Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội Quý III và Chín tháng năm 2019 tỉnh Thái Nguyên

Thứ hai - 30/09/2019 10:24
Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh trong Chín tháng đầu năm 2019 vẫn duy trì mức tăng so với cùng kỳ trên hầu hết các ngành, lĩnh vực. Trong đó, sản xuất công nghiệp và giá trị xuất khẩu tăng cao trong quý II và quý III, góp phần thúc đẩy và đóng góp tích cực vào kết quả sản xuất tính chung 9 tháng; bên cạnh đó mặt bằng lãi suất tín dụng thuận lợi cho sản xuất; các chính sách xã hội được quan tâm, thực hiện đầy đủ, công tác an sinh xã hội, chăm lo đời sống nhân dân tiếp tục được bảo đảm… Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, ngành chăn nuôi từ đầu năm đến nay gặp khó khăn do dịch bệnh trên đàn lợn; tình hình thiên tai… ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân.
Trên cơ sở kết quả thực hiện 8 tháng và ước tính số liệu tháng 9, Cục Thống kê báo cáo dự ước tình hình kinh tế xã hội 9 tháng đầu năm 2019 trên địa bàn như sau:
1. Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010) trên địa bàn ước đạt 542 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ, bằng 72,9% kế hoạch cả năm. Trong đó, công nghiệp địa phương đạt 22,2 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với cùng kỳ, bằng 78,3% kế hoạch cả năm; công nghiệp nhà nước trung ương đạt 17 nghìn tỷ đồng, tăng 9% so với cùng kỳ, bằng 94,2% kế hoạch cả năm; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 503 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7% so cùng kỳ và bằng 72,1% kế hoạch năm.
2. Giá trị xuất khẩu trên địa bàn đạt khoảng 20,7 tỷ USD, tăng 11,3% so với 9 tháng 2018 và bằng 75,2% kế  hoạch cả năm. Trong đó, giá trị xuất khẩu địa phương ước đạt 411,7 triệu USD, tăng 34,2% so cùng kỳ, bằng 68,6% kế hoạch cả năm; xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 20,32 tỷ USD, tăng 10,9% so cùng kỳ và bằng 75,4% kế hoạch cả năm.
3. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 11.251 tỷ đồng, bằng 75% dự toán năm, tăng 12,8% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nội địa ước đạt 8.757 tỷ đồng, bằng 75,2% dự toán cả năm, tăng 12,4% so cùng kỳ; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 2.450 tỷ đồng, bằng 73,1% dự toán năm và tăng 13,7% so cùng kỳ.
4. Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, 9 tháng năm 2019 ước đạt 29,7 nghìn tỷ đồng, giảm 12,2% cùng kỳ năm trước.
5. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản:
Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng, giết thịt ước đạt 102,3 nghìn tấn, bằng 65,7% kế hoạch cả năm và giảm 4% so cùng kỳ (trong đó sản lượng thịt lợn hơi ước đạt 65 nghìn tấn, giảm 10,5%; gà ước đạt 30,2 nghìn tấn, tăng 8,1%).
Diện tích trồng rừng mới tập trung trên địa bàn đạt 5.238,67 ha, trong đó, địa phương trồng rừng mới tập trung theo chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững là 2.554 ha, bằng 100,2% so kế hoạch.
Diện tích chè trồng mới và trồng lại là 397 ha, đạt 52,9% kế hoạch cả năm, trong đó diện tích chè trồng lại là 288 ha, bằng 98,2% kế hoạch cả năm.
6. Các chỉ tiêu xã hội: triển khai thực hiện theo đúng tiến độ đề ra.
Tình hình cụ thể về kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu trên địa bàn tỉnh Quý III và 9 tháng đầu năm 2019:
A. KINH TẾ
I. Tài chính, ngân hàng
1. Thu ngân sách
- Thu ngân sách nhà nước: Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh tính chung 8 tháng năm 2019 đạt  9.649  tỷ đồng, tăng 8,6% so với cùng kỳ và bằng 64,3% so với dự toán cả năm. Trong đó thu nội địa đạt 7.732,1 tỷ đồng, tăng 11,6% so với cùng kỳ và bằng 66,4% so với dự toán; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 1.875,6 tỷ đồng, giảm 2,5% so với cùng kỳ và bằng 56% so với dự toán cả năm 2019. Thu quản lý qua ngân sách đạt 41 tỷ đồng.
Trong thu nội địa, có 11 trong tổng số 14 khoản thu tăng so với cùng kỳ, trong đó thu lớn nhất là thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2,4 nghìn tỷ, tăng 18,7% nhưng mới bằng 57,9% dự toán; khoản thu lớn đứng thứ hai là thu cấp quyền sử dụng đất đạt 1.027 tỷ đồng, tăng 1,7% cùng kỳ và bằng 66,3% dự toán. Có 3 khoản thu 8 tháng đã vượt dự toán cả năm và tăng so cùng kỳ là: Thu cấp quyền khai thác khoáng sản, tài nguyên; thu tiền cho thuê đất và thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Các khoản thu đạt trên 70% dự toán cả năm là: thu từ doanh nghiệp nhà nước trung ương và địa phương đạt 850,3 tỷ đồng, tăng 32,5% cùng kỳ và bằng  87,7% dự toán; thuế thu nhập cá nhân đạt 864 tỷ đồng, tăng 14,6% và bằng 73,2% dự toán; thu lệ phí trước bạ đạt 302,3 tỷ đồng, tăng 19% và bằng 81,7% dự toán...
Các khoản thu 8 tháng đạt thấp và giảm so với cùng kỳ 2018 và đạt dưới 60% dự toán như: Thu từ khu vực ngoài quốc doanh đạt  1.012,6 tỷ đồng, giảm 22,8% và bằng 54,7% dự toán; thu khác ngân sách đạt 103,2 tỷ đồng, giảm 24,7% và bằng 50,1% dự toán.
Ước tính 9 tháng 2019, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 11.251 tỷ, bằng 75% dự toán năm và tăng 12,8% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nội địa ước đạt 8.757 tỷ đồng, bằng 75,2% dự toán và tăng 12,4% so cùng kỳ; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 2.450 tỷ đồng, bằng 73,1% dự toán năm và tăng 13,7% so cùng kỳ. Thu quản lý qua ngân sách 44 tỷ đồng.
- Chi ngân sách địa phương: Tổng chi ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh 8 tháng năm 2019 đạt 7.586 tỷ đồng, tăng 9,8% so với cùng kỳ và bằng 51% dự toán cả năm; trong đó, chi đầu tư phát triển 2.054 tỷ đồng (chiếm 29,4% trong tổng chi cân đối ngân sách địa phương), tăng 14,9% so với cùng kỳ và bằng 63,8% dự toán cả năm; chi thường xuyên đạt 4.938 tỷ đồng (chiếm 70,6%), tăng 11,6% so với cùng kỳ và bằng 59,5% dự toán cả năm.
Trong tổng chi thường xuyên, chi lớn nhất là chi sự nghiệp giáo dục đào tạo và dạy nghề đạt 2.004 tỷ đồng (chiếm 41%), tăng 13,9% và bằng 55,3% dự toán; chi quản lý hành chính đạt 1.080 tỷ đồng (chiếm 21,8%), tăng 9,1% và bằng 68% dự toán cả năm... một số khoản chi đạt dưới 55% dự toán nhưng đều tăng trên 20% so cùng kỳ như: chi sự nghiệp bảo vệ môi trường; chi sự nghiệp phát thanh truyền hình; chi sự nghiệp văn hóa thông tin, thế dục thể thao. Các khoản chi đạt trên 70% dự toán cả năm và tăng trên 45% so cùng kỳ như: Chi sự nghiệp khoa học và công nghệ; chi khác của ngân sách.
Ước tính 9 tháng 2019, tổng chi ngân sách địa phương trên địa bàn là 8.550 tỷ đồng, tăng 9,5% so với cùng kỳ và bằng 57,5% dự toán cả năm; trong đó, chi cân đối ngân sách địa phương 7.860 tỷ đồng, tăng 11,8% cùng kỳ và bằng 57,6% dự toán cả năm (bao gồm: chi đầu tư phát triển 2.211 tỷ đồng, tăng 9,4% so với cùng kỳ và bằng 68,7% dự toán cả năm; chi thường xuyên đạt 5.649 tỷ đồng, tăng 12,8% so với cùng kỳ và bằng 68,1% dự toán cả năm). Chi chương trình mục tiêu quốc gia, dự án và nhiệm vụ khác ước đạt 690 tỷ đồng, giảm 11% cùng kỳ và bằng 55,7% dự toán cả năm.
2. Hoạt động ngân hàng
- Tình hình thực hiện lãi suất: Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay bằng đồng Việt Nam tương đối ổn định.
Về lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam phổ biến ở mức 0,5-1%/năm đối với lãi suất huy động tiền gửi kỳ hạn dưới 1 tháng; từ 4,5-5,5%/năm đối với kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; từ 5,5-8,8%/năm đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Về lãi suất cho vay bằng Việt Nam đồng đối với các lĩnh vực ưu tiên là 6,5%/năm. Lãi suất cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,8%-9%/năm đối với ngắn hạn, từ 9%-11%/năm đối với trung và dài hạn.
- Hoạt động huy động vốn: Nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng (chưa bao gồm ngân hàng Phát triển) đến 31/8/2019 đạt 62.329 tỷ đồng, tăng 15,45% so với 31/12/2018. Ước đến 30/9/2019, nguồn vốn huy động đạt 62.700 tỷ đồng, tăng 16,13% so với 31/12/2018 (cùng kỳ năm trước tăng 11%).
- Dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng (chưa bao gồm Ngân hàng Phát triển) đến 31/8/2019 đạt 53.934 tỷ đồng, tăng 6,87% so với 31/12/2018. Ước đến 30/9/2019, dư nợ cho vay đạt 54.300 tỷ đồng, tăng 7,6% so với 31/12/2018.
Nợ xấu đến 31/8/2019 là 540 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 1%/tổng dư nợ (thời điểm cùng kỳ 2019 nợ xấu là 473 tỷ đồng chiếm 0,96%/tổng dư nợ). Ước đến 30/9/2019 nợ xấu là 535 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 0,99%/tổng dư nợ.
Tình hình tín dụng trên địa bàn tăng đều qua các tháng năm 2019 với mức tăng trưởng tín dụng đến 31/8/2019 là 6,87%, tuy nhiên đang thấp hơn so với mức tăng trưởng tín dụng toàn ngành (bình quân chung cả nước tăng 7,81%). Cơ cấu tín dụng tiếp tục tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên gắn với đảm bảo chất lượng tín dụng, góp phần hỗ trợ kinh tế trên địa bàn.
Tính riêng Dư nợ cho vay đối với ngành chăn nuôi lợn đến hết tháng 8/2019 là 2.143 tỷ đồng, trong đó dư nợ đối với các cơ sở chăn nuôi bị thiệt hại là 74 tỷ đồng; các ngân hàng trên địa bàn đã thực hiện giảm lãi vay và cơ cấu lại thời hạn trả nợ với dư nợ 12 tỷ đồng nhằm tháo gỡ khó khăn cho người chăn nuôi lợn do xảy ra dịch tả lợn Châu Phi.
II. Giá cả
Chín tháng năm 2019 Nhà nước điều chỉnh tăng giá dịch vụ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế; điều chỉnh tăng học phí đào tạo đại học và nghề theo lộ trình; điều chỉnh tăng mức lương cơ sở; điều chỉnh tăng giá điện, nước ... Bên cạnh đó một số nhóm hàng hóa chỉ số giá giảm như: giá xăng dầu giảm, giá nhóm thiết bị điện thoại giảm ... nên chỉ số giá tiêu dùng các tháng nhìn chung tăng nhưng tăng nhẹ.
Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng từ đầu năm có 7 tháng chỉ số giá tăng so với tháng trước (với mức tăng bình quân 0,4%/tháng) và có 2 tháng chỉ số giá tiêu dùng giảm là tháng 3 (giảm 0,43%) và tháng 6/2019 (giảm 0,15%) so tháng trước.
Nếu tính theo Quý, diễn biến chỉ số giá theo các Quý của năm 2019 so với quý trước như sau: Quý I/2019 chỉ số giá tiêu dùng tăng 0,61%; Quý II/2019 giảm 0,08% và Quý III/2019 tăng 0,45% so với quý II/2019.
Bình quân 9 tháng năm 2019 chỉ số giá tiêu dùng tăng 1,92% so với bình quân cùng kỳ, trong đó, nhóm hàng hóa chỉ tăng 0,6% (trong đó, hàng lương thực, thực phẩm tăng 1%; hàng phi lương thực thực phẩm tăng 0,23%; riêng giá gas giảm 3,8%; nhiên liệu xăng dầu giảm 3,42%); còn nhóm dịch vụ tăng cao với mức tăng 7,63% (trong đó tăng chủ yếu ở các nhóm dịch vụ như: điện sinh hoạt tăng 8,1%; nước sinh hoạt tăng 3,7%; dịch vụ y tế tăng 6,7%; giáo dục tăng 3,5%).
Do chỉ số giá nhóm lương thực và thực phẩm tăng nên chỉ số giá tiêu dùng tính chung tháng 9/2019 tăng 0,26% so với tháng trước. Có 3/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng có chỉ số giá tăng so với tháng trước. Trong đó, nhóm giáo dục tăng 1,92% (chỉ số giá nhóm dịch vụ giáo dục tăng 2,14%); nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,9% (do giá lương thực tăng 0,14%; giá thịt lợn tăng 3,88%; thịt gà giảm 0,45%; thủy sản tươi sống tăng 1,22%; nhóm rau tươi, khô và chế biến tăng 2,69%); có 2 nhóm hàng hóa dịch vụ tương đương tháng trước là nhóm thuốc và dịch vụ y tế và nhóm bưu chính viễn thông; nhóm may mặc, mũ nón giảm 0,05%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,08%; nhóm giao thông giảm 1,07% do giá nhiên liệu xăng dầu giảm 2,57%.
So với tháng 12/2018, chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2019 tăng 2,34%. Có 7/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ trong rổ hàng hóa tiêu dùng có chỉ số giá tăng. Trong đó, nhóm tăng nhiều nhất là nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng với mức tăng 4,77%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,27% (do nhóm bột mì và ngũ cốc tăng 12,37%; thịt gia súc tươi sống tăng 9,59%, các loại đậu và hạt tăng 7,1%; rau tươi khô và chế biến tăng 17,2%); nhóm giáo dục tăng 3,04%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 2,96%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,33%. Có 2/11 nhóm hàng hóa tăng nhẹ trong khoảng từ 0,45% đến 1,08% và 4/11 nhóm có chỉ số giá giảm như: nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,14%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,02%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,11%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,08% (do nhóm thiết bị văn hóa giảm 2,12%).
So với tháng cùng kỳ năm trước (tháng 9/2018), chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2019 tăng 0,95%; trong đó tăng cao nhất là thuốc và dịch vụ y tế tăng 9,55%; nhóm giáo dục tăng 3,44%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,06%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,38% ... bên cạnh đó có 4/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm so với cùng kỳ là: giao thông giảm 4,03% (do giá nhiên liệu giảm 6,26%); nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,94% (do giá lương thực giảm 2,82%; thịt gia súc tươi sống giảm 3,04%; dầu mỡ ăn và chất béo khác giảm 7,62%); nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,6% (do giá nhóm điện thoại di động giảm 3,63%) và nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,79% (nhóm thiết bị văn hóa giảm 4,47%).
Chỉ số giá vàng tháng 9/2019 tăng 3,33% so với tháng trước và tăng 22,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính riêng quý III, chỉ số giá vàng tăng 16,8% so với cùng kỳ. Bình quân 9 tháng 2019 chỉ số giá vàng tăng 5,33% so với cùng kỳ và chủ yếu tăng cao ở các tháng trong Quý III/2019.
Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 9/2019 giảm 0,07% so tháng trước và giảm 0,29% so với cùng kỳ. Bình quân quý III năm 2019 tăng 0,24% so bình quân quý III/2018. Bình quân 9 tháng 2019 Chỉ số giá Đô la Mỹ tăng 1,56% so với bình quân cùng kỳ.
III. Đầu tư và xây dựng và tình hình hoạt động của doanh nghiệp
1. Đầu tư
Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn Quý III/2019 ước đạt 8 nghìn tỷ đồng (bao gồm vốn nhà nước 1,6 nghìn tỷ; vốn FDI khoảng 2 nghìn tỷ; vốn ngoài nhà nước 4,5 nghìn tỷ), giảm 4,8% so với cùng kỳ và giảm chủ yếu ở đầu tư của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Tính chung 9 tháng năm 2019 tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn ước tính đạt 29,7 nghìn tỷ đồng, giảm 12,2% so với cùng kỳ, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, ước đạt 13 nghìn tỷ đồng (chiếm 43,4% tổng mức đầu tư trên địa bàn), giảm 30,7% cùng kỳ; vốn đầu tư của khu vực kinh tế trong nước ước đạt 16,8 nghìn tỷ đồng, tăng 10,5% so với cùng kỳ (bao gồm vốn đầu tư do nhà nước quản lý 3,8 nghìn tỷ đồng, giảm 5%; vốn đầu tư của dân cư và tư nhân 13 nghìn tỷ đồng, tăng 15,6% cùng kỳ.
Tính riêng trong khu công nghiệp, trong 9 tháng đầu năm 2019 đã tiếp đón và làm việc với trên 60 lượt khách trong và ngoài nước đến tìm hiểu cơ hộ đầu tư vào các khu công nghiệp trên địa bàn. Kết quả đã vận động được 3 nhà đầu tư ký thỏa thuận thuê lại đất để thực hiện dự án với quy mô lớn tại Khu công nghiệp Sông Công II; cấp mới giấy chứng nhận đầu tư cho 18 dự án vào các khu công nghiệp; điều chỉnh 36 dự án đầu tư, trong đó có 15 dự án điều chỉnh tăng vốn đầu tư với số vốn tăng thêm là 51,8 triệu USD và 43,8 tỷ đồng (tăng 4 dự án so cùng kỳ).
- Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài: Tính từ đầu năm đến 20/9/2019 trên địa bàn tỉnh có 11 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư mới với tổng vốn đầu tư đăng ký là 203 triệu USD (cả 11 dự án đều là sản xuất công nghiệp). So với thời điểm cùng kỳ số dự án FDI cấp phép mới gần tương đương, nhưng  vốn đăng ký tăng gấp 6 lần. Trong đó có 2 dự án lớn được cấp phép mới ở khu công nghiệp Sông Công có tổng vốn đăng ký là 163,22 triệu USD; còn lại 9 dự án khác với tổng vốn đăng ký khoảng 40 triệu USD, được cấp phép ở TP Thái Nguyên, Phổ Yên, Định Hóa và Phú Bình.
Lũy kế đến ngày 20/9/2019, trên địa bàn tỉnh hiện có 137 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 7.902 triệu USD (tương đương khoảng 184 nghìn tỷ đồng).
2. Xây dựng
Giá trị sản xuất xây dựng quý III năm 2019 trên địa bàn ước đạt 5,7 nghìn tỷ đồng, tăng 14% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, đơn vị xây dựng có vốn trong nước thực hiện 5 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1% cùng kỳ.
Tính chung 9 tháng đầu năm 2019, tổng giá trị sản xuất xây dựng ước đạt 15,9 nghìn tỷ đồng, tăng 14,4% so với cùng kỳ. Trong đó, tăng cao nhất là doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt 5,4 nghìn tỷ đồng, tăng 20,3%, xây dựng khối cá thể và hộ dân cư đạt 8,4 nghìn tỷ đồng tăng 12% cùng kỳ.
3. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Tính từ đầu năm đến ngày 15/9/2019 toàn tỉnh cấp mới đăng ký kinh doanh cho 543 doanh nghiệp (tăng 4,8% so với cùng kỳ), với số vốn đăng ký là 5,2 nghìn tỷ đồng (tăng 67,7%). Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 9,6 tỷ đồng (bình quân cùng kỳ là 6,1 tỷ đồng/1 doanh nghiệp). Doanh nghiệp đăng ký mới tập trung nhiều ở TP Thái Nguyên với 299 doanh nghiệp có vốn đăng ký là 2,28 nghìn tỷ đồng; Sông Công là 49 doanh nghiệp có vốn đăng ký 1,56 nghìn tỷ đồng; Phổ Yên 85 doanh nghiệp có vốn đăng ký gần 1 nghìn tỷ đồng; Võ Nhai có 5 doanh nghiệp với vốn đăng ký mới là 91,4 triệu đồng… Ngoài ra, trong 9 tháng 2019 có 80 doanh nghiệp tạm ngừng đã hoạt động trở lại.
Từ đầu năm đến 15/9/2019 đã có 444 doanh nghiệp đóng mã số thuế và 151 doanh nghiệp ngừng hoạt động. Như vậy số doanh nghiệp đóng mã số thuế và ngừng hoạt động gần như tương đương với số doanh nghiệp đăng ký mới và hoạt động trở lại, chỉ chênh lệch tăng 28 doanh nghiệp (số liệu cùng kỳ 9 tháng 2018 cũng hiện trạng tương tự, cụ thể là có 518 doanh nghiệp đăng ký mới và cũng đã có 238 doanh nghiệp xin tạm ngừng hoạt động và 394 doanh nghiệp đóng mã số thuế).
Về lao động làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/9/2019 tăng khoảng 0,26% so với tháng trước nhưng giảm 1,23% so với cùng thời điểm năm 2018, trong đó lao động ngành công nghiệp của khu vực nhà nước giảm 7,8%; doanh nghiệp khu vực FDI giảm 2,87% so với cùng kỳ, nhưng lao động công nghiệp của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 9,8%. Tính chung 9 tháng năm 2019, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp giảm 2,3% so với cùng kỳ và giảm ở 2 khu vực là Nhà nước giảm 7,61%; khu vực FDI giảm 4,92% nhưng lao động khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 14,2% (chủ yếu tăng lao động ở nhóm ngành may mặc). 
Tổng số lao động đang làm việc trong các khu công nghiệp khoảng 106 nghìn người, giảm 3,15 nghìn người so với cùng kỳ, do doanh nghiệp FDI giảm bớt nguồn nhân lực ở nhóm sản xuất, lắp ráp sản phẩm điện tử, viễn thông và một số doanh nghiệp đã dần thay thế máy móc, thiết bị hiện đại vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
IV. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản và thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
1. Trồng trọt
- Cây hàng năm: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Mùa đạt 53,5 nghìn ha, bằng 102,7% so kế hoạch nhưng giảm 0,9% so với diện tích gieo trồng vụ Mùa 2018 và giảm hầu hết ở các loại cây; trong đó, cây lúa đạt 40,2 nghìn ha, bằng 101,7% kế hoạch nhưng giảm 0,96% so với diện tích lúa Mùa năm 2018; cây ngô đạt 4,78 nghìn ha, bằng 100,7% kế hoạch và giảm 0,95% (tương ứng giảm 46 ha) so với vụ Mùa 2018; các cây hàng năm khác diện tích trồng nhỏ lẻ, hiệu quả thấp nên đều giảm so với cùng kỳ (cây khoai lang trồng được 600 ha, giảm 6,1% so cùng kỳ; cây lạc 524 ha, giảm 6,4% so cùng kỳ; đậu các loại 193 ha, giảm 1,5%...); riêng cây rau các loại gieo trồng được 3.546 ha, tăng 7,2% so cùng kỳ và cây đỗ tương 222 ha, tăng 0,45% so cùng kỳ.
Hiện nay một số địa phương đã thu hoạch trà lúa mùa sớm, khả năng năng suất sẽ tương đương hoặc cao hơn so với cùng kỳ năm trước.
- Cây lâu năm: diện tích cây ăn quả toàn tỉnh là khoảng 16 nghìn ha, tăng 0,5% so năm với năm 2018; trong đó, một số cây ăn quả có diện tích tăng hơn so với cùng kỳ năm trước như: Cây na diện tích 768 ha, tăng 11,1%; cây bưởi 1.380 ha, tăng 1,6%; cây ổi 355 ha, tăng 0,57%...Diện tích cây ăn quả trồng mới tiếp tục tăng ở một số cây ăn quả đặc sản như: Thanh long, Na, ổi... cho hiệu quả kinh tế cao.
 Cây chè: Tổng diện tích chè hiện có tính đến tháng 9/2019 là 21,6 nghìn ha, tăng 1,1% so cùng kỳ và chiếm khoảng 57,3% diện tích cây lâu năm. Sản lượng chè búp tươi 9 tháng 2019 ước đạt 197,4 nghìn tấn, tăng 2,7% cùng kỳ (trong đó do yếu tố năng suất tăng khoảng 1,7% và do diện tích tăng 1,1%).
Tính đến ngày 20/9/2019, kết quả đăng ký trồng chè được 917,6 ha/750 ha KH. Dự ước diện tích trồng mới và trồng lại 9 tháng đầu năm 2019 đạt 397 ha, giảm 49% so cùng kỳ và bằng 52,9% kế hoạch cả năm. Trong đó, diện tích trồng mới đạt 109 ha, bằng 29,4% so cùng kỳ và diện tích trồng lại đạt 288 ha, bằng 98,2% kế hoạch cả năm.
* Tình hình sâu bệnh: Tính đến ngày 20/9/2019 diện tích Lúa bị nhiễm sâu, bệnh khoảng 6,1 nghìn ha, trong đó chủ yếu là bệnh khô vằn 4,6 nghìn ha. Trên cây chè diện tích bị nhiễm bệnh khoảng 966 ha, trong đó rầy xanh khoảng 402 ha; bọ cánh tơ khoảng 358 ha, bọ xít muỗi 201 ha…Ngành chức năng và các địa phương chủ động theo dõi diễn biến của các đối tượng gây hại để chủ động các biện pháp phòng trừ kịp thời, đảm bảo năng suất cây trồng.
2. Chăn nuôi
Chín tháng đầu năm 2019, trên địa bàn gặp nhiều khó khăn do xuất hiện dịch Lở mồm long móng và dịch tả lợn Châu phi. Trong đó gặp nhiều khó khăn chủ yếu do dịch tả lợn Châu phi làm ảnh hưởng nhiều đời sống của người chăn nuôi, công tác tái đàn thấp, ảnh hưởng đến đời sống người chăn nuôi.
a. Tóm tắt tình hình dịch bệnh và công tác phòng, chống dịch bệnh
- Bệnh Lở mồm long móng: Từ tháng 01/2019 đến cuối tháng 02/2019 xuất hiện bệnh Lở mồm Long móng trên đàn lợn tại 8/9 địa phương như: Phú Bình, Phú Lương, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Định Hóa và TP Sông Công, TP Thái Nguyên và thị xã Phổ Yên; có 65 hộ, 30 xã, 08 huyện, thành phố, thị xã có lợn mắc bệnh, tổng số lợn mắc bệnh buộc tiêu hủy 894 con.
-  Bệnh Dịch tả lợn Châu phi: Tính lũy kế từ ngày 5/3/2019 khi mới phát hiện ổ dịch đến ngày 22/9/2019, bệnh Dịch tả lợn Châu phi đã phát hiện tại 174 xã, phường, thị trấn trên địa bàn 09 huyện, thành phố, thị xã, tổng số lợn buộc tiêu hủy là 149 nghìn con, trọng lượng 8,67 nghìn tấn của 16.264 hộ thuộc 2.227 thôn, xóm. Tỷ lệ tiêu hủy chiếm 21,22% tổng đàn lợn cuối năm 2018. Có 41 xã, phường đã qua 30 ngày không phát sinh lợn ốm chết và có 9 xã công bố hết dịch (thuộc huyện Phú Bình). Tuy nhiên có 1 số địa bàn trước đây đã qua 30 ngày không có lợn ốm, chết buộc tiêu hủy nhưng lại tái phát ổ dịch trở lại (7 xã, phường/5 huyện, TP như: huyện Võ Nhai, huyện Đồng Hỷ; TP Sông Công, TP Thái Nguyên, huyện Đại Từ).
  • Công tác phòng, chống dịch bệnh:
+ Bệnh lở mồm long móng: Tổ chức 09 lớp tập huấn cho 600 lượt người tham gia; in ấn 10.000 tờ rơi, xây dựng 02 phóng sự, 04 bài báo tuyên truyền về phòng chống bệnh LMLM gia súc.
+ Phòng, chống bệnh Dại: ngành chức năng tuyên truyền qua hệ thống loa đài, tờ rơi, xe tuyên truyền lưu động về tính chất nguy hiểm của bệnh dại, các biện pháp chủ động phòng, chống, lịch triển khai tiêm phòng đồng khởi cho đàn chó, vận động người dân chủ động mang chó đến điểm tiêm phòng dại.
+ Bệnh Dịch Tả lợn Châu Phi: Ngành chức năng, các địa phương đã tích cực triển khai các biện pháp chống dịch; tăng cường công tác giám sát, lấy mẫu bệnh phẩm xét nghiệm xác minh dịch (đã lấy mẫu xét nghiệm của 727 hộ, kết quả 601 hộ có mẫu dương tính); duy trì hoạt động 08 chốt kiểm dịch (05 chốt tỉnh, 03 chốt xã) và 09 đội kiểm tra liên ngành (01 đội cấp tỉnh, 08 đội cấp huyện); triển khai khử trùng tiêu độc với tổng số hoá chất đã cấp khoảng 50 nghìn lít và trên 500 tấn vôi bột.
Về kinh phí thực hiện công tác phòng chống dịch tả lợn Châu phi: Theo báo cáo của cơ quan chức năng, tỉnh Thái Nguyên tổng nhu cầu kinh phí thực hiện công tác phòng chống dịch tả lợn Châu phi đến ngày 20/8/2019 là 287,5 tỷ đồng (trong đó riêng kinh phí hỗ trợ chủ vật nuôi có lợn buộc phải tiêu hủy 236,5 tỷ đồng). Tính đến ngày 5/9/2019 số kinh phí đã thực hiện giải ngân là 99 tỷ. Số kinh phí đề nghị cấp tiếp là 236 tỷ đồng.
Thực hiện tiêm phòng vắc xin cho đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh, kết quả tính đến tháng 9/2019 như sau: Vắc xin Lở mồm long móng: 219.625/170.000 liều, 129,3% KH năm; Vắc xin Tai xanh: 7.570/15.000 liều, đạt 50,5% KH năm; Vắc xin Dại: 148.840/155.000 liều, đạt 96% KH năm; Vắc xin Tụ dấu lợn: 68.950/300.000 liều, đạt 23% KH năm; Vắc xin Dịch tả lợn: 90.530/400.000 liều, đạt 22,6% KH năm; Vắc xin Tụ huyết trùng Trâu, bò: 39.200/95.000 liều, đạt 41,3% KH năm; Vắc xin Cúm gia cầm: 1.500.000/1.500.000 liều, đạt 100% KH năm.
b. Kết quả chăn nuôi
Dự tính thời điểm 30/9/2019: Đàn trâu khoảng 51,7 nghìn con, giảm 0,8% so cùng kỳ; đàn bò khoảng 42,6 nghìn con, tăng 0,7% so cùng kỳ; đàn lợn khoảng 572,5 nghìn con, giảm 15,3%; đàn gia cầm khoảng 13,2 triệu con, tăng 14,7% so cùng kỳ, trong đó đàn gà 11,9 triệu con tăng 13,1% so cùng kỳ.
Ước tính 9 tháng năm 2019 tổng sản lượng chăn nuôi xuất chuồng, giết thịt đạt 102,3 nghìn tấn, giảm 4% so cùng kỳ; trong đó, lợn ước đạt 65 nghìn tấn, giảm 10,5%; gà ước đạt 30,2 nghìn tấn, tăng 8,1%; Trâu, bò ước đạt 5,2 nghìn tấn tăng 6,9%.
Nhìn chung, tình hình chăn nuôi trong Chín tháng đầu năm 2019 gặp nhiều khó khăn do trên địa bàn xuất hiện dịch long móng lở mồm, dịch tả lợn Châu phi nên ảnh hưởng nhiều đến thị trường tiêu thụ, công tác tái đàn. Hiện nay giá lợn giống bình quân tháng 9/2019 tăng 23,34% so với tháng trước; giá gà giống tương đương; giá thịt lợn hơi giảm mạnh trong quý 2/2019, tuy nhiên tính đến thời điểm tháng 9/2019 trên địa bàn toàn tỉnh giá đã tăng trở lại và tăng 25,5% so tháng trước.
Chỉ số giá sản phẩm chăn nuôi tháng 9/2019  tăng 12,24% so với  tháng 8/2019 nhưng giảm 6,67% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số giá bán sản phẩm chăn nuôi lợn tăng 24,45% so với tháng trước (8/2019) và giảm 17,58% so với cùng kỳ năm trước; sản phẩm chăn nuôi gà tăng 6,46% so với tháng 9/2018.
Tính chung quý 3/2019 chỉ số giá bán sản phẩm chăn nuôi chung của người sản xuất giảm 0,1% so với quý 2/2019,  giảm 13,36% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số giá bán sản phẩm chăn nuôi lợn giảm 2% so quý trước (quý 2/2019) và giảm 28,15% so với cùng kỳ năm trước (qúy 3/2018);  chỉ số giá sản phẩm chăn nuôi gia cầm tăng 2,08% so với quý trước và tăng 6,58% so với cùng kỳ năm trước.
3. Lâm nghiệp
Công tác trồng mới và chăm sóc rừng Trồng mới rừng: Trồng rừng tập trung năm 2019 toàn tỉnh đạt 5.238,67 ha, giảm 11,9% so cùng kỳ; chủ yếu rừng sản xuất 4.866,97 ha (chiếm 93%), rừng phòng hộ 351,7 ha. Trong đó, trồng rừng mới theo Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững năm 2019 đạt 2.554 ha, bằng 100,2% so kế hoạch. Số lượng cây trồng rừng phân tán đạt 682,7 nghìn/500 nghìn cây, tăng 136,5% so kế hoạch.
Công tác tuyên truyền quản lý và bảo vệ rừng: Tính chung từ đầu năm đến tháng 9/2019, ngành chức năng phối hợp tổ chức 164 lớp tuyên truyền về pháp luật quản lý, bảo vệ và phát triển rừng với 7,9 nghìn lượt người tham gia. Thực hiện chuyên mục 9 quản lý bảo vệ rừng và 25 tin bài trên sóng truyền hình và báo Thái Nguyên; tổ chức 09 lớp tập huấn công tác quản lý bảo vệ, phát triển và phòng cháy chữa cháy rừng; Phối hợp với phòng cháy chữa cháy công an tỉnh tổ chức huấn luyện về công tác phòng cháy chữa cháy cho 60 cán bộ trong ngành.
Công tác khai thác lâm sản: Sản lượng khai thác 9 tháng 2019 ước đạt  143,6 nghìn m3 gỗ, tăng 18,5% so cùng kỳ; 140 nghìn ste củi, tăng 10,3% so với cùng kỳ.
Kết quả ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng: 9 tháng trên địa bàn không có vụ cháy rừng xảy ra; có 8 vụ phá rừng với diện tích khoảng 10,3 ha. Nguyên nhân các vụ phá rừng trên là do phá để trồng rừng, làm đường, san ủi một phần do sạt lở thiên tai; Lũy kế 8 tháng đầu năm 2019 đã xử lý đã xử lý 131 vụ, giảm 33% so với cùng kỳ; tịch thu 204 m3 gỗ quy tròn các loại (giảm 34% so với cùng kỳ) và 10 phương tiện các loại; thu nộp ngân sách nhà nước 943,5 triệu đồng (giảm 50% so với cùng kỳ).
4. Thủy sản
Tính đến hết tháng 9/2019, dự ước sản xuất giống thủy sản trên địa bàn đạt 500 triệu con cá bột, 50 triệu con cá giống các loại. Sản lượng thủy sản thương phẩm 9 tháng năm 2019 đạt khoảng 9,3 nghìn tấn, tăng 11,5% so cùng kỳ; trong đó, sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 8,2 nghìn tấn, chiếm 98,3% tổng sản lượng thủy sản, tăng 11,5% so cùng kỳ và bằng 70,2% kế hoạch năm 2019.
5. Tiến độ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Năm 2019 tỉnh Thái Nguyên đặt ra mục tiêu xây dựng 13 xã trở lên đạt chuẩn Nông thôn mới; tiếp tục xây dựng 09 xã “nông thôn mới kiểu mẫu” giai đoạn 2016-2020; thị xã Phổ Yên hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; duy trì, nâng cao chất lượng tiêu chí đối với những xã đã công nhận đạt chuẩn nông thôn mới theo tiêu chí xã nâng cao và xã nông thôn mới kiểu mẫu; tăng số tiêu chí đạt chuẩn với các xã còn lại.
- Trên địa bàn có 91 xã đạt 19/19 tiêu chí; trong đó 88 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới (bao gồm cả 4 xã đã chuyển thành phường; trong đó 56 xã đạt chuẩn NTM theo Bộ tiêu chí giai đoạn 2011-2016, 32 xã đạt chuẩn NTM theo Bộ tiêu chí NTM giai đoạn 2017-2020), tăng 48 xã so với năm 2015; cao hơn 2,3 lần so với khu vực Miền núi phía Bắc (26,45%) và cả nước (50,26%).  Dự kiến hết năm 2019 sẽ có 101 xã đạt chuẩn (bằng 70%); về đích sớm trước 01 năm so với mục tiêu Nghị quyết  Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XIX.
- Kết quả rà soát 55 xã chưa đạt chuẩn NTM (theo Bộ tiêu chí giai đoạn 2017-2020): Đạt từ 15-18 tiêu chí có 09 xã, đạt tỷ lệ 16,36%; Đạt từ 10-14 tiêu chí có 41 xã, đạt tỷ lệ 74,54%; Đạt từ 06-10 tiêu chí có 05 xã, đạt tỷ lệ 9,1%.
- Bình quân đạt 16,12 tiêu chí/xã; thấp hơn 0,48 tiêu chí/xã so với 9 tháng cuối năm 2018, do các địa phương đã rà soát lại các tiêu chí theo Bộ tiêu chí xã NTM giai đoạn 2017-2020.
  • Có 3/9 đơn vị cấp huyện (33,33%) hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM (Thành phố Thái Nguyên và thành phố Sông Công đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận; thị xã Phổ Yên đang trình Thủ tướng Chính Phủ công nhận trong tháng 9/2019).
  •  Kết quả thực hiện Bộ tiêu chí “xã NTM kiểu mẫu”: Đến nay mới có xã Vinh Sơn là cơ bản đạt 19 tiêu chí (địa phương đang tiến hành lập hồ sơ đề nghị công nhận).
- Kết quả thực hiện Bộ tiêu chí “xóm NTM kiểu mẫu”: Đến nay đã có 12 xóm được UBND cấp huyện công nhận đạt xóm NTM kiểu mẫu (trong đó có 5/9 xóm theo Quyết định 3046/QĐ-UBND của UBND tỉnh về việc phê duyệt danh sách 09 xóm đăng ký xây dựng “xóm NTM kiểu mẫu”năm 2017-2018
* Tổng vốn huy động thực hiện Chương trình của tỉnh đến nay đạt trên 21.357 tỷ đồng, trong đó:
- Ngân sách Trung ương 4.028 tỷ đồng; Vốn tín dụng ưu đãi của Chính phủ 460 tỷ đồng; Ngân sách tỉnh 2.612 tỷ đồng; Ngân sách huyện 2.212 tỷ đồng;  Ngân sách xã 250 tỷ đồng;
- Đóng góp của cộng đồng dân cư (gồm: tiền, ngày công lao động, vật tư, hiến đất và tài sản,… đã tính quy đổi bằng tiền mặt) là 3.344 tỷ đồng.
- Vốn đầu tư phát triển sản xuất của các doanh nghiệp, HTX, trang trại, hộ gia đình và các nguồn vốn hợp pháp khác: 8.451 tỷ đồng.
V. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số tiêu thụ sản phẩm công nghiệp tháng tháng 8/2019 vừa qua tăng 76,6% so với cùng kỳ; tính chung 8 tháng 2019 chỉ số tiêu thụ sản phẩm công nghiệp tăng 37,6% (trong đó tăng cao ở nhóm sản phẩm xi măng, sắt thép, may và sản phẩm điện tử, máy vi tính, sản phẩm quang học) nên chỉ số tồn kho sản phẩm công nghiệp tháng 8/2019 giảm 17,4% so với cùng kỳ. Lượng tồn kho của các đơn vị sản xuất công nghiệp tính đến đầu tháng 9/2019 như sau: sắt thép tồn 90 nghìn tấn, giảm 52,2%; điện thoại thông minh và máy tính bảng tồn 1,9 triệu sản phẩm, giảm 10,9% so với cùng kỳ; xi măng tồn kho 82 nghìn tấn, tăng 68,4%; sản phẩm may tồn 7,5 triệu sản phẩm, tăng 32,6% so với cùng kỳ...
- Ước tính sản xuất công nghiệp tháng 9/2019: Với tình hình sản xuất, tiêu thụ như trên, dự ước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tháng 9/2019 tăng 1,1% so với tháng trước, tăng 13,6% với cùng kỳ. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 13,9% so với cùng kỳ; sản xuất và phân phối điện giảm 1,5% so với tháng trước nhưng tăng 25% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp khai khoáng giảm 16,3% so với cùng kỳ.
Về sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất tháng 9/2019: Nhóm sản phẩm ước tính sản lượng tăng trên 10% so với cùng kỳ là: sắt thép các loại đạt 110,4 nghìn tấn, tăng 30,4%; sản phẩm may đạt 7,5 triệu sản phẩm, tăng 29,2%; xi măng đạt 192,5 nghìn tấn, tăng 19,6%; thiết bị và dụng cụ khác trong y khoa đạt 129,2 triệu sản phẩm, tăng 14,5%; camera truyền hình đạt 6 triệu sản phẩm, tăng 80,2%; điện sản xuất đạt 110 triệu kwh, tăng 42,6%; mạch điện tử tích hợp đạt 11 triệu sản phẩm, tăng 39%; tai nghe khác đạt 4,2 triệu sản phẩm, tăng 37,8%; vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 1,3 nghìn tấn, tăng 34,6%...
Nhóm sản phẩm tháng 9/2019 ước tính tăng dưới 10% hoặc giảm so cùng kỳ là: điện thoại thông minh đạt 10,5 triệu sản phẩm, tăng 5,8% (trong đó, điện thoại có giá dưới 3 triệu giảm 8,3%; điện thoại có giá từ 6 triệu trở lên tăng 21,9%); điện thương phẩm đạt 455 triệu kwh, tăng 4,7%; giấy và bìa đạt 3,2 nghìn tấn, tăng 3,2%; than khai thác đạt 95,8 nghìn tấn, giảm 0,1%; đồng tinh quăng (Cu>20%) đạt 3,5 nghìn tấn, giảm 0,8%; gạch xây dựng bằng gốm, sứ đạt 5,7 triệu viên, giảm 5,5%; nước máy thương phẩm đạt 2,7 triệu m3, giảm 5,5%; máy tính bảng đạt 1,4 triệu sản phẩm, giảm 22,2%...
- Diễn biến chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2019: Chỉ số sản xuất công nghiệp diễn biến theo hướng tích cực, quý sau đều đạt tốc độ tăng cao hơn quý trước. Chỉ số sản xuất công nghiệp Quý I/2019 tăng 5,97%; Quý II tăng 9,52% và ước tính Quý III/2019 đạt tốc độ tăng cao nhất, với mức tăng 12,7% so với cùng kỳ.
Trong Quý III/2019 có 2 ngành có chỉ số tăng so với cùng kỳ là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,7%, ngành sản xuất và phân phối điện tăng 36,8%; còn lại 2 ngành có chỉ số giảm là ngành khai khoáng giảm 6,1% và ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 6,9% so cùng kỳ.
Sản phẩm chủ yếu quý III/2019: nhóm sản phẩm công nghiệp tăng trên 10% so với cùng kỳ như: điện sản xuất đạt 373,2 triệu kwh, tăng 67%; camera truyền hình đạt 16,3 triệu sản phẩm, tăng 55,7%; tai nghe khác đạt 11,9 triệu sản phẩm, tăng 43%; xi măng đạt 565,2 nghìn tấn, tăng 29,5%; mạch điện tử tích hợp đạt 30,9 triệu sản phẩm, tăng 29,3%; sản phẩm may đạt 21,6 triệu sản phẩm, tăng 19%; thiết bị và dụng cụ khác trong y khoa đạt 383,1 triệu sản phẩm, tăng 17,1%; sắt thép các loại đạt 299,5 nghìn tấn, tăng 14,3%; than khai thác đạt 291,1 nghìn tấn, tăng 11%... Nhóm sản phẩm ước tính tăng dưới 10% so cùng kỳ là: vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 4,1 nghìn tấn, tăng 9,1%; điện thoại thông minh đạt 31 triệu sản phẩm, tăng 6,8%; điện thương phẩm đạt 1.335 triệu kwh, tăng 3,1%; giấy và bìa đạt 9,3 nghìn tấn, tăng 1,5%. Nhóm sản phẩm giảm so cùng kỳ là: phụ tùng khác của xe có động cơ đạt 17 triệu sản phẩm, giảm 0,1%; nước máy thương phẩm đạt gần 8 triệu m3, giảm 7,9%; gạch xây dựng bằng gồm, sứ đạt 15,7 triệu viên, giảm 12%; đồng tinh quặng (Cu>20%) đạt 10,6 nghìn tấn, giảm 13,7%; máy tính bảng đạt 4 triệu sản phẩm, giảm 21%...
Tính chung 9 tháng năm 2019, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 9,8% so với cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 9,9% (tăng cao ở các nhóm ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 50,1%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 33,9%; sản xuất trang phục tăng 21,6%; nhóm sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 10,3%); ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước tăng 15,8%; mặt khác ngành công nghiệp khai khoáng giảm 6,6% ngành cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 10,5%.
Nếu tính theo giá so sánh năm 2010, Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn 9 tháng đầu năm 2019 ước đạt 542 nghìn tỷ đồng, bằng 72,9% kế hoạch cả năm. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 39,2 nghìn tỷ đồng, tăng 10,8% so cùng kỳ và bằng 84,4% kế hoạch (bao gồm: công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp địa phương là 22,2 nghìn tỷ đồng, bằng 78,3% kế hoạch và tăng 12,1% cùng kỳ; công nghiệp nhà nước Trung ương 17 nghìn tỷ đồng, bằng 94,2% kế hoạch, tăng 9% cùng kỳ) và công nghiệp khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 502,9 nghìn tỷ đồng, bằng 72,1% kế hoạch, tăng 10,7% cùng kỳ.
Nếu tính theo giá hiện hành, Giá trị sản xuất công nghiệp 9 tháng 2019 đạt khoảng 603,2 nghìn tỷ đồng, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với mức 99% so với tổng số; ngành công nghiệp khai khoáng chiếm tỷ trọng 0,57% và ngành công nghiệp sản xuất, phân phối điện, nước chiếm khoảng 0,47%.
Về sản phẩm công nghiệp sản xuất 9 tháng đầu năm 2019, nhóm sản phẩm điện tử điện thoại thông minh và máy tính bảng ước đạt 95 triệu sản phẩm, tăng 4% về số lượng sản phẩm so với cùng kỳ và bằng 77,4% kế hoạch cả năm. Trong đó, điện thoại thông minh đạt 82,4 triệu sản phẩm, tăng 7,9% cùng kỳ và bằng 84,9% kế hoạch (nhóm điện thoại có giá từ 6 triệu trở lên ước đạt 24,9 triệu sản phẩm, chiếm gần 30,2% tổng số, tăng 13,5% so với cùng kỳ; nhóm điện thoại có giá từ 3 đến dưới 6 triệu đạt 23,2 triệu sản phẩm, tăng 9%; nhóm điện thoại có giá dưới 3 triệu đạt 34,2 triệu sản phẩm, tăng 3,6%); máy tính bảng đạt 12,6 triệu sản phẩm, giảm 16,1% cùng kỳ và bằng 48,9% kế hoạch.
Bên cạnh đó, nhóm sản phẩm tăng cao so cùng kỳ và đạt trên 65% kế hoạch là: Sản phẩm may đạt 61,7 triệu sản phẩm, tăng 21,5% cùng kỳ và bằng 85,8% kế hoach; mạch điện tử tích hợp đạt 78,8 triệu sản phẩm, tăng 31,9% cùng kỳ và bằng 87,1% kế hoạch; camera truyền hình đạt 52,9 triệu sảm phẩm, tăng 57,2% và bằng 79,1%; điện thương phẩm đạt 3.659 triệu kwh, tăng 3,7% cùng kỳ và bằng 71,2%; xi măng đạt 1,6 triệu tấn, tăng 13,9% cùng kỳ và bằng 69% kế hoạch... Nhóm sản phẩm có sản lượng giảm so với cùng kỳ và đạt thấp so với kế hoạch cả năm là: vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 12,2 nghìn tấn, giảm 4,6% cùng kỳ bằng 61,4% kế hoạch; than khai thác đạt gần 1 triệu tấn, giảm 6,5% cùng kỳ và bằng 62,2% kế hoạch; sắt thép các loại đạt 929 nghìn tấn, giảm 7,4% cùng kỳ và bằng 58,3% kế hoạch; nước máy thương phẩm đạt 22,6 triệu m3, giảm 11,2% cùng kỳ và bằng 64,5% kế hoạch; tai nghe khác đạt 28,4 triệu sản phẩm, giảm 12,5% cùng kỳ và bằng 27,6% kế hoạch...
Với kết quả sản xuất của Quý III và ước tính 9 tháng 2019 để đạt được mục tiêu kế hoạch cả năm 2019 thì giá trị sản xuất công nghiệp trong Quý IV/2019 cần đạt 201,6 nghìn tỷ đồng, trong đó công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải đạt 194,4 nghìn tỷ đồng, tăng 21,8% so cùng kỳ; công nghiệp địa phương và công nghiệp Trung ương chỉ cần đạt giá trị sản xuất tương đương so với cùng kỳ thì mục tiêu kế hoạch sản xuất công nghiệp cả năm 2019 trên địa bàn sẽ hoàn thành.
Để đạt được mục tiêu trên thì nhiệm vụ của khu vực công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là rất nặng nề, nếu không duy trì về số lượng lao động và không có sự cải thiện về tiêu thụ sản phẩm các sản phẩm như: đồng tinh quặng, vonfram và sản phẩm của vonfam; máy tính bảng... thì việc hoàn thành kế hoạch cả năm hết sức khó khăn.
VI. Thương mại, giá cả, dịch vụ
1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn tỉnh tháng 9 năm 2019 ước đạt 3,18 nghìn tỷ đồng, tăng 2,4% so với tháng trước, tăng 12,3% so với cùng kỳ. Tính riêng quý III/2019 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn đạt 8,3 nghìn tỷ đồng, tăng 13,7% cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước đạt 466,3 tỷ đồng, tăng 13,8%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước đạt 7,8 nghìn tỷ đồng, tăng 30%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 28,2 tỷ đồng, tăng 11,9%.
Tính chung 9 tháng 2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước đạt 27,4 nghìn tỷ đồng, tăng 12,7% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực nhà nước ước đạt 1,45 nghìn tỷ đồng, tăng 14,3%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 25,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,6% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 150,6 tỷ đồng, tăng 8,9% so với cùng kỳ.
Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng đầu năm, khu vực kinh tế cá thể đạt 16,2 nghìn tỷ đồng (chiếm 59% thị phần bán lẻ), tăng 13% so với cùng kỳ, còn lại là khối doanh nghiệp vốn trong nước đạt 9.635 tỷ đồng (chiếm 35,2%), tăng 12%; còn lại 1 phần nhỏ là doanh thu dịch vụ lưu trú của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI.
Nếu phân theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ ước đạt 21,6 nghìn tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 78,7%), tăng 13,4% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống doanh thu ước đạt 2.695 tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành chỉ chiếm rất nhỏ (đạt 71,1 tỷ đồng, tăng 9,6% so với cùng kỳ) và nhóm dịch vụ tiêu dùng khác ước đạt 3.062 tỷ đồng, tăng 9,2% so với cùng kỳ.
Trong cơ cấu doanh thu bán lẻ, tất cả các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng 9 tháng đầu năm 2019 đều tăng. Nhóm mặt hàng đạt doanh thu bán lẻ lớn nhất là nhóm lương thực, thực phẩm đạt 7.103,1 tỷ đồng (chiếm  32,9% doanh thu bán lẻ), tăng 14,4% so với cùng kỳ; tiếp đến nhóm hàng xăng, dầu các loại ước đạt 2.567,4 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 11,9%), tăng 14%; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 2.436 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 11,3%), tăng 13,5% cùng kỳ; nhóm ô tô các loại đạt 2.266 tỷ đồng, tăng 14,2%; nhóm hàng may mặc đạt 1.638,9 tỷ đồng, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước...
2. Xuất, nhập khẩu
a. Xuất khẩu
Tổng trị giá hàng hóa xuất khẩu tháng 9/2019 ước đạt 2,44 tỷ USD, tăng 0,2% so tháng trước, tăng 6,6% so với cùng kỳ; trong đó, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 2,39 tỷ USD, tăng 6,5% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế trong nước 49,7 triệu USD, tăng 13,9% so với cùng kỳ.
Mặt hàng xuất khẩu tháng 9/2019 tăng trên 10% so cùng kỳ là điện thoại thông minh đạt 10,5 triệu sản phẩm với giá trị đạt 2,01 tỷ USD, tăng 45,6% về lượng và tăng 50% về giá trị; sản phẩm từ sắt thép đạt 7,9 triệu USD, tăng 41,3%; sản phẩm may đạt 39,6 triệu USD, tăng 23,2%; phụ tùng vận tải đạt 0,7 triệu USD, tăng 12,4%… Nhóm hàng xuất khẩu tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ như: máy tính bảng xuất đạt 1,2 triệu sản phẩm với giá trị đạt 253 triệu USD,  giảm 34,8% về lượng và giảm 3% về giá trị; kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 16,1 triệu USD, giảm 8,1%; chè các loại đạt 141 tấn với giá trị đạt 0,2 triệu USD, giảm 17,1% về lượng và giảm 12,8% về giá trị; linh kiện điện tử và phụ tùng khác đạt 110,8 triệu USD, chỉ bằng 17,7% cùng kỳ.
Ước tính riêng III/2019, giá trị xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn đạt gần 7 tỷ USD, tuy giảm 2% so với quý II/2019 nhưng tăng 12,5% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 148,6 triệu USD, tăng 12,6% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 6,85 tỷ USD, tăng 12,5% so với cùng kỳ.
Tính chung 9 tháng đầu năm 2019 xuất khẩu trên địa bàn tăng so cùng kỳ ở tất cả các khu vực. Tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn 9 tháng đạt khoảng 20,7 tỷ USD, tăng 11,3% so với giá trị xuất khẩu cùng kỳ và bằng 75,2% kế hoạch cả năm. Trong đó, xuất khẩu do địa phương quản lý đạt 411,7 triệu USD, tăng 34,2% so với cùng kỳ và bằng 68,6% kế hoạch; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu 20,3 tỷ USD, tăng 10,9% so với cùng kỳ và bằng 75,4% kế hoạch.
Nhóm mặt hàng xuất khẩu 9 tháng 2019 chiếm tỷ trọng lớn là nhóm sản phẩm điện thoại các loại, máy tính bảng và kinh kiện điện tử ước đạt 20,1 tỷ USD (chiếm 97,2% tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn), tăng 11,1% so với cùng kỳ và bằng 82,2% kế hoạch (trong đó điện thoại thông minh và máy tính bảng xuất khẩu 92,2 triệu sản phẩm với giá trị 17,7 tỷ USD, tăng 21,5% về lượng và tăng 23,8% về giá trị so cùng kỳ và bằng 83% kế hoạch; linh kiện và sản phẩm điện tử các loại khác ước đạt 2,4 tỷ USD, giảm 36,5% cùng kỳ và bằng 76,3% kế hoạch cả năm).
Ngoài ra một số mặt hàng đạt tốc độ xuất khẩu tăng cao, đóng góp vào tốc độ tăng của xuất khẩu địa phương là sản phẩm may 301,1 triệu USD, tăng 34,4% cùng kỳ; phụ tùng vận tải đạt 5,8 triệu USD, gấp 2 lần; sản phẩm từ sắt thép đạt 64,6 triệu USD, tăng 56,8% và bằng 124,2% kế hoạch; chè các loại 1,3 nghìn tấn với trị giá xuất khẩu 2 triệu USD, tăng 8,5% về lượng và tăng 6,4% về giá trị xuất khẩu tuy nhiên chỉ mới bằng 25,3% kế hoạch cả năm…nhóm mặt hàng xuất khẩu giảm so cùng kỳ là: kim loại màu và tinh quặng kim loại màu 183,5 triệu USD, giảm 6,6% và bằng 102% kế hoạch cả năm...
Giá trị xuất khẩu trên địa bàn trong 9 tháng năm 2019 toàn bộ là xuất khẩu theo hình thức trực tiếp. Thị trường xuất khẩu lớn nhất là Châu Âu chiếm tỷ trọng 33% tổng số và thị trường xuất khẩu lớn thứ hai là Chấu Á chiếm tỷ trọng 30% tổng giá trị xuất khẩu. Trên thị trường Châu Âu, hàng hóa xuất khẩu tập trung chủ yếu ở khu vực Tây Âu và Đông Âu như: Slô-va-ki-a khoảng 1,4 tỷ USD; Anh đạt 0,9 tỷ USD; Pháp đạt 0,8 tỷ USD. Trên thị trường Châu Á, hàng hóa xuất khẩu tập trung chủ yếu ở khu vực Tây Á và khu vực Đông Á: thị trường Hàn Quốc là 1,9 tỷ USD (bằng 9,4% tổng giá trị xuất khẩu), Các tiểu vương quốc Ả - rập Thống Nhất đạt 1,3 tỷ USD, Thái Lan đạt 641 triệu USD. Ngoài ra, Châu Mỹ chiếm 28,3% tổng giá trị xuất khẩu, trong đó nước Mỹ chiếm chủ yếu với 4,1 tỷ USD.
Với kết quả ước tính 9 tháng đầu năm 2019 để đạt được kế hoạch đề ra thì xuất khẩu quý IV/2019 cần đạt 6,8 tỷ USD, tăng 9,6% so với quý IV/2018. Với mức này thì các đơn vị xuất khẩu cần giữ vững mức xuất khẩu như các tháng trong Quý III/2019 thì kế hoạch xuất khẩu cả năm 2019 sẽ hoàn thành.
b. Nhập khẩu
Tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn tháng 9/2019 ước đạt 1,27 tỷ USD, tăng 0,7% so với tháng trước, giảm 8% so với cùng kỳ. Trong đó linh kiện điện tử đạt 1,2 tỷ USD, giảm 6,2% so với cùng kỳ; vải các loại và phụ kiện may mặc đạt 11,7 triệu USD, giảm 15,4%; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 5,5 triệu USD, cao gấp 2 lần cùng kỳ; sản phẩm từ sắt thép đạt 5,3 triệu USD, tăng 38,3%...
Ước tính tổng giá trị nhập khẩu quý III/2019 đạt 3,9 tỷ USD, tăng 1,5% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 53,9 triệu USD, giảm 16,4% so với cùng kỳ; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 3,9 tỷ USD, tăng 1,8% so với cùng kỳ.
Tính chung 9 tháng 2019, giá trị nhập khẩu trên địa bàn ước đạt 11,7 tỷ USD, tăng 11,2% so với cùng kỳ; trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 195,7 triệu USD, tăng 1,9% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 11,5 tỷ USD (chiếm 98,3% tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn), tăng 11,4% so với cùng kỳ.
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ là: máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 77,1 triệu USD, tăng 94,8%; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 31,5 triệu USD, tăng 24,1%; vải và nguyên, phụ liệu dệt may đạt 133,6 triệu USD, tăng 21,4%; giấy các loại đạt 4,7 triệu USD, tăng 17,5%; nguyên liệu và linh kiện điện tử đạt 11,2 tỷ USD, tăng 11,7%... Ngoài ra nhóm hàng nhập khẩu chủ yếu đạt thấp hơn so với cùng kỳ như: chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 84,9 triệu USD, giảm 4,2%; sản phẩm từ sắt thép đạt 34,3 triệu USD, giảm 49,7%...
Nguồn nguyên, vật liệu nhập khẩu trong 9 tháng 2019 toàn bộ được nhập khẩu theo hình thức trực tiếp và chủ yếu nhập khẩu từ thị trường Châu Á với giá trị 11 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 94,5% tổng số); trong đó tập trung chủ yếu ở các nước như: Hàn Quốc là 4,3 tỷ USD, Trung Quốc với 4,4 tỷ USD và Nhật Bản 888 triệu USD...
3. Vận tải
- Vận tải hành khách: Hành khách vận chuyển tháng 9/2019 ước đạt 1,89 triệu lượt khách với khối lượng luân chuyển là 107,8 triệu lượt hành khách.km; tăng 12,8% so với cùng kỳ về số lượng hành khách vận chuyển, tăng 11,5% về số hành khách luân chuyển.
Tính chung 9 tháng đầu năm 2019 hành khách vận chuyển ước đạt 14,58 triệu lượt hành khách với khối lượng luân chuyển là 830,7 triệu lượt hành khách.km, tăng 8,9% so với cùng kỳ về số hành khách vận chuyển và tăng 8,5% về số lượng hành khách luân chuyển.
Nếu chia theo Quý thì trong 9 tháng đầu năm 2019, Quý II là quý có số lượng vận chuyển hành khách cao nhất so với quý I và quý III năm 2019, do  đây là khoảng thời gian có ngày nghỉ lễ nhiều và là mùa du lịch trong năm.
- Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 9/2019 ước đạt 3,6 triệu tấn với khối lượng luân chuyển ước đạt 145,6 triệu tấn.Km, tăng 11,1% so với cùng kỳ về khối lượng hàng hóa vận chuyển và tăng 10,8% về khối lượng hàng hóa luân chuyển. Tính chung 9 tháng 2019, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 31,3 triệu tấn với khối lượng luân chuyển là 1.243,9 triệu tấn.km, so với cùng kỳ tăng 8,3% về khối lượng vận chuyển và tăng 8,2% khối lượng luân chuyển.
Trong đó quý III/2019 khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 10,4 triệu tấn  hàng hóa với 419,6 triệu tấn.km; so với cùng kỳ tăng 7,2% về khối lượng hàng hóa vận chuyển và tăng 7,4% về số lượng hàng hóa luân chuyển. Quý III/2019 là quý có khối lượng vận chuyển hàng hóa nhiều nhất so với quý I và tương đương quý II năm 2019 do là Quý các dự án xây dựng đẩy nhanh tiến độ thi công.
Tổng doanh thu vận tải trên địa bàn tháng 9/2019 ước đạt 393,7 tỷ đồng, tăng 10% so tháng trước và tăng 12% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 79,4 tỷ đồng, tăng 12,1% so với tháng trước và tăng 13,1% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa là 288,3 tỷ đồng, tăng 9,5% so tháng trước và tăng 12% cùng kỳ; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 26 tỷ đồng, tăng 8,6% so cùng kỳ và tăng 9,2% so tháng trước.
Tính chung 9 tháng đầu năm 2019, tổng doanh thu vận tải trên địa bàn ước đạt 3.272 tỷ đồng, tăng 11,4% cùng kỳ, trong đó, doanh thu vận tải hành hóa chiếm tỷ trọng cao nhất và đạt 2.457 tỷ đồng, tăng 11,3%; doanh thu vận tải hành khách 596,9 tỷ đồng, tăng 12,2%; doanh thu từ dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 218 tỷ đồng, tăng 10,6%.
Tính riêng Quý III/2019 doanh thu vận tải ước đạt 1.110 tỷ đồng, tăng 11,1% so với cùng kỳ và tăng 1% so với Quý II/2019. Doanh thu vận tải trong các Quý đều đạt mức tăng trên 10% so với cùng kỳ ở cả vận tải hàng hóa và hành khách.
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin tuyên truyền
Chín tháng đầu năm 2019,  trên địa bàn các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao chào mừng các sự kiện chính trị, ngày lễ, kỷ niệm được tổ chức hiệu quả, sôi nổi, rộng khắp (74 năm cách mạng tháng Tám thành công, Quốc khánh 2/9, 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh...). Hoạt động lễ hội nhìn chung được tổ chức trang trọng, an toàn, tiết kiệm, phát huy được các giá trị truyền thống và đúng quy định của Nhà nước. Hoạt động giới thiệu về Thái Nguyên tiếp tục được thực hiện có hiệu quả thông qua các chương trình quảng bá văn hoá, xúc tiến du lịch.
Hoạt động bảo tàng: Tổ chức trưng bày triển lãm “Thành tựu kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên”; “Thái Nguyên 50 năm thực hiện di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh” tại Hà Nội; triển lãm bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử”; hội thảo khoa học “Những phát hiện mới khảo cổ học thời tiền sử tại Thái Nguyên và kinh nghiệm trong việc phát huy giá trị hiện vật khảo cổ tại Bảo tàng” và triển lãm. Hoàn thành công tác sưu tầm hiện vật đợt I/2019 với chủ đề "Sưu tầm tài liệu, hiện vật về đời sống văn hóa và một số nghề thủ công truyền thống của dân tộc Tày, Nùng, Dao, Sán Chay trên địa bàn thành phố Thái Nguyên và các huyện Định Hóa, Phú Lương, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ" với 146 hiện vật; sưu tầm mới 60 ảnh phục vụ triển lãm; triển khai  sưu tầm hiện vật đợt 2 với chủ đề "Cách mạng kháng chiến và lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên”. Phối hợp tổ chức lễ hội “Hương sắc trà xuân-Vùng chè đặc sản Tân Cương”; phục vụ 13,8 nghìn lượt khách tham quan.
Hoạt động phát hành phim và chiếu bóng: Tổ chức 884 buổi chiếu phim (858 buổiphục vụ các xã vùng khó khăn, đối tượng chính sách;  26 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị); phục vụ 58 nghìn lượt người xem.
Hoạt động thư viện: Tổ chức và phối hợp tổ chức Hội báo xuân; tổ chức Ngày hội sách và văn hoá tỉnh Thái nguyên; hội thi “Thiếu nhi kể chuyện theo sách”; hội sách chào mừng năm học mới 2019-2020; triển lãm ảnh và giới thiệu tài liệu ... Tham gia Liên hoan tuyên truyền, giới thiệu sách kỷ niệm 65 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đạt giải Ba toàn đoàn;thực hiện 27 cuộc giới thiệu sách trên Đài Phát thanh -Truyền hình tỉnh. Tuyên truyền giới thiệu sách, báo chí tại Lễ hội thơ Nguyên Tiêu và Ngày Hội sách.
Hoạt động Khu di tích lịch sử và sinh thái ATK - Định Hoá: Thực hiện  đảm bảo kế hoạch công tác lập hồ sơ khoa học, nghiên cứu sưu tầm, bổ sung tài liệu, hiện vật và trưng bày,triển lãm; các dự án đầu tư xây dựng, phục hồi, tu bổ di tích; bảo tồn sinh thái - cảnh quan và môi trường; tuyên truyền quảng bá và bảo tồn, phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch. Tổ chức trưng bày triển lãm ảnh "Nơi khởi phát chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ"; phối hợp tổ chức thành công gala nhạc hội “Gió núi mây ngàn”; sưu tầm 32 tài liệu, hiện vật dân tộc học và hiện vật  thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Đón tiếp, phục vụ dâng hương tại Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, tham quan quần thể di tích quốc gia đặc biệt ATK; phục vụ 2,2 nghìn đoàn khách và trên 516,6 nghìn lượt khách.
Hoạt động biểu diễn, xây dựng đời sống văn hoá cơ sở: Tổ chức chương trình nghệ thuật ; tham gia Liên hoan tuyên tuyền kỷ niệm 65 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, đạt 03 giải A, 03 giải B; 02 huy chương Vàng, 02 huy chương Bạc tại Hội thi múa không chuyên toàn quốc; 02 giải Nhì, 02 giải Ba tại Hội thi tìm hiểu về chủ quyền biển, đảo Việt Nam. Tổ chức 84 buổi biểu diễn nghệ thuật (23 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị, 61 buổi phục vụ vùng đặc biệt khó khăn và các dối tượng chính sách); tham gia Liên hoan sân khấu chèo chuyên nghiệp toàn quốc..
Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, chung tay xây dựng Nông thôn mới: triển khai thực hiện kết luận của Thủ tướng, Phó Thủ tướng Chính phủ về công tác bảo vệ trẻ em, nâng cao hiệu quả hoạt động phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa. Nâng cao chất lượng, hiệu quả và phối hợp tổ chức các hoạt động học tập, văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao và vui chơi giải trí; tăng cường giải pháp phòng chống xâm hại, bạo lực,chống đuối nước trẻ em; thực hiện Tháng hành động vì người cao tuổi Việt Nam; thẩm tra mức độ hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; khảo sát đánh giá công tác xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước trên địa bàn tỉnh...
Hoạt động thể thao: Tổ chức các hoạt động thể thao, chạy Olympic vì sức khoẻ toàn dân; giải chạy tập thể, Việt dã Tiền phong tỉnh Thái Nguyên; giải thể thao truyền thống  ngành Văn hoá,Thể thao và Du lịch; đăng cai tổ chức 02 giải toàn quốc (vô địch taekwondo học sinh, vô địch cầu lông đồng đội). Tham gia các giải toàn quốc (bóng bàn, cầu lông gia đình; điền kinh, thể thao dân tộc, cầu lông trung cao tuổi), đạt 36 huy chương (11 HCV, 12 HCB, 13HCĐ)...
Thể thao thành tích cao: Duy trì công tác quản lý, huấn luyện, kiểm tra việc tập luyện của các đội tuyển. Tham gia thi đấu 18/29 giải theo kế hoạch (16 giải toàn quốc, 02 giải thế giới) và 04 giải ngoài kế hoạch (01 giải Đông Nam Á, 03 giải toàn quốc); đạt 136 huy chương (38 huy chương vàng, 45 huy chương bạc, 53 huy chương đồng), giành 02 cờ Nhì , 02 cờ Ba toàn đoàn, đội tuyển bóng đá nữ thi đấu giải cúp quốc gia xếp thứ 3 toàn quốc (chương trình xã hội hóa); 18 vận động viên kiện tướng, 39 vận động viên cấp I quốc gia, cung cấp 14 vận động viên cho đội tuyển quốc gia.
2. Thực hiện chính sách Người có công; công tác giảm nghèo, bảo trợ xã hội, chăm sóc trẻ em và lao động việc làm
- Thực hiện chính sách người có công: Tổ chức lễ dâng hương, đặt vòng hoa trong các ngày Lễ, Tết và các dịp kỷ niệm tại Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh (ATK Định Hoá); Nhà tưởng niệm liệt sỹ thanh niên xung phong Đại đội 915; Nghĩa trang liệt sỹ Dốc Lim; Khu di tích lịch sử 27/7 (Đại Từ); nơi tưởng niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp; nghĩa trang Quốc gia Trường Sơn tỉnh Quảng Trị (khu vực Thái Nguyên - Bắc Kạn); Ngã ba Đồng Lộc; Mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp…
 Kỷ niệm 72 năm ngày Thương binh Liệt sỹ, thăm, tặng quà người có công, thân nhân người có công theo quyết định của Chủ tịch nước và chính sách của tỉnh với 44.689 suất quà tặng, trị giá 11,2 tỷ đồng.
Giải quyết chế độ chính sách theo quy định của Pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng cho 627 trường hợp. Giải quyết chế độ chính sách cựu chiến binh, người tham gia kháng chiến và bảo vệ tổ quốc cho 542 đối tượng.
- Công tác giảm nghèo, bảo trợ xã hội: Triển khai thực hiện 24 dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo tỉnh Thái Nguyên năm 2019 tại các địa bàn các xã thuộc Chương trình 135 và các xã ngoài Chương trình 135 với tổng kinh phí thực hiện là 7,4 tỷ đồng với 414 hộ nghèo, hộ cận nghèo tham gia Dự án. Tổ chức 09 lớp tập huấn cho hơn 900 người nhằm nâng cao năng lực cán bộ làm công tác giảm nghèo ở cấp huyện, cấp xã về quy trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo.
- Công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em: Ngành chức năng Tổ chức Lễ phát động tháng hành động vì trẻ em tỉnh Thái Nguyên với chủ đề  “Chung tay vì trẻ em nghèo, trẻ em dân tộc thiểu số”; Các địa phương, đơn vị tổ chức chương trình Vui Tết Trung thu năm 2019; Phối hợp với doanh nghiệp khảo sát và hỗ trợ xây dựng mới nhà tình nghĩa 02 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, mỗi ngôi nhà trị giá 100 triệu đồng; tổ chức khám sàng lọc cho 111 trẻ em bị khuyết tật hệ vận động, chỉ định phẫu thuật 36 trẻ em; tổ chức triển khai Dự án “Cải thiện an toàn giao thông cho trẻ em khu vực trường học tại thành phố Thái Nguyên”; tổ chức khám sàng lọc cho trẻ em bị bệnh tim, nghi bị bệnh tim và có nhu cầu khám tim cho trẻ em của hai huyện Phú Lương, Đồng Hỷ; tổ chức khám sàng lọc và phẫu thuật miễn phí cho các đối tượng bị sứt môi - hở hàm ếch…
- Lao động việc làm: Tổ chức Ngày hội việc làm, tổ chức các hoạt động tư vấn giới thiệu việc làm, tư vấn học nghề, tuyên truyền chính sách pháp luật về lao động, việc làm, dạy nghề, bảo hiểm thất nghiệp; tổ chức Lễ phát động hưởng ứng Tháng an toàn vệ sinh lao động năm 2019; tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho 05 thân nhân gia đình người lao động bị chết do tai nạn lao động…
Thông báo chấp thuận cho 149 lượt đơn vị được sử dụng lao động là người nước ngoài, trong đó có 38 đơn vị chấp thuận thay đổi, bổ sung nhu cầu. Cấp giấy phép lao động cho 167 lao động nước ngoài, trong đó cấp mới 119 trường hợp và cấp lại 47 trường hợp. Xác nhận 117 trường hợp không thuộc diện phải cấp giấy phép lao động, trong đó 114 trường hợp là sinh viên có thỏa thuận thực tập tại trường đại học; hướng dẫn người lao động làm các thủ tục đi làm việc tại nước ngoài…
3. Giáo dục, đào tạo
- Giáo dục phổ thông: Ngày 05/9/2019, toàn bộ các trường mầm non và phổ thông trên địa bàn tỉnh đã tổ chức khai giảng theo đúng quy định. Lễ khai giảng năm học mới 2019-2020 được tổ chức trang trọng, nghiêm túc; kết hợp hài hòa, ngắn gọn giữa phần lễ và hội, tạo không khí vui tươi, phấn khởi cho học sinh và giáo viên bước vào năm học mới. Sau ngày khai giảng các trường đã tổ chức học tập theo đúng kế hoạch.  Năm học 2019 - 2020, toàn tỉnh Thái Nguyên có khoảng 313 ngàn học sinh các cấp và hơn 18 ngàn giáo viên tham dự lễ khai giảng năm học mới.
Mạng lưới trường lớp của các cấp, bậc học tiếp tục được sắp xếp, đáp ứng nhu cầu học tập của con em các dân tộc trên địa bàn tỉnh. Tổng số trường mầm non và phổ thông đến tháng 9/2019 đầu năm học mới có 680 trường mầm non và phổ thông. Bao gồm: Mầm non có 237 trường (công lập: 215; ngoài công lập 22 trường); Tiểu học có 219 trường (công lập: 217; ngoài công lập là 2 trường); trung học cơ sở có 191 trường (công lập: 190; ngoài công lập là 1 trường); Trung học phổ thông có 33 trường (công lập 30; ngoài công lập là 3 trường).
Công tác chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị năm học mới: 100% các trường đã tu sửa và  chuẩn bị đầy đủ điều kiện về  cơ sở vật chất để bước vào năm học mới 2019-2020 theo đúng chỉ đạo của ngành.
  Về Sách giáo khoa và trang thiết bị dạy học: Ngành chức năng đảm bảo cung ứng trang thiết bị và sách giáo khoa cho giáo viên và học sinh trên địa bàn đủ, kịp thời bước vào năm mới.
Kết quả xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia: Thực hiện đề án xây dựng hệ thống trường đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 2016-2020, theo báo cáo tổng kết năm học 2018-2019 ngày 16/8/2019, toàn tỉnh có 558/680 trường đạt chuẩn quốc gia đạt tỷ lệ 82,06% (về trước 2 năm so với chỉ tiêu Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh giao); trong đó: Mầm non có 187/237 trường đạt tỷ lệ 78,9%; Tiểu học: 208/220 trường đạt tỷ lệ 94,5%; THCS có 145/191 trường đạt tỷ lệ 75%; THPT có 18 trường đạt chuẩn, chiếm tỷ lệ 56,25%.
- Công tác tuyển sinh cao đẳng, đại học: Theo báo cáo tổng hợp của ngành chức năng, sinh viên mới nhập học đợt 1 năm học 2019-2020 là 7,6 nghìn sinh viên, bằng 61,9% chỉ tiêu kế hoạch tuyển sinh. Trong đó, có 3/12 trường vượt chỉ tiêu tuyển sinh như các trường thuộc khối ngành y dược, ngoại ngữ; còn lại khối các trường khác chỉ tiêu tuyển sinh đều đạt thấp từ 38 đến 71% chỉ tiêu kế hoạch tuyển sinh.
4. Y tế
Công tác phòng chống dịch và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm được duy trì triển khai; trên địa bàn tỉnh không có dịch bệnh nguy hiểm xảy ra, không có người tử vong do dịch.
Tính chung từ đầu năm đến 20/9/2019, trên địa bàn tỉnh có 131 ca mắc bệnh Quai bị, giảm 185 ca so cùng kỳ (cùng kỳ 2018 là 316 ca); có 114 ca Sốt phát ban dạng sởi/rubella (cùng kỳ 19 ca); chân tay miệng là 126 ca (cùng kỳ 2018 là 124 ca);  ho gà 09 ca; có 02 ca tử vong do bệnh dại (cùng kỳ năm 2018 là 1 ca).
Riêng số ca mắc sốt xuất huyết tăng hơn các tháng trước (tính từ ngày 21/8 đến ngày 20/9/2019) có 25 ca; lũy tích từ đầu năm đến ngày 20/8 là 63 ca; tay chân miệng tăng 61 ca so với lũy tích kỳ trước và trong 20 ngày đầu của tháng 9/2019 đã có 43 ca tay chân miệng. Nguyên nhân  do hiện nay thời tiết đang chuyển mùa, là thời điểm thời tiết thay đổi, rất thuận lợi cho các dịch bệnh truyền nhiễm phát sinh và phát triển, đặc biệt là bệnh Tay chân miệng (căn bệnh thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi). Vì vậy, các ngành chức năng cần tăng cường công tác tuyên truyền sâu rộng về giáo dục sức khỏe tại các cơ sở giáo dục học sinh…
Công tác an toàn vệ sinh thực phẩm: Ngành chức năng duy trì triển khai đến từng địa phương công tác an toàn vệ sinh thực phẩm. Chín tháng năm 2019 không có vụ ngộ độc thực phẩm tập thể xảy ra.
Công tác khám chữa bệnh: Trong 9 tháng 2019, các hoạt động khám chữa bệnh, thực hiện quy chế chuyên môn tại các bệnh viện, trạm y tế được duy trì và quan tâm đối với khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, đối tượng chính sách, trẻ em dưới 6 tuổi; Thẩm định hồ sơ và cho phép khám, chữa bệnh nhân đạo trên địa bàn tỉnh;  công bố cơ sở đủ điều kiện tiêm chủng cố định Trạm Y tế phường Mỏ Chè thuộc trung tâm y tế thành phố Sông Công; trung tâm y tế thị xã Phổ Yên; Bệnh viện C; triển khai chương trình đo đường huyết trong máu và tặng quà cho các gia đình bệnh nhân bị bệnh tiểu đường có hoàn cảnh khó khăn…
Ngành chức năng thực hiện thường xuyên công tác thanh, kiểm tra chuyên ngành trong lĩnh vực y tế. Trong tháng 9/2019, số cơ sở được thanh, kiểm tra 15 cơ sở; số cơ sở vi phạm bị xử lý 04 cơ sở; số tiền xử phạt là 3 triệu đồng. Thanh tra cấp phòng y tế huyện/thành/thị là 157 cơ sở với số cơ sở vị phạm bị xử lý là 35 cơ sở, số tiền xử phạt 146 triệu đồng.
Dân số và trẻ em: 8 tháng đầu năm 2019, tổng số trẻ mới sinh ra là 10.696 trẻ (5.614 trẻ nam và 5.082 trẻ nữ). So với 8 tháng năm 2018 số trẻ mới sinh tăng 393 trẻ (tương ứng tăng 3,8%); trong đó trẻ là nam tăng 212 (+3,9%); trẻ nữ tăng 181 người (+3,6%). Trong 8 tháng đầu 2019 số trẻ mới sinh là con thứ 3 trở lên có 1.227 trẻ, đạt mức tăng cao so với cùng kỳ (tăng 259 trẻ tương ứng tăng 26,7%).
Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn: Tính đến 31/8/2019 số người nhiễm lũy tích là 10.304 người; trong đó chuyển giai đoạn AIDS lũy tích là 6.770 người; số tử vong do HIV/AIDS lũy tích là 3.511 người. Riêng trong tháng 8/2019 có 33 người mới được phát hiện; chuyển giai đoạn AIDS là 8 người; số tử vong do HIV/AIDS là 4 người.
5. Tình hình an toàn giao thông
  Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh Thái Nguyên, trong tháng 9/2019 trên địa bàn xảy ra 12 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 8 người chết và 8 người bị thương. Tai nạn liên quan đến ô tô 05 vụ (41,66%); liên quan đến mô tô 6 vụ (50%); phương tiện khác 01 vụ (8,33%). Thiệt hại tài sản ước tính khoảng 79,5 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn  tương đương; số người chết tăng 3 người (+60,0%) và số người bị thương giảm 1 người
(-14,28%). Không xảy ra tai nạn giao thông trên đường sắt, đường thủy.
Tháng 9/2019 đã kiểm tra lập biên bản xử lý vi phạm 4.065 trường hợp; tước 375 giấy phép lái xe; tạm giữ 140 xe ô tô, 525 xe mô tô; 11 phương tiện khác. Số tiền xử phạt 3,1 tỷ đồng.
Trong 3 ngày nghỉ lễ quốc khánh 2/9 năm nay (từ 31/8 đến 2/9) trên địa bàn  xảy ra 01 vụ tai nạn giao thông đường bộ tại huyện Phú Bình, làm 1 người chết. So với dịp nghỉ lễ 2/9 năm 2018, tương đương về số vụ và số người chết, số người người bị thương giảm 2 người.
Diễn biến tai nạn giao thông theo Quý trong 9 tháng 2019: Quý I/2019 có 26 vụ tai nạn giao thông làm 14 người chết và 12 người bị thương; Quý II có 44 vụ, 14 người chết và 45 người bị thương; Quý III có 31 vụ tai nạn giao thông, 16 người chết và 23 người bị thương.
Tính chung 9 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 101 vụ tai nạn giao thông, làm chết 44 người và 80 người bị thương. So với cùng kỳ năm 2018 số vụ tai nạn giảm 9 vụ (-8,2%), số người bị chết tăng 1 người (+2,3%) và số người bị thương giảm 9 người (-10,1%). Trong đó, địa bàn xảy ra nhiều vụ tai nạn nhất là thành phố Thái Nguyên với 51 vụ (chiếm 50,4% tổng số), làm 10 người chết (chiếm 22,7%) và 47 người bị thương (chiếm 58,7%).
6. Phòng chống cháy nổ                                                
Các ngành chức năng của tỉnh đã tiến hành kiểm tra phòng cháy, chữa cháy tại các cơ quan đơn vị trên địa bàn toàn tỉnh; qua kiểm tra đã nhắc nhở những thiếu sót trong phòng cháy chữa cháy và lập biên bản xử lý các trường hợp vi phạm nhằm hạn chế các vụ cháy, nổ xảy ra.
Tháng 9 năm 2019 (tính từ ngày 16/8/2019 đến 15/9/2019) trên địa bàn tỉnh xảy ra 9 vụ cháy và đều xảy ra tại Thành phố Thái Nguyên). Các vụ cháy không gây thiệt hại về người; ước thiệt hại khoảng 15,6 triệu đồng.
Riêng quý 3/2019 xảy ra 18 vụ cháy (thấp hơn số vụ phát sinh trong Quý 1 và quý 2/2019), giá trị tài sản thiệt hại là 844,1 triệu đồng. So với cùng kỳ, giảm 13 vụ, nhưng giá trị tài sản thiệt hại tăng 77 triệu đồng.
Tính chung 9 tháng đầu năm 2019 (tính từ 16/12/2018 đến 15/9/2019), trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra  81 vụ cháy, giảm 26,4% so cùng kỳ và có 01 người bị chết. Ước tính tổng giá trị tài sản thiệt hại khoảng 6,5 tỷ đồng, giảm 35,6% so cùng kỳ (2018 thiệt hại khoảng10 tỷ đồng).
7. Vi phạm môi trường
 Trong tháng 9 năm 2019 trên địa bàn tỉnh ngành chức năng đã kiểm tra và xử lý 5 vụ vi phạm môi trường. Tổng số tiền xử phạt là 484 triệu đồng.
Tính chung trong 9 tháng năm 2019, các ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra và xử lý 44 vụ vi phạm môi trường, nguyên nhân của các vụ xử lý trên là do các cơ sở sản xuất kinh doanh không thực hiện quan trắc giám sát môi trường theo đề án bảo vệ môi trường được ngành chức năng xác nhận. Tổng số tiền thu và nộp vào ngân sách nhà nước là 2,2 tỷ  đồng. So với 8 tháng 2018, số vụ vi phạm đã xử lý  giảm 1 vụ và tăng 2 tỷ đồng.
8. Thiệt hại do thiên tai
Từ đầu năm đến ngày 18/9/2019 toàn tỉnh đã xảy ra 11 đợt thiên tai mưa (so cùng kỳ 12 đợt thiên tai), giông lốc và sấm sét làm 7 người bị chết (thị xã Phổ Yên 01 người chết do bị sét đánh, thành phố Thái Nguyên 03 người chết do bị tường rào đổ, huyện Phú Bình 01 người chết do bị sét đánh, huyện Đại Từ 01 người chết do bị sét đánh, huyện Võ Nhai 01 người chết do bị lũ cuốn trôi) và 8 người bị thương. Về tài sản có 818 ngôi nhà bị tốc mái, 1.182 ngôi nhà bị hư hỏng, 1.536 ngôi nhà bị ngập, sập 02 ngôi nhà; về nông nghiệp 1.512 ha lúa, 134,8 ha ngô bị ngập úng; về chăn nuôi có 07 con gia súc, 25.845 con gia cầm bị chết và cuốn trôi; về thủy sản có 10,6 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản bị mất trắng; ngoài ra nhiều công trình giao thông, trường học, bệnh viện, nhà xưởng, thông tin liên lạc … bị thiệt hại. Tổng giá trị tài sản thiệt hại 11 đợt thiên tai ước tính khoảng trên 90 tỷ đồng.
Riêng trong tháng 9/2019, trên địa bàn có 02 đợt thiên tai xảy ra, mưa to liên tục kéo dài trong nhiều giờ, kèm giông lốc thiệt hại nhiều về tài sản và làm 04 người chết và 01 người bị thương.  Thiệt hại  nhiều về tài sản như: nhiều ngôi nhà, tài sản, hoa màu, công trình xây dựng bị đổ sập, hư hỏng, ngập úng. Tổng thiệt hại về tài sản của hai đợt thiên tai trong tháng 9/2019 ước tính khoảng 26 tỷ đồng (chiếm khoảng 28% tổng giá trị thiệt hại của 11 đợt thiên tai).
Sau khi thiên tai xảy ra, ngành chức năng đã huy động lực lượng quân đội, dân quân, lực lượng công an; cán bộ ngành điện lực và huy động các lực lượng địa phương tại chỗ nhanh chóng ứng phó với tình hình thiên tai. Khắc phục thiệt hại, vệ sinh môi trường, đảm bảo ổn định sản xuất và đời sống của nhân dân vùng bị ảnh hưởng.
C. KHÁI QUÁT LẠI VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
1. Một số kết quả nổi bật
Trong 9 tháng 2019, các cấp, các ngành đã tích cực triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp đề ra trong các nghị quyết, văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2019 và thực hiện quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư phát triển, cải thiện môi trường đầu tư tạo bước đột phá trong thu hút đầu tư. Từ hiệu ứng lan tỏa của Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh Thái Nguyên năm 2018, nhiều nhà đầu tư đã đến nghiên cứu, đề xuất đầu tư các dự án tại tỉnh Thái Nguyên.
Kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh đạt được kết quả tích cực. Một số chỉ tiêu chủ yếu đạt mức tăng khá so với cùng kỳ và cao hơn bình quân chung cả nước như: Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp; tốc độ tăng giá trị xuất khẩu, nhập khẩu trên địa bàn; tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng và Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn... giá cả thị trường tăng thấp hơn bình quân cả nước, cung cầu hàng hóa được đảm bảo; đời sống dân cư cơ bản ổn định và phát triển. Đây là kết quả của sự chỉ đạo tập trung, quyết liệt của các cấp ủy đảng, chính quyền và sự nỗ lực của các cấp, các ngành và nhân dân trên địa bàn tỉnh.
2. Khó khăn, hạn chế
Bên cạnh những kết quả nổi bật như trên, kinh tế xã hội trên địa bàn đang có những khó khăn ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch cả năm như: Tốc độ tăng công nghiệp chế biến, chế tạo có xu hướng thấp dần so với tốc độ tăng cùng kỳ, trong khi đó số lượng lao động công nghiệp làm việc trong các khu công nghiệp đang giảm so với cùng kỳ... nên để đạt được mục tiêu kế hoạch cả năm 2019 cần phải có giải pháp tích cực; bên cạnh đó tình hình bệnh dịch tả lợn Châu Phi ảnh hưởng đến kết quả sản xuất nông nghiệp và khó khăn cho người chăn nuôi.
Một số dự án, công trình trọng điểm còn vướng mắc về quy trình thủ tục đầu tư, chưa bảo đảm được nguồn vốn đối ứng cho dự án nên chậm triển khai thực hiện. Việc phân bổ vốn đầu tư các dự án còn xảy ra hiện tượng dàn trải, chưa tập trung, làm giảm hiệu quả đầu tư từ ngân sách nhà nước; một số dự án đầu tư còn chậm tiến độ; nhu cầu vốn của ngân sách địa phương còn thiếu để đầu tư hoàn thành các chương trình, dự án theo quy định…Nguyên nhân chủ yếu là do nguồn vốn ngân sách trung ương đầu tư các chương trình mục tiêu gặp khó khăn, phải cắt giảm so với thông báo, thẩm định nguồn vốn ban đầu, dẫn đến vốn ngân sách địa phương phải thực hiện đối ứng cho các dự án sử dụng ngân sách trung ương, làm thiếu hụt nguồn vốn đầu tư từ ngân sách địa phương. Bên cạnh đó, do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và các nhiệm vụ chính trị khác phát sinh trong kỳ kế hoạch nên đã đầu tư một số dự án khi chưa cân đối bổ sung nguồn vốn để thực hiện.
3. Đề xuất giải pháp
Thực hiện các giải pháp kiểm soát dịch bệnh ở gia súc, gia cầm để ổn định sản xuất, đảm bảo nguồn cung thực phẩm trong những tháng cuối năm.
Chủ động tập trung tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong sản xuất kinh doanh bằng nhiều hình thức, trong đó chú trọng tổ chức gặp mặt đối thoại với doanh nghiệp, nhà đầu tư để bàn các giải pháp thúc đẩy sản xuất và đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án trên đia bàn.
Tăng cường kiểm tra, đôn đốc, theo dõi, giám sát, đánh giá quá trình giải quyết thủ tục hành chính bằng các phương thức khác nhau, thực hiện tốt việc sử dụng, ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình trao đổi, giải quyết các thủ tục hành chính theo chức năng, nhiệm vụ để góp phần tiết kiệm thời gian, chi phí và nâng cao chất lượng, hiệu suất công việc.
Đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công kế hoạch năm 2019, tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm giải ngân. Tăng cường công tác giám sát đánh giá đầu tư và việc sử dụng vốn ngân sách nhà nước thực hiện được tốt hơn trong giai đoạn tiếp theo. Trong thời gian tới chỉ xem xét, thông qua các chương trình, đề án có khả năng cân đối được nguồn lực để thực hiện, nguồn lực đảm bảo đến đâu triển khai hoàn thành đến đó, đảm bảo hiệu quả thực tế của các chương trình, đề án và hiệu quả đầu tư từ ngân sách nhà nước.
Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, lao động, việc làm. Thực hiện tốt công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống. Tăng cường công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ./.

Nguồn tin: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên

Tổng số điểm của bài viết là: 3 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 3 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây