Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 năm 2019 tỉnh Thái Nguyên

Thứ tư - 01/05/2019 21:13
A. KINH TẾ
I. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
1. Trồng trọt
Tính đến hết tháng 4/2019, tổng diện tích gieo trồng các cây trồng chính trong vụ Xuân 2019 đạt khoảng 48 nghìn ha, bằng 103,9% kế hoạch nhưng giảm 1,5% cùng kỳ ở hầu hết các loại cây trồng; trong đó diện tích lúa Xuân đạt gần 30 nghìn ha, xấp xỉ diện tích lúa Xuân năm 2018 và bằng 103,5% kế hoạch; Diện tích cây màu vụ Xuân đạt 18 nghìn ha, bằng 105% kế hoạch và giảm 3% so với tiến độ cùng kỳ; bao gồm: cây ngô 7,3 nghìn ha, bằng 104,1% kế hoạch trong vụ, giảm 0,4% so cùng kỳ; cây rau các loại đạt khoảng 4,4 nghìn ha, bằng 106,3% kế hoạch; cây chất bột lấy củ (bao gồm cây khoai lang và cây sắn) đạt 3,1 nghìn ha, giảm 1%; cây công nghiệp hàng năm đạt 2,9 nghìn ha, giảm 8,3% (bao gồm cây lạc 2,5 nghìn ha, giảm 7,6%; cây đỗ tương đạt 340 ha, giảm 14,6%; cây thuốc lá đạt 32 ha, tăng 23,1%).
Vụ Xuân năm nay, diện tích lúa lai chiếm 12,3% tổng diện tích (3,6 nghìn ha), giảm 2,7% so với cùng kỳ; diện tích gieo cấy giống lúa thuần chất lượng cao chiếm 12,7% tổng diện tích gieo cấy (3,7 nghìn ha); còn lại là các giống lúa khác; hình thức gieo thẳng chiếm 14,4% diện tích gieo cấy (4,3 nghìn ha).
Tình hình sâu bệnh trên cây lúa xuất hiện rải rác với mật độ thấp, chủ yếu nhiễm bệnh khô vằn và bệnh đạo ôn với diện tích bị nhiễm bệnh khoảng 750 ha, trong đó, diện tích nhiễm nặng là 3,2 ha. Ngành chức năng thường xuyên theo dõi sâu bệnh hại, kịp thời hướng dẫn các địa phương các biện pháp phòng trừ, đảm bảo năng suất cây trồng.
- Cây lâu năm: Để hướng tới sản xuất chè theo hướng an toàn, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm, các biện pháp kỹ thuật thâm canh chè an toàn được các địa phương mở rộng áp dụng.
Công tác chuẩn bị trồng chè: Toàn tỉnh có 33 vườn ươm cây chè với tổng số hom được cắm khoảng 52,7 triệu hom, chủ yếu các giống LDP1, kim tuyên, tri 777 và một số giống chè khác. Các địa phương đang triển khai đăng ký nhu cầu trồng mới và trồng thay thế; tính đến ngày 15/4/2018, các hộ dân đã đăng ký được 350 ha/750 ha trồng mới chè theo kế hoạch.
Tình hình sâu bệnh trên cây chè: Tổng diện tích bị chè nhiễm bệnh khoảng 400 ha, chủ yếu do rầy xanh, bọ cánh tơ, bọ xít muỗi... Ngành chức năng tiếp tục chỉ đạo các địa phương theo dõi và hướng dẫn phòng trừ sâu bệnh gây hại trên cây chè.
Cây ăn quả: Dự kiến năm 2019 diện tích cây ăn quả trồng mới tiếp tục tăng ở một số cây như: Thanh long, Na, bưởi diễn...Thời tiết từ đầu năm đến nay ấm, có mưa nên nhìn chung các loại cây trồng lâu năm trên địa bàn tỉnh đều phát triển tốt.
2. Chăn nuôi
Hiện nay giá bán sản phẩm thịt lợn hơi tháng 4/2019 đã tăng 0,45% so với tháng trước, thịt gà công nghiệp giá tương đương tháng trước. So với cùng kỳ năm 2018, chỉ số giá bán sản phẩm chăn nuôi của người sản xuất vẫn tăng cao, tăng 30,2%; trong đó, giá bán bình quân thịt lợn hơi tăng 25%; thịt gà ta hơi tăng 2% và giá bán bình quân gà công nghiệp tăng 35,1%.
- Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm
Bệnh lở mồm long móng đã được khống chế, từ tháng 3/2019 đến tháng 4/2019 không phát sinh mới. Trên đàn gia cầm không phát sinh dịch bệnh.
Tình hình bệnh Dịch tả lợn Châu phi: Trong tháng 4/2019 dịch bệnh vẫn phát sinh rải rác ở Phổ Yên và Phú Bình. Tính lũy kế từ ngày 5/3/2019 khi mới phát sinh ổ dịch đến ngày 21/4/2019, trên địa bàn tỉnh có 03 địa phương là huyện Phú Bình, Thị xã Phổ Yên và Thành phố Sông Công có lợn dương tính với Dịch tả lợn Châu Phi. Tổng số lợn mắc bệnh, nghi mắc bệnh tại ổ dịch và các hộ liền kề có nguy cơ lây nhiễm cao buộc phải tiêu hủy là 1.749 con lợn với trọng lượng 105 tấn.
Hiện nay TP Sông Công đã có quyết định công bố hết dịch bệnh dịch tả lợn châu Phi trên địa bàn phường Phố Cò kể từ ngày 22-4 và đã thực hiện bãi bỏ các vùng bị dịch uy hiếp và vùng đệm đối với bệnh dịch tả lợn châu Phi trên địa bàn các xã, phường còn lại của Thành phố.
Công tác phòng trừ dịch bệnh: Ngành chức năng đã giám sát dịch bệnh chủ động, thực hiện lấy mẫu giám sát với tất cả các đàn lợn khi có biểu hiện ốm, sốt, bỏ ăn.. nghi mắc bệnh Dịch tả lợn Châu phi. Tổng số đã lấy 117 mẫu xét nghiệm (thuộc 39 hộ của 24 xã, 08 huyện, thành phố, thị xã; trong đó, có 31 mẫu (thuộc 10 hộ) dương tính với Dịch tả lợn Châu phi.
Tiếp tục duy trì hoạt động của 46 chốt kiểm dịch động vật (5 chốt cấp tỉnh, 31 chốt cấp huyện), 09 đội kiểm tra liên ngành (01 đội cấp tỉnh, 08 đội cấp huyện). Thực hiện quản lý chặt chẽ việc kiểm dịch, cấp giấy chứng nhận kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật; triển khai vệ sinh khử trùng tiêu độc ở cấp độ cao tại vùng có dịch, vùng uy hiếp và các vùng xung quanh; đồng thời tuyên truyền vận động người chăn nuôi đẩy mạnh công tác khử trùng tiêu độc.
Nhận định tình hình: Dịch bệnh tả lợn Châu phi xuất hiện ở tỉnh Thái Nguyên có tính chất rải rác và dịch bệnh có chiều hướng lây lan thêm sang các xã trên địa bàn huyện Phú Bình và thị xã Phổ Yên, nhất là ở xã Úc Kỳ và Hà Châu huyện Phú Bình và nguy cơ lây lan sang các huyện và thành phố khác là rất cao. Thời tiết vẫn có ẩm độ cao nên thuận lợi cho dịch phát triển, do đó cần tiếp tục tăng cường quyết liệt các biện pháp phòng chống dịch bệnh.
- Kết quả tiêm vắc xin đợt I năm 2019: Một số địa phương đã triển khai tiêm phòng bệnh LMLM cho gia súc với tổng số 162,8 nghìn liều vắc xin; tiêm dại chó 120,5 nghìn liều. Còn các loại vắcxin khác do trong thời điểm tháng 3 trên địa bàn đang có bện Dịch tả lợn Châu phi nên chưa triển khai tiêm phòng. Tuy nhiên, ngành chức năng vẫn đảm bảo cung cấp đầy đủ và kịp thời lượng vắcxin theo kế hoạch cho các địa phương.
3. Lâm nghiệp
Công tác trồng rừng: Ngành chức năng đang chuẩn bị hiện trường, thẩm định thiết kế trồng rừng, xử lý thực bì, cuốc hố, chuẩn bị cây giống cho công tác trồng rừng năm 2019; đã rà soát được 2.500 ha đất đủ điều kiện đưa vào thiết kế trồng rừng theo kế hoạch; đã trồng được 535 nghìn cây phân tán các loại bao gồm cây bóng mát, cây ăn quả và cây lâm nghiệp.
Tình hình khai thác lâm sản: Dự ước sản lượng gỗ khai thác 4 tháng 2019 đạt 47 nghìn m3, tăng 2,2% so với cùng kỳ; củi khai thác ước đạt 55,8 nghìn ste, tăng 2,6%. Riêng tháng 4/2019 khai thác ước đạt 10,3 nghìn m3 gỗ các loại, tăng 2,5% so cùng kỳ, củi  khai thác khoảng 12,1 nghìn ste, tăng 2,5%.
Công tác quản lý và bảo vệ rừng: Từ đầu năm 2019 đến nay trên địa bàn  toàn tỉnh không xảy ra cháy rừng. Trong quý I/2019 trên địa bàn tỉnh đã phát hiện, xử lý 50 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, giảm 35% (tương ứng giảm 27 vụ) so cùng kỳ, tịch thu 50m3 gỗ quy tròn các loại, giảm 50% so cùng kỳ và thu 06 phương tiện các loại... thu nộp ngân sách nhà nước 313 triệu đồng, giảm 24% so quý I/2018.
4. Thủy sản
Các địa phương tiếp tục chăm sóc, phòng bệnh cho thủy sản và tiêu thụ cá giống cung cấp cho thả cá năm 2019.
Dự ước đến hết tháng 4 năm 2019 sản xuất cá bột đạt hơn 150 triệu con, cá giống 3,5 triệu con và sản lượng thủy sản thu hoạch ước đạt 5 nghìn tấn. Trên địa bàn tỉnh có 04 Doanh nghiệp và 01 Hợp tác xã nuôi cá lồng với 177 lồng, thể tích nuôi là 26,3 nghìn m3, sản lượng ước đạt 150 tấn; có 02 Doanh nghiệp và 01 hộ gia đình nuôi cá Tầm, dự ước sản lượng đạt 10 tấn.
II. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số tiêu thụ sản phẩm công nghiệp trong tháng 3/2019 tăng 12,6% so với cùng kỳ đã thúc đẩy nhịp độ sản xuất công nghiệp trong tháng 4/2019. Tuy nhiên chỉ số tồn kho vẫn tăng cao so cùng kỳ. Cụ thể lượng tồn kho của các đơn vị sản xuất công nghiệp tính đến đầu tháng 4/2019 như sau: xi măng tồn 93 nghìn tấn, tăng 81%; sản phẩm may tồn 7,7 triệu sản phẩm, tăng 36%; sắt thép tồn 180,4 nghìn tấn, giảm 12,6%; điện thoại thông minh và máy tính bảng tồn 10,3 triệu sản phẩm…
Ước tính chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tháng 4/2019 tăng 22,2% so với tháng trước, tăng 10,4% so với cùng kỳ. Trong đó, nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 22,8% so với tháng trước, tăng 10,7% so với cùng kỳ (chủ yếu tăng cao ở nhóm các sản phẩm như điện tử, máy vi tính; sản xuất trang phục và giấy); ngành sản xuất, phân phối điện tăng 2,2% so với tháng trước, tăng 8,2% so với cùng kỳ; Riêng 2 nhóm ngành sản xuất tăng so với tháng trước nhưng giảm so với cùng kỳ là ngành cung cấp nước và hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 12,9% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp khai khoáng giảm 4,5% so với cùng kỳ (do thời tiết mưa nên sản lượng khai thác than và cát, sỏi giảm).
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất tháng 4/2019, nhóm sản phẩm có sản lượng tăng trên 10% so với cùng kỳ là: camera truyền hình đạt 6,8 triệu sản phẩm, tăng 54,8%; sản phẩm may đạt 7,7 triệu sản phẩm, tăng 47,4%; mạch điện tử tích hợp đạt 9,7 triệu sản phẩm, tăng 37,3%; điện thoại thông minh đạt 9,3 triệu sản phẩm, tăng 14,6% (trong đó, tăng cao nhất là điện thoại có giá dưới 3 triệu tăng 28,8%; điện thoại có giá từ 6 triệu trở lên tăng 7,1%). Nhóm sản phẩm sản xuất tăng dưới 10% so cùng kỳ là: máy tính bảng đạt 1,3 triệu sản phẩm, tăng 8,6%; điện sản xuất đạt 165 triệu Kwh, tăng 8,6%; đá khai thác đạt 346,5 nghìn m3, tăng 8,4%; điện thương phẩm đạt 405 triệu Kwh, tăng 7,2%… Các sản phẩm có sản phẩm sản xuất trong tháng tăng thấp hoặc giảm hơn so với cùng kỳ là: thiết bị và dụng cụ khác trong y khoa đạt 132,4 triệu sản phẩm, tăng 4,2%; xi măng đạt 169 nghìn tấn, giảm 11,9%; sắt thép các loại đạt 120,4 nghìn tấn, giảm 18,7%; Vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 1,1 nghìn tấn, giảm 23,7%; gạch xây dựng đạt 6 triệu viên, giảm 6%; nước máy thương phẩm đạt 2,4 triệu m3, giảm 13,1%...
Tính chung 4 tháng đầu năm 2019, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2018; trong đó, nhóm ngành công nghiệp chế biến và chế tạo tăng 7,4% (tăng cao nhất là sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 83,8%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 42,2%; sản xuất trang phục tăng 38,3% và sản phẩm điện tử, máy vi tính tăng 8,2%); nhóm ngành sản xuất và phân phối điện tăng 7%; ngành khai khoáng tăng 3,8%; riêng nhóm ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 11,3% (do sản lượng sản xuất, phân phối nước và dịch vụ xử lý nước thải giảm).
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất tính chung 4 tháng đầu năm 2019 tăng từ 7% trở lên so với cùng kỳ năm 2018 là: sản phẩm may đạt 29,5 triệu sản phẩm, tăng 38,3%; camera truyền hình đạt 28 triệu sản phẩm, tăng 62,4%; mạch điện tử tích hợp đạt 33,2 triệu sản phẩm, tăng 23,4%; điện thoại thông minh đạt 31,7 triệu sản phẩm, tăng 7,8% (điện thoại có giá dưới 3 triệu tăng 20,4%; điện thoại có giá từ 3 đến 6 triệu giảm 10,8%; điện thoại thông minh có giá trên 6 triệu đồng tăng 6,6%); đá khai thác đạt 1,3 triệu m3, tăng 27,6%; khai thác quặng sắt tăng 11,9%; điện sản xuất đạt 607 triệu Kwh, tăng 7,6%.
Nhóm sản phẩm công nghiệp có sản lượng tăng thấp hoặc giảm hơn so với cùng kỳ là: xi măng đạt 668,2 nghìn tấn, tăng 0,5%; điện thương phẩm đạt 1.505 triệu Kwh, tăng 5,5%; thiết bị và dụng cụ khác trong y khoa đạt 486 triệu sản phẩm, tăng 2,3%; gạch xây dựng đạt 21,3 triệu viên, tăng 2,1%; than khai thác đạt 491 nghìn tấn, giảm 4,9%; đồng tinh quặng (Cu>20%) đạt 12,8 nghìn tấn, giảm 5,3%; nước máy thương phẩm đạt 9,5 triệu m3, giảm 12,3%; vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 4,9 nghìn tấn, giảm 18%; sắt thép các loại đạt 411,4 nghìn tấn, giảm 21,6%.
III. Tài chính, Ngân hàng
1. Thu, chi ngân sách
- Thu ngân sách nhà nước: Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Quý I năm 2019 đạt 3.552 tỷ đồng, giảm 4,2% so với cùng kỳ và bằng 23,7% so với dự toán cả năm. Trong đó thu nội địa đạt 2.834,4 tỷ đồng, giảm 6,2% so với cùng kỳ và bằng 24,3% so với dự toán; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 699 tỷ đồng, tăng 2,3% so với cùng kỳ và bằng 20,9% so với dự toán cả năm 2018.
Trong thu nội địa, có 7 trong tổng số 14 khoản thu tăng so với cùng kỳ, trong đó thu tiền cấp quyền sử dụng đất đạt 473 tỷ đồng, tăng 63,6%; Thu từ doanh nghiệp Nhà nước trung ương và địa phương đạt 353 tỷ đồng, tăng 31,3% so cùng kỳ;  thu ngân sách xã đạt 153 triệu đồng, tăng 77,9%; thu  thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đạt 486 triệu đồng, tăng 28,2%; thu lệ phí trước bạ đạt 136,2 tỷ đồng, tăng 31%; thu hoạt động xổ số kiến thiết đạt 3 tỷ đồng, tăng 8,1%; thu phí lệ phí đạt 54,5 tỷ đồng, tăng 5%.
Các khoản thu đạt thấp hơn so với tháng 3/2018 như:  Khoản thu giảm từ 32% đến dưới 50% như: Thu thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 638,8 tỷ đồng, giảm 32,2%; thu khác ngân sách đạt 36 tỷ đồng, giảm 49,7%;  thu từ khu vực dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 497,6 tỷ đồng, giảm 5,8%; thuế thu nhập cá nhân đạt 377,5%, giảm 17,1%; thu tiền cho thuê đất đạt 57,9 tỷ đồng, giảm 21,5%; thuế bảo vệ môi trường đạt 103,9 tỷ đồng, giảm 17,1%; thu cấp quyền khai thác khoáng sản đạt 102 tỷ đồng, giảm 5,6%.
Chi ngân sách địa phương: Tổng chi cân đối ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh Quý I năm 2019 đạt 2.591 tỷ đồng, tăng 27,1% so với cùng kỳ và bằng 19% dự toán cả năm; trong đó, chi đầu tư phát triển 754,7 tỷ đồng (chiếm 29,1% trong tổng chi cân đối ngân sách địa phương), cao gấp 2,1 lần so với cùng kỳ và bằng 23,5% dự toán cả năm; chi thường xuyên đạt 1.836,2 tỷ đồng (chiếm 70,8%), tăng 9,3% so với cùng kỳ và bằng 22,1% dự toán cả năm.
Trong tổng chi thường xuyên, có 2/11 khoản chi giảm so với cùng kỳ như: Chi sự nghiệp khoa học và công nghệ đạt 12,5 tỷ đồng, giảm 31,1%; chi quản lý hành chính đạt 371,7 tỷ đồng (chiếm 20,2%), giảm 0,2%. Còn lại 9/11 khoản thu tăng so với cùng kỳ: chi lớn nhất là chi sự nghiệp giáo dục đào tạo và dạy nghề đạt 695,5 tỷ đồng (chiếm 37,8%), tăng 3% so với cùng kỳ và bằng 19,2% dự toán cả năm; chi sự nghiệp kinh tế đạt 233,5 tỷ đồng, tăng 25% và bằng 26,5% dự toán năm; chi sự nghiệp phát thanh truyền hình đạt 20,2 tỷ đồng, tăng 19,8%; chi khác của ngân sách đạt 33,5 tỷ đồng, gấp 4,8 lần so với cùng kỳ...
2. Ngân hàng
Lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam phổ biến ở mức 0,5-1%/năm đối với lãi suất huy động tiền gửi kỳ hạn dưới 1 tháng; từ 4,5-5,5%/năm đối với kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; từ 5,5-8%/năm đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Lãi suất cho vay bằng Việt Nam đồng đối với các lĩnh vực ưu tiên là 6,5%/năm. Lãi suất cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,8%-9%/năm đối với ngắn hạn, từ 9%-11%/năm đối với trung và dài hạn.
Nguồn vốn huy động của các Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng đến 31/3/2019 đạt 57.252 tỷ đồng, tăng 6,04% so với 31/12/2018. Ước đến 30/4/2019 đạt 57.700 tỷ đồng, tăng 6,87% so với 31/12/2018.
Dư nợ cho vay của các Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng (chưa bao gồm Ngân hàng phát triển) đến 31/3/2019 đạt 50.924 tỷ đồng, tăng 0,91% so với 31/12/2018. Ước đến 30/4/2019 đạt 51.400 tỷ đồng, tăng 1,85% so với 31/12/2018.
Nợ xấu đến 31/3/2019 là 459 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,9%/tổng dư nợ.
* Chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp và Cho vay đối với ngành chăn nuôi lợn và thiệt hại do dịch tả lợn Châu Phi
Chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp đến 31/3/2019 các ngân hàng trên địa bàn đã tổ chức được 5 hội nghị đối thoại/kết nối với số tiền cam kết hỗ trợ là 4.735tỷ đồng cho 202 doanh nghiệp, dư nợ là 3.481 tỷ đồng.
Dư nợ cho vay đối với ngành chăn nuôi lợn đến hết tháng 3/2019 là 3.504 tỷ đồng, trong đó các ngân hàng trên địa bàn đã thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ với dư nợ 12 tỷ đồng nhằm tháo gỡ khó khăn cho người chăn nuôi lợn khi xảy ra dịch tả lợn Châu Phi.
IV. Thương mại, dịch vụ, giá cả
1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn tỉnh tháng 4 năm 2019 ước đạt 2.995 tỷ đồng, tăng 2,4% so với tháng trước và tăng 14,3% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 164,8 tỷ đồng, tăng 17,8% cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 2.815,4 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 94% thị phần bán lẻ), tăng 14,2% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 15,1 tỷ đồng, tăng 5,7% so với cùng kỳ.
Nếu phân theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ tháng 4 năm 2019 ước đạt 2.381,9 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 79,5%), tăng 15,4% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 286,6 tỷ đồng, tăng 11,8% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ tiêu dùng còn lại ước đạt 321,7 tỷ đồng, tăng 9% cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành chỉ chiếm một phần rất nhỏ (đạt khoảng 5 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,17% trong tổng mức), tăng 11,4% so với cùng kỳ.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2019 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn ước đạt gần 12 nghìn tỷ đồng, tăng 12,8% so với cùng kỳ (nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì tốc độ tăng của tổng mức là 9,8%); trong đó: khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 642,8 tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 11.244 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 94,1% thị phần bán lẻ), tăng 12,6% cùng kỳ; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 59,3 tỷ đồng, tăng 7,4% so với cùng kỳ.
Nếu phân theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ ước đạt 9.577 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 80,2%), tăng 13,7% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống doanh thu ước đạt 1.093 tỷ đồng, tăng 9,5% so với cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành chỉ chiếm rất nhỏ đạt 19,1 tỷ đồng, tăng 10,1% và nhóm dịch vụ tiêu dùng khác ước đạt 1.257 tỷ đồng, tăng 8,8% cùng kỳ.
Trong cơ cấu doanh thu bán lẻ, tất cả các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng 4 tháng đầu năm 2019 đều tăng. Nhóm mặt hàng đạt doanh thu bán lẻ lớn nhất là nhóm lương thực, thực phẩm đạt 3.157,7 tỷ đồng (chiếm 33% doanh thu bán lẻ), tăng 14,2% so với cùng kỳ; tiếp đến là nhóm xăng, dầu các loại ước đạt 1.137,4 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 11,9%), tăng 15,2%; nhóm đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 1.084,2 tỷ đồng, tăng 13,5% cùng kỳ; nhóm ô tô các loại đạt 1.003,4 tỷ đồng, tăng 14,8%; nhóm hàng may mặc đạt 751 tỷ đồng, tăng 12,7%...
2. Giá tiêu dùng
Tháng 4/2019 do tác động tăng giá của xăng, dầu nên chỉ số giá tiêu dùng tính chung trên địa bàn tăng 0,37% so với tháng trước; tăng 2,75% so với cùng kỳ; tăng 0,85% so với tháng 12/2018. Bình quân 4 tháng đầu năm tăng 2,69% so với cùng kỳ.
So với tháng trước, chỉ có nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,19% (do giá lương thực giảm 0,76%, giá bột mì và ngũ cốc khác giảm 6,47%; nhóm thực phẩm giảm 0,12%, giá thịt chế biến giảm 0,28%; giá trứng các loại giảm 2,14%; giá dầu mỡ ăn và chất béo giảm 1,16%; giá rau tươi khô và chế biến vào vụ thu hoạch nên giá giảm 1,76%; quả tươi chế biến giảm 4,5%...); còn lại hầu hết các nhóm hàng hóa và dịch vụ đều có chỉ số giá tăng (10/11 nhóm đều tăng). Trong đó, tăng nhiều nhất là nhóm giao thông tăng 3,77%  (do giá nhiên liệu xăng, dầu diezen tăng tăng 10,03%); nhóm Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,19% (điện và dịch vụ điện sử dụng  tăng 0,11%; ga và các loại chất đốt tăng 1,28%); nhóm giáo dục và nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng nhẹ trong khoảng từ 0,02% đến 0,08%.
So với cùng kỳ (tháng 4/2018), chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2019 tăng 2,75%. Có 9/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có chỉ số giá tăng, trong đó nhóm chỉ số giá tăng cao nhất là nhóm Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,1% (nhóm nhà ở tăng 5,13%; nhóm nước sinh hoạt và dịch vụ nước tăng 4,4%; điện sinh hoạt tăng 4,6%; gas tăng 11%); tiếp đến là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,2% (do nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 7,3%; thực phẩm tăng 3,7% như thịt gia súc tăng 10,5%, thịt gia cầm tăng 1%; thịt chế biến tăng 8,4%; dầu mỡ tăng 1,9%; thủy sản tươi sống giảm 1,8%...); nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 3,1% (trong đó giá dịch vụ khám chữa bệnh tăng 7%; thuốc các loại tăng 0,25%; dụng cụ y tế tăng 0,4%); nhóm giáo dục tăng 2,96% (do nhóm văn phòng phẩm tăng 2%, dịch vụ giáo dục tăng 3,18%); nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,3%; còn lại các nhóm tăng trong khoảng từ 1% đến 1,6% như nhóm may mặc, giày dép tăng 1,6%, nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình; nhóm thuốc lá và đồ uống tăng 1%. nhóm giao thông tăng 0,96% (do giá nhiên liệu tăng 2%). Có 2/11 nhóm có chỉ số giảm như:  nhóm bưu chính viễn thông giảm 1,5% (do nhóm thiết bị điện thoại giảm 8,2%; nhóm văn hóa giải trí giảm 0,62% (do nhóm thiết bị văn hóa giảm 3,7%; giải trí tăng 4%).
So với tháng 12/2018, chỉ số giá tiêu dùng tăng 0,85%. Có 7/11 nhóm có chỉ số giá tăng. Trong đó, tăng nhiều nhất là nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,11% (do nhà ở thuê và nhà chủ sở hữu tính quy đổi tăng 4,98%; nhóm điện và dịch vụ điện tăng 3,45%); nhóm giao thông tăng 2,27% (do giá nhiên liệu tăng 7,7%); còn lại 03/11 nhóm tăng nhẹ trong khoảng từ 0,01% đến 0,44% như  nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,1%, nhóm giáo dục tăng 0,1%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,44%. Còn lại 4/11 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm nhẹ trong khoảng từ 0,11% đến 0,17% như: nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,13%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,11% (do giá thiết bị điện thoại giảm 0,57%); nhóm may mặc, giày dép và mũ nón giảm 0,16%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,17% (hoa, cây cảnh, vật cảnh giảm 1,43%).
Chỉ số giá vàng: chỉ số giá vàng tháng 4/2019 giảm 1,03% so với tháng trước và giảm 1,5% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá vàng bình quân 4 tháng đầu năm 2019 giảm nhẹ, giảm 0,3% so với cùng kỳ.
Chỉ số giá Đô la Mỹ: Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 4/2019 giảm 0,01% so tháng trước nhưng tăng 1,86% so với cùng kỳ. Chỉ số giá Đô la Mỹ bình quân 4 tháng đầu năm 2019 tăng 2,09% so với cùng kỳ.
3. Xuất, nhập khẩu
a. Xuất khẩu
Tổng giá trị xuất khẩu tháng 4/2019 ước đạt 2,48 tỷ USD, tăng 17,1% so với cùng kỳ. Trong đó, giá trị xuất khẩu khu vực trong nước ước đạt 38,2 triệu USD, tăng 48% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 2,44 tỷ USD, tăng 16,7% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 98,4% tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn.
Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu dự ước tháng 4/2019 tăng cao trên 15% so với cùng kỳ là: điện thoại thông minh 7,2 triệu sản phẩm với giá trị đạt 1,86 tỷ USD, tăng 2,3% về lượng, nhưng do giá xuất khẩu/1 sản phẩm tăng nên giá trị xuất khẩu tăng 32,6% về giá trị; máy tính bảng đạt 1,4 triệu sản phẩm với giá trị đạt 212 triệu USD, tăng 16% về lượng và tăng 15,9% về giá trị; sản phẩm may đạt 28,3 triệu USD, tăng 49,4%; sản phẩm từ sắt thép đạt 6,8 triệu USD, tăng 37,5%; phụ tùng vận tải 0,7 triệu USD, tăng 76,1%; giấy và các sản phẩm từ giấy 0,28 triệu USD, tăng 47,7%... Bên cạnh đó, nhóm mặt hàng xuất khẩu giảm so với cùng kỳ là: kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 20,4 triệu USD, giảm 3,1%; linh kiện điện tử và sản phẩm điện tử khác đạt 330,3 triệu USD, giảm 31,4%...
Tính chung 4 tháng đầu năm 2019 giá trị xuất khẩu trên địa bàn ước đạt 9,07 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ và bằng 32,9% kế hoạch cả năm. Trong đó, xuất khẩu địa phương quản lý đạt 162 triệu USD, tăng 61,4% cùng kỳ và bằng 27% kế hoạch cả năm; xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI đạt 8,9 tỷ USD, tăng 7,2% cùng kỳ và đạt 33% kế hoạch cả năm.
Mặt hàng xuất khẩu 4 tháng 2019 chiếm tỷ trọng lớn nhất về giá trị xuất khẩu là điện thoại thông minh 6,48 tỷ USD, tăng 15,6% cùng kỳ; sản phẩm may đạt 103,9 triệu USD, tăng 50,8%; kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 91,9 triệu USD, tăng 12,4%; sản phẩm từ sắt thép đạt 27,9 triệu USD, tăng 67%; phụ tùng vận tải đạt 2,8 triệu USD, tăng 72,2%… Riêng 2 mặt hàng giảm so cùng kỳ là máy tính bảng 870 triệu USD, giảm 6,8%; linh kiện điện tử và sản phẩm điện tử khác đạt 1,43 tỷ USD, giảm 15,6%.
b, Nhập khẩu:
Tổng giá trị nhập khẩu tháng 4/2019 trên địa bàn ước đạt 1,33 tỷ USD, tăng 23,1% so với cùng kỳ; bao gồm: khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 22,5 triệu USD, tăng 15,7% so với tháng trước, nhưng giảm 32,8% so với cùng kỳ (do nhập khẩu thép và thép phế liệu không phát sinh). Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,31 tỷ USD, tăng 0,8% so với tháng trước, tăng 24,9% so với cùng kỳ.
Hầu hết các sản phẩm nhập khẩu chủ yếu trong tháng 4/2019 đều tăng so với cùng kỳ: nguyên liệu và linh kiện điện tử ước đạt 1,28 tỷ USD, tăng 24,1%; vải các loại đạt 15,7 triệu USD, tăng 46,6%; máy móc thiết bị , dụng cụ phụ tùng đạt 5,3 triệu USD, tăng 12,9%; sản phẩm từ sắt thép đạt 5,9 triệu USD, gấp 3,2 lần; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 15,5 triệu USD, gấp 2,2 lần; giấy các loại đạt 0,8 triệu USD, gấp 2,8 lần; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 5 triệu USD, tăng 49,9%...
Tính chung 4 tháng đầu năm 2019, tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn ước đạt 5,21 tỷ USD, tăng 5,4% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước ước đạt 86,9 triệu USD, tăng 21,9% so với cùng kỳ. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 5,12 tỷ USD, tăng 5,1% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 98,3% tổng giá trị nhập khẩu.
Mặt hàng nhập khẩu tính chung 4 tháng 2019 chiếm tỷ trọng lớn nhất (chiếm 95,6%) là nhóm nguyên liệu và linh kiện điện tử, giá trị nhập khẩu đạt khoảng 5 tỷ USD, tăng 3,7% cùng kỳ. Còn lại các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu khác đều có giá trị nhập khẩu tăng trên 30% so với cùng kỳ là: máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 47,7 triệu USD, gấp 2,8 lần; sản phẩm từ sắt thép đạt 18,1 triệu USD, gấp 2,2 lần; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 52,4 triệu USD, tăng 97,4%; vải các loại đạt 57,3 triệu USD, tăng 57%; giấy các loại đạt 2,4 triệu USD, tăng 38,3%. Nhóm mặt hàng nhập khẩu tăng thấp hơn hoặc giảm so với cùng kỳ là: nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc nhập khẩu 12,1 triệu USD, tăng 18,7%; sắt thép nhập khẩu 3,5 triệu USD, giảm 65% và phế liệu sắt thép 4 tháng 2019 không phát sinh nhập khẩu.
4. Vận tải
- Vận tải hành khách: tháng 4 có nhiều ngày nghỉ lễ nên nhu cầu đi lại, thăm quan, du lịch của người dân sẽ tăng so với tháng trước. Dự ước, số lượng hành khách vận chuyển tháng 4/2019 ước đạt 1,7 triệu lượt khách với khối lượng luân chuyển là 98,5 triệu hành khách.km, so với tháng trước tăng 14,1% về số lượng hành khách vận chuyển và số hành khách luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 15,4% về số lượng hành khách vận chuyển và 15% số hành khách luân chuyển.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2019 số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 6,5 triệu lượt người, tăng 9,5% so với cùng kỳ (trong đó, vận tải đường thủy 38 nghìn hành khách, tăng 10%). Khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 376,2 triệu hành khách.km, tăng 9,1% so cùng kỳ.
- Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 4/2019 ước đạt 3,5 triệu tấn với khối lượng luân chuyển ước đạt 137 triệu tấn.km; so với tháng trước tăng 9% về khối lượng hàng hóa vận chuyển và khối lượng hàng hóa luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 8,6% khối lượng hàng hóa vận chuyển và tăng 7,3% khối lượng hàng hóa luân chuyển. Tính chung 4 tháng đầu năm 2019, khối lượng hàng hóa vận tải ước đạt 13,7 triệu tấn, tăng 10,2% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 541,6 triệu tấn.km, tăng 8,8% so cùng kỳ.
- Doanh thu vận tải trên địa bàn tháng 4/2019 ước đạt 354,4 tỷ đồng, tăng 9,7% so với tháng trước và tăng 11,5% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 70,1 tỷ đồng, tăng 14,1% so với tháng trước và tăng 18,2% so cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 266,5 tỷ đồng, tăng 9% so với tháng trước và tăng 9,8% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 17,8 tỷ đồng, tăng 5% so với tháng trước và tăng 12% so với cùng kỳ.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2019, doanh thu vận tải trên địa bàn ước đạt 1.392 tỷ đồng, trong đó, doanh thu vận tải hàng hóa chiếm tỷ trọng cao nhất (76%) và đạt 1.053,5 tỷ đồng, tăng 11,4% so cùng kỳ; doanh thu vận tải hành khách đạt 267,4 tỷ đồng, tăng 12,1%; doanh thu từ dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 71 tỷ đồng, tăng 9,4%.
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Tình hình thực hiện chính sách giảm nghèo và cứu trợ xã hội
Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững:  Ngành chức năng ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững năm 2019 tỉnh Thái Nguyên; Hướng dẫn các địa phương thực hiện dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo năm 2019 tại các địa bàn các xã thuộc Chương trình 135 và các xã ngoài Chương trình 135.
Ngành chức năng phối hợp Cục Bảo trợ xã hội tổ chức Hội nghị triển khai thực hiện Thông tư quy định về việc xác định mức độ khuyết tật do Hội đồng xác định mức độ khuyết tật thực hiện.
Hưởng ứng Ngày người khuyết tật Việt Nam 18/4. Ngành chức năng phối hợp tổ chức treo băng zôn tuyên truyền Ngày người khuyết tật Việt Nam tại các huyện, thành phố, thị xã.
2. Thực hiện chính sách ưu đãi Người có công
Trong tháng đã chi trả trợ cấp hàng tháng và thân nhân Người có công cho 28 trường hợp; cấp lại Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ cho 04 trường hợp; trợ cấp thờ cúng liệt sĩ cho 16 trường hợp; điều chỉnh thờ cúng liệt sĩ cho 14 trường hợp. Ban hành Quyết định trợ cấp một lần cho 02 trường hợp Người có công mới được công nhận; Giải quyết chế độ mai táng phí cho 129 trường hợp theo cá quy định hiện hành; trình cấp có thẩm quyền ra  quyết định trợ cấp 01 lần cho 11 trường hợp.
 Ngành chức năng phối hợp Ban chỉ đạo 515 thực hiện tìm kiếm, quy tập một liệt sĩ trên địa bàn theo Kế hoạch của Ban chỉ đạo tỉnh.
3. Lao động, việc làm và An toàn lao động
Ngành chức năng phối hợp với các đơn vị tổ chức tuyên truyền Chương trình việc làm Thái Nguyên năm 2019. Hướng dẫn các doanh nghiệp tuyển lao động đi làm việc ở nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Thông báo danh sách người lao động được doanh nghiệp Hàn Quốc sử dụng lao động; Thông báo chấp thuận cho 16 đơn vị sử dụng Lao động nước ngoài, trong đó chấp thuận bổ sung cho 5 đơn vị; cấp 14 giấy phép lao động người nước ngoài trong đó cấp mới 8, cấp lại 6… Xây dựng kế hoạch tổ chức hội nghị đối thoại với người lao động về chính sách pháp luật lao động, an toàn vệ sinh lao động.
Ngành chức năng xây dựng kế hoạch tổ chức Tháng hành động về An toàn - vệ sinh lao động năm 2019.  Hưởng ứng tháng Công nhân, ngành chức năng trong tỉnh triển khai nhiều hoạt động thiết thực, hiệu quả hướng về cơ sở: đối thoại chính sách; thăm tặng quà; hỗ trợ các cơ chế chính sách chăm lo cho Công nhân lao động; Tổ chức thăm hỏi, tặng quà, tặng nhà “Mái ấm công đoàn” cho đoàn viên công đoàn có hoàn cảnh khó khăn, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp… quan tâm, hướng về người lao động mọi lúc, mọi nơi, chăm lo, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích, hợp pháp, chính đáng của công nhân viên chức, lao động; hỗ trợ thiết thực cho cơ quan, doanh nghiệp trong việc xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ, góp phần vào sự phát triển chung của tỉnh.
4. Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em
Ngành chức năng tổ chức 02 lớp tập huấn kỹ năng truyền thông; 01 lớp kỹ năng làm việc nhóm cho 112  học viên là giáo viên, học sinh của 10 trường Tiểu học, Trung học sơ sở và đại diện Ban An toàn giao thông của 03 xã, phường được triển khai dự án Cải thiện an toàn giao thông cho trẻ em do tổ chức Plan tài trợ. Phối hợp cùng với doanh nghiệp trao tiền hỗ trợ cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt...
5. Hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin tuyên truyền
Trong  tháng 4/2019, ngành chức năng tổ chức các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, luân chuyển sách phục vụ nhân dân đặc biệt là đồng bào vùng sâu, vùng xa, các đối tượng chính sách được thực hiện đảm bảo kế hoạch đề ra. Hoạt động tuyên truyền, văn nghệ, thể thao kỷ niệm các ngày lễ (10/3 Âm lịch, 30/4, 1/5) . Các phong trào như: Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ; phong trào xây dựng Nông thôn mới; toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại, tiếp tục được triển khai, thực hiện. Tiếp tục thực hiện công tác giới thiệu, quảng bá du lịch Thái Nguyên trên các phương tiện truyền thông.
Hoạt động bảo tàng: Ngành chức năng xây dựng kế hoạch, tổ chức sưu tầm tài liệu hiện vật đợt II/2019 với chủ đề "Cách mạng kháng chiến và lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên”; kế hoạch, đề cương trưng bày triển lãm “Những phát hiện mới khảo cổ học thời tiền sử tại Thái Nguyên”; tổ chức các hoạt động kỷ niệm Ngày Quốc tế Bảo tàng (18/5). Bổ sung tài liệu hiện vật trưng bày tại phòng trưng bày chuyên đề “Di sản văn hóa Thần Sa và Tiềm năng thiên nhiên Thái Nguyên; phục vụ 630 lượt khách tham quan.
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật, phát hành phim và chiếu bóng: Tổ chức 12 buổi biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị, đối tượng chính sách; xây dựng kịch bản tham gia Liên hoan sân khấu chèo chuyên nghiệp toàn quốc; tập luyện mới chương trình ca múa nhạc theo kế hoạch. Thực hiện 108 buổi chiếu phim phục vụ nhiệm vụ chính trị, nhân dân các xã vùng khó khăn, đối tượng chính sách; phục vụ khoảng 7 nghìn lượt người xem.
Hoạt động thư viện: Tổ chức thành công Ngày hội Sách và Văn hóa Đọc tỉnh Thái Nguyên lần thứ VI - năm 2019 với chủ đề “Sách - Nguồn tri thức vô tận”. Tham dự Liên hoan, tuyên truyền giới thiệu sách kỷ niệm 65 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Cấp 43 thẻ, phục vụ 3.254 lượt bạn đọc, luân chuyển 5.620 lượt sách, báo. Phối hợp thực hiện 04 cuộc giới thiệu sách trên Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh.
Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở: Tổ chức triển khai xây dựng 05 điểm mô hình, mẫu hình hoạt động văn hóa văn nghệ, nhà văn hóa  tại thị xã  Phổ Yên, huyện Phú Lương, Định Hóa, Đồng Hỷ. Tổ chức 02 buổi văn hoá trà phục vụ Lễ kỷ niệm 70 năm Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng.
Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, chung tay xây dựng Nông thôn mới: Triển khai quy chế phối hợp liên ngành về phòng, chống bạo lực gia đình năm 2019; nâng cao hiệu quả hoạt động của phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa; phòng, chống xâm hại trẻ em và phòng, chống đuối nước trẻ em. Ngành chức năng Phối hợp với Đài Phát thanh - Truyền hình thực hiện chuyên mục truyền hình phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Nếp sống văn hóa và gia đình” số tháng 4/2019.
Thể thao thành tích cao: Duy trì công tác quản lý, huấn luyện, kiểm tra  việc tập luyện của các đội tuyển. tham gia các giải thi đấu đạt 21 huy chương (06 huy chương vàng, 09 huy chương bạc, 06 huy chương đồng), giành 1 cờ Nhì toàn đoàn tại giải Canoeing vô địch Câu lạc bộ Quốc gia. Các đội tuyển (vật nữ, boxing, đua thuyền) chuẩn bị tham gia thi đấu theo kế hoạch.
6. Công tác y tế và phòng chống dịch bệnh
 Công tác phòng chống dịch bệnh: Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn không có dịch bệnh lớn xảy ra. Công tác phòng chống dịch và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm được duy trì. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 20/4 có 9 ca sốt xuất huyết (cùng kỳ có 3 ca), 58 ca quai bị (cùng kỳ 117 ca), sốt phát ban dạng sởi 27 ca (cùng kỳ 02 ca), bệnh tay chân miệng 26 ca (cùng kỳ 04 ca). Tính riêng trong 20 ngày đầu tháng 4/2019 có 6 ca sốt phát ban dạng sởi, 9 ca tay chân miệng, 0 ca sốt xuất huyết. Các bệnh truyền nhiễm thông thường khác không có diễn biến đặc biệt. Trong quý 1/2019 có 01 ca tử vong do bệnh dại ngày 21/2/2019 tại xã Thành Công, Thị xã Phổ Yên (tương đương cùng kỳ).
Công tác khám, chữa bệnh: Hoạt động khám chữa bệnh tại tuyến xã, phường tiếp tục duy trì thực hiện tốt, đặc biệt khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế, đối tượng chính sách, trẻ em dưới 6 tuổi. Chất lượng khám chữa bệnh tại các bệnh viện tiếp tục được chú trọng. Thẩm định và bổ sung các trạm y tế đủ điều kiện khám, điều trị ngoại trú bệnh tăng huyết áp; tính đến tháng 4/2019 đã có 92 trạm y tế cấp xã đủ điều kiện khám, điều trị ngoại trú bệnh cao huyết áp, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh nhân cao tuổi trong việc khám chữa bệnh.    
Hoạt động tiêm chủng tại các huyện, thành, thị được duy trì thường xuyên, đảm bảo đúng quy trình. Trong tháng 4/2019 có 1 trường hợp trẻ 21 ngày tuổi tử vong chưa rõ nguyên nhân trùng với thời gian sau tiêm chủng. Ngành chức năng đang tiến hành xác định nguyên nhân để xem xét, kết luận.
Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm được quan tâm triển khai. Trong tháng 4/2019 không có vụ ngộ độc thực phẩm tập thể xảy ra. Ngành chức năng phối hợp với các đơn vị trường học thực hiện giám sát tại 30 bếp ăn bán trú thuộc các trường mầm non trên địa bàn thành phố Thái Nguyên... đồng thời triển khai các hoạt động và tuyên truyền nhằm bảo đảm An toàn thực phẩm. Thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành và chuyên ngành, kiểm tra an toàn thực phẩm theo phân cấp quản lý.
Công tác quản lý hành nghề y dược: Duy trì việc thẩm định đủ điều kiện cấp phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh cho các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân. Thẩm định hồ sơ cấp mới, cấp lại, thay đổi bổ sung chứng chỉ hành nghề y, dược, cơ sở đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm; cấp phép hoạt động phòng khám tư nhân.
Dân số và trẻ em: Quý I năm 2019, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 3.715 trẻ mới sinh, giảm 21 trẻ so với cùng kỳ (cùng kỳ 3.736 trẻ); trong đó, số trẻ em nam sinh ra là 1.946 (chiếm 52,3% tổng số trẻ sinh ra); số trẻ em nữ sinh ra là 1.769 trẻ (chiếm 47,7% tổng số trẻ sinh ra). Tỷ số giới tính khi sinh nam/nữ là 110 trẻ nam/100 trẻ nữ (cùng kỳ tỷ lệ này là 105,6/100). Trong tổng số trẻ mới sinh, có 410 trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên, chiếm 11% tổng số trẻ sinh. Trong đó, Huyện Phú Bình có trẻ sinh ra là con thứ 3 nhiều nhất với 109 trẻ (chiếm 26% tổng số trẻ sinh ra là con thứ 3); Huyện Đại Từ có 63 trẻ; TP Thái Nguyên 53 trẻ... Số cán bộ, Đảng viên sinh con thứ 3 trở lên là 8 trường hợp (giảm 19 so với cùng kỳ 2018).
Tình hình lây nhiễm HIV/AIDS: Tính luỹ tích đến hết tháng 3/2019, tổng số người nhiễm HIV/AIDS toàn tỉnh là 10.190 người, trong đó đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 6.749 người và 3.491 người đã tử vong do HIV/AIDS. Riêng trong tháng 3/2019 số người nhiễm HIV/AIDS mới phát hiện là 15 người, trong đó đã chuyển sang giai đoạn AIDS  là 3 người và 6 người đã tử vong do HIV/AIDS.
7. Giáo dục phổ thông
Ngành chức năng đã tổ chức triển khai, thực hiện khung kế hoạch thời gian năm học 2018-2019 theo quy định.
Kết quả cuộc thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh năm học 2018-2019 dành cho học sinh lớp 9,10,11 có 2.569 đạt giải, trong tổng số 5.406 học sinh tham dự thi 14 môn (chiếm 47,5% tổng số học sinh đạt giải). Căn cứ kết quả thi trên, ngành chức năng tiếp tục tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi để chuẩn bị cho kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp Quốc Gia năm học 2019-2020.
Tình hình đăng ký dự thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia năm học 2018- 2019: toàn tỉnh  có 14.403 hồ sơ đăng ký dự thi, giảm 87 hồ sơ so với năm học  2017-2018. Dự kiến trên địa bàn tỉnh sẽ có 31 điểm thi.
Thực hiện đề án xây dựng hệ thống trường đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 2016-2020: tính đến thời điểm đầu tháng 4/2019 toàn tỉnh có 562/680 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 82,65%, tăng 19 trường so với cùng kỳ năm trước, vượt mục tiêu trước 1 năm (Nghị quyết đặt ra đến năm 2020 là đạt 80%). Trong đó, Mầm non 185/233 trường, tỷ lệ 79,4%; Tiểu học 215/224 trường đạt tỷ lệ 95,98%; Trung học cơ sở có 144/191 trường đạt tỷ lệ 75,39%; Trung học phổ thông có 18/32 trường đạt tỷ lệ 56,25%.
8. Tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội
- Tình hình an toàn giao thông: Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh, trong tháng 4/2019 trên địa bàn tỉnh xảy ra 11 vụ tai nạn giao thông (toàn bộ là trên đường bộ), làm chết 4 người và bị thương 14 người. So với cùng kỳ, số vụ tai nạn giảm 8 vụ (tương đương  giảm 42,1%), số người chết giảm 4 người (giảm 50%); số người bị thương giảm 10 người (giảm 6,67%). Trong tháng, trên các tuyến đường bộ đã kiểm tra, lập biên bản xử lý vi phạm 3,8 nghìn trường hợp; tước 270 giấy phép lái xe; tạm giữ 164 xe ô tô, 461 xe mô tô; 18 phương tiện khác; số tiền xử phạt là 3 tỷ đồng. Về đường thủy nội địa đã xử lý 8 trường hợp vi phạm, thu nộp kho bạc nhà nước 0,6 triệu đồng.
Tính chung  4 tháng đầu năm 2019, giao thông đường sắt, đường thủy  không xảy ra tai nạn giao thông. Trên đường bộ, đã xảy ra 37 vụ tai nạn giao thông, làm chết 18 người và bị thương 26 người. So với cùng kỳ năm 2018, số vụ tai nạn giao thông giảm 5 vụ (-11,9%); số người chết giảm 1 người
(-5,26%); số người bị thương giảm 8 người (-23,52%). Trong đó, huyện Võ Nhai không xảy ra vụ tai nạn giao thông; Thành phố Thái Nguyên xảy ra 20 vụ (chiếm 54% tổng số), có 3 người chết và 15 người bị thương. Các địa phương còn lại có từ 1-4 vụ tai nạn xảy ra trong 4 tháng đầu năm 2019.
- Phòng chống tệ nạn xã hội: Ngành chức năng chỉ đạo các cơ sở cai nghiện trên địa bàn tổ chức tốt công tác quản lý đối tượng, tổ chức cai nghiện ma túy theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Tính đến ngày 15/4/2019 toàn tỉnh đã tổ chức cai nghiện cho 410/1.000 người, trong đó, Cai nghiện tại các Cơ sở cai nghiện 346 người; Cai nghiện tự nguyện tại gia đình 64 người.
Trong tháng, ngành chức năng đã tổ chức 5 lớp nâng cao năng lực về hỗ trợ giảm hại, hòa nhập cộng đồng cho cán bộ làm công tác phòng, chống mại dâm, cán bộ tham gia công tác cung cấp hỗ trợ dịch vụ cho người bán dâm với 325 đại biểu tham dự; tổ chức 4 hội nghị tuyên truyền về ma túy học đường cho 800 học sinh các trường trung học cơ sở tại huyện Định Hóa.
9. Vi phạm môi trường
Trong tháng 4 năm 2019 trên địa bàn tỉnh ngành chức năng đã kiểm tra và xử lý 2 vụ vi phạm môi trường với tổng số tiền xử phạt khoảng 302 triệu đồng . Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2019, các ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra và xử lý 24 vụ vi phạm môi trường, tổng số tiền thu và nộp vào ngân sách nhà nước là 457 triệu đồng. Nguyên nhân của các vụ vi phạm trên là do các cơ sở sản xuất kinh doanh không thực hiện quan trắc giám sát môi trường theo đề án bảo vệ môi trường.
10. Phòng chống cháy nổ
Các ngành chức năng của tỉnh đã tiến hành kiểm tra định kỳ công tác phòng cháy, chữa cháy tại các cơ quan đơn vị trên địa bàn tỉnh; qua kiểm tra đã nhắc nhở những thiếu sót trong phòng cháy chữa cháy và lập biên bản xử lý các trường hợp vi phạm nhằm hạn chế các vụ cháy nổ xảy ra.
Trong tháng qua trên địa bàn tỉnh xảy ra 7 vụ cháy, trong đó có 6 vụ cháy xảy ra tại Thành phố Thái Nguyên và 1 vụ tại Thị xã Phổ Yên. Ước tính giá thiệt hại khoảng 28 triệu đồng.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 36 vụ cháy, không có thiệt hại về người. Ước tính tổng giá trị thiệt hại khoảng 1,14 tỷ đồng.
11. Thiệt hại do thiên tai
Bốn tháng đầu năm 2019 trên địa bàn xảy ra 04 đợt thiên tai mưa, giông lốc. Tổng thiệt hại 04 đợt thiên tai ước tính về tài sản khoảng 52,7 tỷ đồng.
Riêng trong tháng 4/2019 trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 đợt thiên tai, trong đó gây thiệt hại nặng nhất là đợt thiên tai ngày 15/4/2019 có giông lốc, mưa lớn và kèm theo mưa đá xảy ra tại huyện Huyện Định hóa, Phú Lương, huyện Đại Từ, TP Sông Công; giá trị thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 34,5 tỷ đồng. Bao gồm: Thiệt bị  hại về nhà ở là trên 1,1 nghìn hộ bị thiệt hại; 04 điểm trường bị ảnh hưởng; 07 nhà văn hóa bị tốc mái; về nông nghiệp có 60,8 ha ngô,164 ha lúa, 12,8 ha cây rau màu bị thiệt hại;195 ha cây lâm nghiệp bị ảnh hưởng… Đợt thiên tai này làm ảnh hưởng nhiều đến đời sống người dân.
Ngành chức năng đã phối hợp với địa phương khắc phục xử lý sự cố, đánh giá thiệt hại, huy động lực lượng tại chỗ để tích cực triển khai, trợ giúp nhân dân ổn định đời sống và sản xuất.
Trên đây là tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên tháng 4 năm 2019./.

Nguồn tin: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây