng niệm trong tỉnh. Tổ chức thăm, tặng quà 5 trung tâm điều dưỡng Người có công ở tỉnh ngoài và 01 trung tâm trong tỉnh. Đi thăm, tặng quà các đối tượng thương, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người có công tiêu biểu ở các huyện, thành phố, thị xã. 
Nhân dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019, toàn tỉnh đã thăm và tặng, chuyển quà cho người có công với cách mạng với tổng số quà 64.271 suất, trị giá 8.709 triệu đồng, trong đó: Quà của Chủ Tịch nước: 21.286 suất trị giá 4.430 triệu đồng; Quà từ ngân sách tỉnh: 7.979 suất, trị giá 3.709 triệu đồng; Quà từ ngân sách cấp huyện, cấp xã: 32.177 suất, trị giá 9.592 triệu đồng; Quà từ kinh phí xã hội hóa: 2.829 suất, trị giá 978 triệu đồng.
Giải quyết chế độ chính sách theo quy định của Pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng cho 185 trường hợp và giải quyết chế độ chính sách cho 327 đối tượng khác.
4. Lao động, việc làm và An toàn lao động
Ngành chức năng xây dựng kế hoạch tổ chức Tháng hành động về An toàn - vệ sinh lao động năm 2019; tổ chức tổ chức Ngày hội việc làm Xuân Kỷ Hợi 2019, tham gia ngày hội có 34 đơn vị, doanh nghiệp và các trường nghề tham gia, với nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp là 45.830 người, trong đó tuyển dụng lao động làm việc trong nước 34.530 người, xuất khẩu lao động và du học 8.300 người, tuyển sinh học nghề 3.000 người. Trong ngày hội đã diễn ra các hoạt động tư vấn giới thiệu việc làm, tư vấn học nghề, tuyên truyền chính sách pháp luật về lao động, việc làm, dạy nghề, bảo hiểm thất nghiệp… Kết quả tại Ngày hội việc làm các doanh nghiệp, trường nghề đã tuyển dụng được 1.140 người, trong đó lao động làm việc trong nước 864 người, xuất khẩu lao động và du học 196 người, tuyển sinh học nghề 80 người.
Tổ chức tuyển dụng lao động thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo thuộc 02 huyện Định Hóa và Phú Bình vào làm việc tại công ty và đơn vị phụ trợ của của Samsung Thái Nguyên.
5. Hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin tuyên truyền
Trong quý I/2019, trên địa bàn tổ chức các hoạt động kỷ niệm 89 năm ngày thành lập Đảng (03/02/1930-03/02/2019), mừng xuân Kỷ Hợi 2019, Ngày thể thao Việt Nam (27/3), Quốc tế hạnh phúc (20/3); Tổ chức tuyên truyền, biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, luân chuyển sách... phục vụ nhân dân đặc biệt là đồng bào vùng sâu,vùng xa, các đối tượng chính sách; tiếp tục thực hiện công tác giới thiệu, quảng bá du lịch Thái Nguyên trên các phương tiện truyền thông.
Hoạt động bảo tàng: Tổ chức sưu tầm đợt I/2019 với chủ đề "Sưu tầm tài liệu, hiện vật về đời sống văn hóa và một số nghề thủ công truyền thống của dân tộc Tày, Nùng, Dao, Sán Chay trên địa bàn thành phố Thái Nguyên và các huyện Định Hóa, Phú Lương, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ". Trưng bày triển lãm “Thành tựu kinh tế-xã hội tỉnh Thái Nguyên”. Phối hợp tổ chức lễ hội “Hương sắc trà xuân - Vùng chè đặc sản Tân Cương”. Chuẩn bị tổ chức hội thảo khoa học “Những phát hiện mới khảo cổ học thời tiền sử tại Thái Nguyên và kinh nghiệm trong việc phát huy giá trị hiện vật khảo cổ tại Bảo tàng”. Phục vụ 3,5 nghìn lượt khách tham quan (62 lượt khách nước ngoài).
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật, phát hành phim và chiếu bóng: Tổ chức 28 buổi biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị, đối tượng chính sách, công nhân các khu công nghiệp trong chương trình “Hát cho công nhân tôi nghe”; 271 buổi chiếu phim phục vụ các xã vùng khó khăn, đối tượng chính sách, nhiệm vụ chính trị; phục vụ khoảng 17 nghìn lượt người xem.
Hoạt động thư viện: Phối hợp tổ chức Hội báo xuân Kỷ Hợi với chủ đề “Mừng Đảng, mừng Xuân, mừng đất nước đổi mới”; thực hiện 12 cuộc giới thiệu sách trên Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh. Tuyên truyền giới thiệu sách, báo chí tại Lễ hội thơ Nguyên Tiêu và Ngày Hội sách; cấp 89 thẻ, phục vụ 9,24 nghìn lượt bạn đọc, luân chuyển 16,26 nghìn lượt sách, báo.
Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở: Tổ chức chương trình nghệ thuật với chủ đề “Mừng Đảng, mừng xuân Kỷ Hợi năm 2019. Xây dựng kế hoạch khảo sát, xây dựng điểm mô hình, mẫu hình hoạt động văn hoá văn nghệ, nhà văn hoá. Phối hợp tổ chức biểu diễn văn nghệ phục vụ lễ hội tại các huyện, thành phố, thị xã; tổ chức 33 buổi tuyên truyền; duy trì hoạt động của 15 Câu lạc bộ văn hoá, nghệ thuật theo sở thích. Tổ chức 02 buổi văn hóa trà phục vụ các cá nhân, tổ chức nước ngoài về đón Tết tại Việt Nam.
Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, chung tay xây dựng Nông thôn mới: Tổ chức các lễ hội trên địa bàn tỉnh; hướng dẫn các địa phương tổ chức hoạt động tuyên truyền hưởng ứng Ngày Quốc tế Hạnh phúc (20/3); tăng cường giải pháp phòng chống xâm hại, bạo lực trẻ em; tiếp tục thực hiện 02 tiêu chí về văn hóa (số 6 và 16)  trong xây dựng nông thôn mới do ngành chức năng quản lý.
Hoạt động thể thao: Tổ chức các hoạt động thể thao mừng Đảng, mừng Xuân (cờ tướng, tung còn, chọi gà, bắn súng trường hơi); Ngày chạy Olympic vì sức khoẻ toàn dân; giải chạy tập thể, Việt dã Tiền phong tỉnh Thái Nguyên cùng “Sacombank chạy vì sức khỏe cộng đồng”…
 Thể thao thành tích cao: Duy trì công tác quản lý, huấn luyện, kiểm tra  việc tập luyện của các đội tuyển, thực hiện tham dự các giải theo kế hoạch. Trong Quý I/2019 tham gia lễ hội bơi chải thuyền rồng Hà Nội mở rộng, đạt giải Nhì toàn đoàn (xã hội hoá); Xây dựng kế hoạch tuyển chọn vận động viên đợt I/2019…
6. Công tác y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng chống dịch bệnh
Mạng lưới y tế trên địa bàn đang được sắp xếp nhằm tinh gọn và giảm các đầu mối, phát huy hiệu quả hoạt động và giảm chi phí; cùng với đó là đẩy mạnh phát triển y tế chuyên sâu, tạo điều kiện để người dân được tiếp cận với các dịch vụ y tế cơ bản và các dịch vụ có chất lượng cao một cách thuận tiện nhất.
- Công tác phòng chống dịch bệnh và khám chữa bệnh: Trên địa bàn tỉnh trong Quý I/2019 không có dịch bệnh lớn xảy ra. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 20/3 có 7 ca sốt xuất huyết (cùng kỳ có 3 ca), 16 ca quai bị (cùng kỳ 49 ca), sốt phát ban dạng sởi 19 ca, bệnh tay chân miệng 17 ca. Tính riêng trong 20 ngày đầu tháng 3/2019 có 8 ca sốt phát ban dạng sởi, 3 ca tay chân miệng, 2 ca sốt xuất huyết. Các bệnh truyền nhiễm thông thường khác không có diễn biến đặc biệt. Trong quý 1/2019 có 01 ca tử vong do bệnh dại ngày 21/2/2019 tại xã Thành Công, Thị xã Phổ Yên (tương đương cùng kỳ).
Công tác khám, chữa bệnh và phòng bệnh: Trong quý I/2019, ngành chức năng đảm bảo tốt công tác thường trực, khám, cấp cứu dịp Tết Nguyên đán và các lễ hội, sự kiện đầu năm. Thực hiện khám chữa bệnh, đảm bảo công tác y tế và các lĩnh vực khác như: tăng cường giám sát, phòng chống bệnh sởi và cúm; quản lý sử dụng tốt vắc xin trong tiêm chủng mở rộng phòng chống dịch bệnh.
- Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong quý 1/2019 không có vụ ngộ độc thực phẩm tập thể xảy ra trên địa bàn tỉnh. Các ngành chức năng triển khai các hoạt động và tuyên truyền nhằm bảo đảm An toàn thực phẩm Tết Nguyên đán và mùa Lễ hội Xuân 2019. Thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành và chuyên ngành, kiểm tra an toàn thực phẩm theo phân cấp quản lý. Tuy nhiên, ngày 15/3/2019 tại một trường Tiểu học của huyện Phú Bình tổ chức cho học sinh toàn trường uống sữa theo chương trình “Sữa đậu nành học đường Vinasoy”. Tổng số 706 học sinh được uống sữa; có 29 học sinh có biểu hiện nghi ngờ ngộ độc thực phẩm phải nhập viện do có biểu hiện đau bụng, buôn nôn, một số cháu bị nôn và tiêu chảy. Tính đến 17 giờ ngày 16/3/2019 tất cả các cháu đều đã ổn định, sức khỏe bình thường và đã ra viện. Vụ việc trên nghi là ngộ độc thực phẩm; nguyên nhân chưa xác định, đang chờ kết quả kiểm nghiệm mẫu thực phẩm bữa ăn nguyên nhân.
- Công tác quản lý hành nghề y dược: Duy trì việc thẩm định đủ điều kiện cấp phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh cho các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân. Thẩm định hồ sơ cấp mới, cấp lại, thay đổi bổ sung chứng chỉ hành nghề y, dược, cơ sở đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm; cấp phép hoạt động phòng khám tư nhân.
- Dân số và trẻ em: Hai tháng đầu năm 2019, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 2.416 trẻ mới sinh; trong đó, số trẻ em nam sinh ra là 1.305 (chiếm 54% tổng số trẻ sinh ra); số trẻ em nữ sinh ra là 1.111 trẻ (chiếm 46% tổng số trẻ sinh ra). Tỷ số giới tính khi sinh nam/nữ là 117 trẻ nam/100 trẻ nữ (cùng kỳ   tỷ lệ này là 104/100). Trong tổng số trẻ mới sinh, có 267 trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên, chiếm 11% tổng số trẻ sinh. Trong đó, huyện Phú Bình có trẻ sinh ra là con thứ 3 nhiều nhất là 62 trẻ (tăng 24% so cùng kỳ năm trước), thành phố Thái Nguyên 31 trẻ (giảm 14%), huyện Đại từ 44 trẻ (tăng 25,7%)… So với 2 tháng đầu năm 2018, số trẻ em mới sinh giảm 27 trẻ nhưng sinh con thứ 3 trở lên tăng 5 trẻ và đặc biệt tỷ lệ giới tính trẻ mới sinh nam/nữ tăng.
- Tình hình mắc HIV/AIDS: Tính luỹ tích đến hết tháng 3/2019, tổng số người nhiễm HIV/AIDS toàn tỉnh là 10.175 người, trong đó đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 6.746 người và 3.485 người đã tử vong do HIV/AIDS. Riêng trong tháng 3/2019 số người nhiễm HIV/AIDS mới phát hiện là 10 người, trong đó đã chuyển sang giai đoạn AIDS  là 3 người và 2 người đã tử vong do HIV/AIDS.
7. Giáo dục phổ thông
Ngành chức năng đã tổ chức triển khai, thực hiện khung kế hoạch thời gian năm học 2018-2019 theo quy định.
Kết quả cuộc thi khoa học kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh trung học năm 2019; tỉnh Thái Nguyên có 4/6 dự án tham gia dự thi đạt giải, gồm một giải Nhì, ba giải Tư của học sinh các trường trung học phổ thông Chu Văn An; Gang Thép; Đào Duy Từ và Lương Ngọc Quyến.
Trong tháng 3/2019 ngành chức năng tổ chức Hội nghị cán bộ quản lý bậc Trung học phổ thông triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm Kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2019; về cơ bản, kỳ thi năm 2019 vẫn theo hướng như năm 2018 và có một số điều chỉnh kỹ thuật trong quy trình tổ chức thi nhằm khắc phục các hạn chế, bất cập, để đảm bảo tổ chức kỳ thi nghiêm túc, khách quan, an toàn.
Ngành chức năng chỉ đạo các trường trung học phổ thông, các Trung tâm giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp dạy nghề đẩy mạnh công tác tuyên truyền về những điểm mới của kỳ thi để phụ huynh, học sinh nắm vững. Bên cạnh đó, tư vấn, hướng nghiệp cho học sinh; tổ chức thi thử THPT quốc gia cho học sinh lớp 12 và chuẩn bị tốt các điều kiện cho kỳ thi THPT quốc gia năm 2019 đạt hiệu quả; hướng dẫn học sinh ôn tập và làm quen với dạng đề thi trắc nghiệm; tổ chức và đăng ký dự thi, thu nhận hồ sơ theo quy định.
- Thực hiện đề án xây dựng hệ thống trường đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 2016-2020: tính đến thời điểm đầu tháng 3/2019 toàn tỉnh có 562/680 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 82,65%, tăng 19 trường so với cùng kỳ năm trước, vượt 2,65% so với chỉ tiêu Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh (Nghị quyết đặt ra đến năm 2020 là đạt 80%). Trong đó, Mầm non 185/233 trường, tỷ lệ 79,4%; Tiểu học 215/224 trường đạt tỷ lệ 95,98%; Trung học cơ sở có 144/191 trường đạt tỷ lệ 75,39%; Trung học phổ thông có 18/32 trường đạt tỷ lệ 56,25%.
8. Tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội
- Tình hình an ninh trật tự: Quý I/2019 trên địa bàn cơ bản ổn định, lực lượng an ninh đã bám sát cơ sở, nắm bắt tình hình và triển khai các biện pháp công tác, chủ động phương án đối phó, giải quyết kịp thời các vấn đề có liên quan… trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi không có các vụ việc phức tạp, nổi cộm về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội xảy ra.
- An toàn giao thông: Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh, trong tháng 3/2019 trên địa bàn tỉnh xảy ra 10 vụ tai nạn giao thông (toàn bộ là thuộc đường bộ), làm chết 6 người và bị thương 4 người. So với cùng kỳ, số vụ tai nạn tăng 4 vụ (tương đương tăng 66,67%), số người chết tăng 4 người (tăng 200%, số người bị cùng kỳ là 2 người); số người bị thương tương đương cùng kỳ. Trong tháng, trên các tuyến đường bộ đã kiểm tra, lập biên bản xử lý vi phạm 4.507 trường hợp; tước 602 giấy phép lái xe; tạm giữ 190 xe ô tô, 411 xe mô tô; 01 phương tiện khác; số tiền xử phạt 3,4 tỷ đồng. Về đường thủy nội địa đã xử lý 7 trường hợp vi phạm, thu nộp kho bạc nhà nước 0,5 triệu đồng.
Tính chung Quý I/2019, tình hình trật tự an toàn giao thông đường sắt, đường thủy ổn định, không xảy ra tai nạn giao thông. Trên đường bộ, đã xảy ra 26 vụ tai nạn giao thông, làm chết 14 người và bị thương 12 người. So với cùng kỳ năm 2018, số vụ tai nạn giao thông tăng 03 vụ (+13,04%); số người chết tăng 03 người (+27,27%); số người bị thương giảm 07 người (-36,84%). Trong đó, huyện Võ Nhai, TP sông công không xảy ra vụ tai nạn giao thông; Thành phố Thái Nguyên xảy ra 16 vụ (chiếm 61,5% tổng số), có 3 người chết (tăng 2 người so với cùng kỳ) và 10 người bị thương; tiếp đó là có 3 địa phương trong quý I/2019 có số người bị chết do tai nạn giao thông tăng so cùng kỳ là: Huyện Phú Lương có 3 người bị chết (tăng 2 người); Huyện Đại Từ có 3 người bị chết (tăng 3 người); huyện Định Hóa có 1 người bị chết (tăng 1 người so cùng kỳ). Có 2 địa phương là Phổ Yên và Đồng Hỷ đều giảm 1 vụ và giảm 2 người chết do tai nạn giao thông so với cùng kỳ. 
- Phòng chống tệ nạn xã hội: Ngành chức năng chỉ đạo các cơ sở cai nghiện trên địa bàn tổ chức tốt công tác quản lý đối tượng, tổ chức cai nghiện ma túy bắt buộc, cai nghiện tự nguyện, điều trị methadone theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
Tính đến ngày 15/3/2019 toàn tỉnh đã tổ chức cai nghiện cho 334/1.000 người, trong đó, Cai nghiện tại các Cơ sở cai nghiện 277 người; Cai nghiện tự nguyện tại gia đình 57 người.
Điều trị methadone tại các cơ sở cai nghiện là 349 người, trong đó, Cơ sở Phú Lương 38 người; cơ sở thị xã Phổ Yên 33 người; Cơ sở TP Thái Nguyên 59 người; Cơ sở tư vấn và điều trị nghiện tự nguyện tỉnh 160 người; Cơ sở tư vấn và điều trị cai nghiện ma túy tỉnh 59 người.
9. Vi phạm môi trường
Trong tháng 3 năm 2019 trên địa bàn tỉnh ngành chức năng đã kiểm tra và xử lý 6 vụ vi phạm môi trường với tổng số tiền xử phạt khoảng 18,7 triệu đồng (bao gồm Huyện Phú Bình 02 vụ; TP Sông Công 01 vụ; Huyện Võ Nhai 01 vụ; Thị xã Phổ yên 01 vụ, TP Thái Nguyên 01 vụ). Tính chung trong 3 tháng đầu năm 2019, các ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra và xử lý 22 vụ vi phạm môi trường, tổng số tiền thu và nộp vào ngân sách nhà nước là 155 triệu đồng; nguyên nhân của các vụ xử lý trên là do các cơ sở sản xuất kinh doanh không thực hiện quan trắc giám sát môi trường theo đề án bảo vệ môi trường.
10. Phòng chống cháy nổ
Các ngành chức năng của Tỉnh đã tiến hành kiểm tra phòng cháy, chữa cháy tại các cơ quan đơn vị trên địa bàn tỉnh; qua kiểm tra đã nhắc nhở những thiếu sót trong phòng cháy chữa cháy và lập biên bản xử lý các trường hợp vi phạm nhằm hạn chế các vụ cháy nổ xảy ra.
Trong tháng qua trên địa bàn tỉnh xảy ra 9 vụ cháy, trong đó có 4 vụ cháy xảy ra tại Thành phố Thái Nguyên, 3 vụ tại Thị xã Phổ Yên, 1 vụ tại  huyện Phú Lương, 1 vụ tại huyện Đại Từ. Ước thiệt hại khoảng 140 triệu đồng. Tính chung 3 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 29 vụ cháy, không có thiệt hại về người. Ước tính tổng giá trị thiệt hại khoảng 1,1 tỷ đồng.
11. Thiệt hại do thiên tai
Trong Quý I/2019 trên địa bàn xảy ra 1 đợt thiên tai mưa, giông lốc vào đêm ngày 17/02 rạng sáng ngày 18/02/2019, tại một số địa phương như: Thành phố Thái Nguyên, TP Sông Công, huyện Phú Bình, huyện Định Hóa và Thị xã Phổ Yên đã làm 03 người bị thương nhẹ (01 người ở TP Thái Nguyên, 02 người TP Sông Công); có 1.681 hộ gia đình bị tốc mái nhà (thị xã Phổ Yên 66 hộ; TP Thái Nguyên 502 hộ, huyện Định Hóa 03 hộ, TP sông Công 1.110 hộ); 3.060 m2 mái tôn, Prô xi măng bị lật, đổ, vỡ thuộc huyện Phú Bình; 03 cơ sở chăn nuôi bị ảnh hưởng, chết 1.330 con gà; tốc mái nhà lưới 7 nghìn m2 của khu sản xuất rau an toàn (của Hợp Tác Xã thuộc xã Đồng Liên, TP Thái Nguyên); đổ 50m kênh cấp 2 Núi Cốc (xã Tiên phong, thị xã Phổ Yên); 02 nhà văn hóa, 16 điểm trường bị ảnh hưởng bị tốc mái và hư hỏng các công trình phụ trợ; 05 ki ốt chợ tạm; 01 Bệnh viện bị ảnh hưởng nặng (bị tốc mái tôn 500m2, hỏng 03 ô tô do bị mái tôn rơi vào; 05 xe máy hư hỏng do sập mái nhà để xe; gãy đổ 21 cây xanh trong bệnh viện, vỡ kính, hỏng cửa..); cháy 01 trạm biến áp, 01 hệ thống cắt điện, 01 cầu giao, 03 cột điện, gẫy 01 cột điện hạ thế; 2.835 tường rào bị đổ; 60 cây xanh đô thị TP Thái Nguyên... Ước tính tổng thiệt hại về tài sản khoảng 17,16 tỷ đồng.
Ngành chức năng đã phối hợp với địa phương khắc phục thiệt hại, xử lý sự cố, đánh giá thiệt hại, huy động lực lượng tại chỗ để tích cực triển khai, trợ giúp nhân dân ổn định đời sống và sản xuất.
C. KHÁI QUÁT CHUNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
1. Khái quát chung
Kinh tế - xã hội trên địa bàn trong quý I năm 2019 tiếp tục tăng so với cùng kỳ trên hầu hết các ngành, lĩnh vực. Công tác chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh Thái Nguyên được quan tâm thực hiện; các lĩnh vực lao động, việc làm, an sinh xã hội đạt nhiều kết quả, đời sống dân cư được cải thiện và nâng cao. Bên cạnh những kết quả đạt được, trong Quý I/2019 vẫn còn một số tồn tại như: ngành chăn nuôi gặp khó khăn do dịch bệnh nên ảnh hưởng đến sản xuất và mức tiêu thụ sản phẩm; sản xuất vụ Đông giảm so cùng kỳ; nhịp độ sản xuất công nghiệp và xuất khẩu đang tăng chậm lại và thấp hơn so với mức tăng của bình quân chung cả nước do sản xuất của các dự án lớn đã đi vào ổn định; tình hình an toàn giao thông chưa được kiềm chế.
2. Đề xuất giải pháp
Năm 2019 có ý nghĩa rất quan trọng, là năm tăng tốc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020. Bên cạnh những yếu tố thuận lợi, còn nhiều thách thức đối với sản xuất công nghiệp và nông nghiệp trên địa bàn; cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội vùng khó khăn... Một số giải pháp đề xuất là:
- Tiếp tục thực hiện quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp đã được Chính phủ, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đề ra; quán triện thực hiện phương châm hành động của Chính phủ “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, hiệu quả, bứt phá” để vận dụng linh hoạt, sáng tạo với tình hình, đặc điểm của từng cơ quan, đơn vị, địa phương; triển khai và thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ trọng tâm để đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ, mục tiêu kế hoạch năm 2019.
- Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển; đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình, dự án đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp để nâng cao năng lực sản xuất.
- Tập trung chỉ đạo quyết liệt và triển khai đồng bộ các giải pháp phòng, chống dịch bệnh động vật, đặc biệt là bệnh Dịch tả lợn Châu Phi nhằm ngăn chặn dịch bệnh, tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi phát triển. 
- Tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn một cách đồng bộ theo tiêu chí nông thôn mới, trước hết là hạ tầng thiết yếu như giao thông, trường học, trạm y tế, thủy lợi nhỏ, nước sinh hoạt. Lồng ghép các nguồn vốn trên địa bàn để triển khai, thực hiện có hiệu quả các Chương trình mục tiêu quốc gia năm 2019; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với các chính sách, dự án và toàn bộ hoạt động của các chương trình.
- Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, đào tạo nghề, giải quyết việc làm và giảm nghèo bền vững; Tăng cường công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ.
Trên đây là tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên tháng 3 và quý I năm 2019./.

Nguồn tin: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây