Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2019 tỉnh Thái Nguyên

Thứ ba - 30/07/2019 07:27
A. KINH TẾ
I. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
1. Sản xuất vụ mùa
Theo kế hoạch vụ Mùa 2019, toàn tỉnh sẽ gieo trồng 39,5 nghìn ha lúa, 4,75 nghìn ha ngô và 3,18 nghìn ha rau các loại.
Vụ mùa năm nay thời tiết tương đối thuận lợi nên tiến độ gieo trồng nhanh và đảm bảo thời vụ. Ước tính đến 31/7/2019 toàn tỉnh gieo cấy được 39,8 nghìn ha lúa, bằng 100,7% kế hoạch trong vụ, nhưng giảm 393 ha so với cùng kỳ 2018; trong tổng diện tích gieo trồng, diện tích gieo xạ khoảng 3 nghìn ha; diện tích lúa thuần chất lượng cao là 2,3 nghìn ha và lúa lai 3,4 nghìn ha.
Bên cạnh cây lúa, diện tích gieo trồng một số cây màu chính trong vụ Mùa ước đạt 9,7 nghìn ha, bằng 84% kế hoạch; trong đó, cây ngô trồng được 3,8 nghìn ha, bằng 80,6% kế hoạch; cây rau đậu các loại gieo trồng được khoảng 2,8 nghìn ha, bằng 89,4% kế hoạch và tăng 0,8% so cùng kỳ; cây khoai lang trồng được khoảng 395 ha; cây đỗ tương 205 ha…
Tình hình sâu bệnh: Hiện nay, một số diện tích lúa cấy sớm ở các địa phương như: Phú Bình, TX Phổ Yên, T.P Sông Công… đang ở giai đoạn Đẻ nhánh; trà lúa Mùa muộn đang ở giai đoạn cây lúa đã bén rễ, hồi xanh. Tính đến ngày 17/7/2019 có 115,5 ha diện tích bị nhiễm sâu bệnh, trong đó diện tích nhiễm khô vằn 70 ha; ốc bươu vàng là 30,5 ha và diện tích bị ảnh hưởng do chuột cắn phá khoảng 15 ha. Nhìn chung vụ Mùa thường có diễn biến phức tạp, mưa nắng đan xen nên sẽ tạo điều kiện cho nhiều loại sâu bệnh phát sinh, gây hại, vì vậy ngành chức năng khuyến cáo các địa phương thường xuyên thăm đồng, kịp thời phát hiện, theo dõi diễn biến các đối tượng gây hại để có các biện pháp phòng trừ.  
2. Cây lâu năm
Cây lâu năm trên địa bàn tỉnh đều phát triển tốt, diện tích chè cành, chè trung du của các huyện cho năng suất cao; một số loại cây ăn quả dự tính cho năng suất cao hơn so với năm 2018.
-  Cây chè: Căn cứ vào chỉ tiêu được giao, các địa phương đã triển khai để các hộ dân đăng ký nhu cầu trồng mới và trồng thay thế chè năm 2019. Tính đến 15/7/2019, kết quả đăng ký trồng chè năm 2019 được 790 ha/750 ha kế hoạch, nghiệm thu diện tích đất được 605 ha/750 ha kế hoạch.
 Công tác ươm giống chè: Toàn tỉnh có 33 vườn ươm chè được kiểm định chất lượng giống với tổng số hom cắm là 52,7 triệu hom, tỷ lệ sống trung bình đạt 95,6% (với khoảng 50,4 triệu cây) với các giống chè chủ yếu là LDP1, Kim Tuyên, TRI 777.
Về tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật: Trong tháng 7 ngành chức năng phối hợp tổ chức được 8 lớp tập huấn với 450 người tham gia về kỹ thuật trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh trên cây chè, kỹ thuật sản xuất, thâm canh chè an toàn, chất lượng theo tiêu chuẩn VietGAP; ngoài ra, cán bộ khuyến nông chè còn tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
 Tình hình sâu bệnh trên cây chè: Diện tích bị nhiễm bệnh khoảng 2,3 nghìn ha,  tăng cao so với cùng kỳ (865 ha); trong đó rầy xanh khoảng 725 ha; bọ cánh tơ khoảng 730 ha, nhện đỏ, bọ xít muỗi khoảng 815 ha. Các địa phương chủ động theo dõi diễn biến các đối tượng gây hại để chỉ đạo các biện pháp phòng trừ kịp thời.
- Diện tích cây ăn quả năm 2019 là khoảng 17 nghìn ha (bao gồm cả diện tích quy đổi do trồng xen với cây trồng khác) và có xu hướng tăng nhẹ về diện tích cây ăn quả có múi. Các vùng cây ăn quả tập trung như: Nhãn 500 ha (Phổ Yên, Đại Từ); Na 300 ha (Võ Nhai), bưởi Diễn 300 ha (Đại Từ, Võ Nhai); ổi 100 ha (Thành phố Thái Nguyên, Đồng Hỷ, Võ Nhai) vẫn tiếp tục được duy trì và phát triển. Năm nay thời tiết thuận lợi nên cây ăn quả phát triển tốt, một số cây đang cho thu hoạch, dự báo năng suất một số cây ăn quả năm nay sẽ tăng so với năm trước; riêng cây vải năng suất giảm so với cùng kỳ năm trước.
3. Chăn nuôi
Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc: Năm 2019 chăn nuôi gặp khó khăn do phát sinh bệnh Lở mồm long móng và đặc biệt là Dịch tả lợn Châu phi.
 Tình hình bệnh Dịch tả lợn Châu phi: Lũy kế đến 23/7/2019, tổng số lợn mắc bệnh, nghi mắc bệnh dịch tả lợn Châu Phi buộc tiêu hủy là 133 nghìn con (chiếm 18,9% tổng đàn), trọng lượng 7.811 tấn của 13.782 hộ thuộc 2.018 thôn, xóm, 174 xã, phường, thị trấn trên địa bàn 9/9 huyện, thành phố, thị xã của tỉnh.  Trong đó, có 03 xã, phường của 03 huyện đã qua 30 ngày không có lợn mắc bệnh, chết, tiêu hủy: Úc Kỳ (04/5) huyện Phú Bình; Đồng Quang (24/5) TP Thái Nguyên; Đình Cả (ngày 06/6) huyện Võ Nhai.
Ngành chức năng đã triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh; kiểm tra hoạt động buôn bán, vận chuyển động vật, sản phẩm động vật tại các chợ trên địa bàn quản lý; tăng cường công tác giám sát, lấy mẫu bệnh phẩm xét nghiệm xác minh dịch... tuy nhiên dịch tả lợn Châu phi vẫn diễn biến phức tạp và gây thiệt hại nặng cho người chăn nuôi. Tính riêng trong vòng hơn 1 tháng qua (từ ngày 19/6/2019 đến ngày 23/7/2019) tổng số lợn phải buộc tiêu hủy là 64,7 nghìn con với trọng lượng khoảng 3,74 nghìn tấn.
Đến nay còn duy trì hoạt động của 35 chốt (05 chốt tỉnh, 29 chốt huyện, 01 chốt xã). Riêng đối với Chốt kiểm dịch cấp xã, thời gian duy trì ngắn, có thay đổi liên tục theo diễn biến của dịch bệnh; triển khai khử trùng tiêu độc với tổng số hoá chất đã cấp 41 nghìn lít cho công tác phòng chống dịch tả lợn Châu phi; Thực hiện công tác tuyên truyền, tiếp tục duy trì công tác phòng, chống dịch bệnh Dịch tả lợn Châu phi; các địa phương có chốt kiểm dịch đảm bảo lực lượng, phương tiện kiểm soát chặt chẽ các phương tiện vận chuyển động vật, sản phẩm động vật qua chốt; tăng cường phun thuốc khử trùng tiêu độc, hạn chế lây lan dịch bệnh sang các khu vực lân cận.
Giá bán sản phẩm chăn nuôi: Do bệnh Dịch tả lợn Châu phi lây lan nhanh trên 9/9 huyện, thành phố, thị xã nên thị trường tiêu thụ lợn bị ảnh hưởng, công tác tái đàn hạn chế; do vậy hiện nay giá lợn, gà giống tương đương so với tháng trước; giá thịt lợn hơi giảm mạnh trong tháng 4, tháng 5 và tiếp tục giảm sâu ở cuối tháng 5. Tuy nhiên, từ tháng 6 và tháng 7 giá lợn hơi trên địa bàn toàn tỉnh đã tăng trở lại, khoảng 35-40 nghìn đ/kg do nguồn cung giảm.
4. Lâm nghiệp
Các địa phương đang triển khai chăm sóc diện tích rừng đã trồng. Tổng diện tích trồng rừng tập trung đạt 5.860,5 nghìn ha, trong đó trồng rừng theo chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững 2.554 ha, bằng 100,2% kế hoạch; diện tích trồng rừng mới theo các chương trình dự án khác và do doanh nghiệp, tổ chức, người dân tự bỏ vốn trồng là 3.306,5 ha; diện tích khoán bảo vệ rừng là 17,1 nghìn ha.
Công tác tuyên truyền, tập huấn về quản lý bảo vệ rừng: Ngành chức năng phối hợp với Đài phát thanh và truyền hình tỉnh thực hiện chuyên mục quản lý bảo vệ rừng tại huyện Đại Từ; tổ chức 23 buổi tuyên truyền về Luật Lâm nghiệp và công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng; 01 lớp tập huấn hướng dẫn quy trình kỹ thuật về công tác phát triển rừng, chăm sóc rừng với 6.283 lượt người tham gia.
Công tác khai thác lâm sản: Ước tính tháng 7/2019 khai thác được 19 nghìn m3 gỗ tròn các loại, tăng 45,4% so cùng kỳ và 14,7 nghìn ste củi, tăng 2,9%. Tính chung 7 tháng đầu năm 2019 khai thác được 98,3 nghìn m3 gỗ tròn, tăng 15,6% so cùng kỳ; khai thác được 98,9 nghìn ste củi, tăng 2,8% so với cùng kỳ.
Kết quả ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng: Lũy kế 6 tháng đầu năm 2019 đã xử lý 101 vụ vi phạm Luật  bảo vệ và phát triển rừng, tịch thu 169 m3 gỗ quy tròn các loại (giảm 31,4%) và các phương tiện vi phạm...; Thu nộp ngân sách Nhà nước là 706 triệu đồng (giảm 35,5%) so với cùng kỳ năm 2018.
 
5. Thủy sản
Hoạt động nuôi trồng thủy sản đã có chuyển biến tích cực, nhiều diện tích đã được chuyển sang nuôi thâm canh và bán thâm canh với các đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao. Tính đến hết tháng 7/2019, dự ước sản xuất giống thủy sản trên địa bàn đạt 400 triệu con cá bột, đáp ứng nhu cầu nuôi thả cá trên địa bàn.
6. Tiến độ thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
Năm 2019 tỉnh Thái Nguyên đặt ra mục tiêu xây dựng 13 xã trở lên đạt chuẩn Nông thôn mới; tiếp tục xây dựng 09 xã “nông thôn mới kiểu mẫu” giai đoạn 2016-2020; thị xã Phổ Yên hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; duy trì, nâng cao chất lượng tiêu chí đối với những xã đã công nhận đạt chuẩn nông thôn mới theo tiêu chí xã nâng cao và xã nông thôn mới kiểu mẫu; tăng số tiêu chí đạt chuẩn với các xã còn lại.
- Kết quả thực hiện 13 xã đăng ký đạt chuẩn Nông thôn mới năm 2019: Tính đến thời điểm báo cáo có 01 xã (xã Tràng Xá - huyện Võ Nhai) cơ bản đạt 19 tiêu chí, chiếm 7,6% tổng số xã đăng ký; có 02 xã đạt 18 tiêu chí (xã Thanh Định và Bình Thuận); có 06 xã đạt 15 tiêu chí; có 04 xã đạt 14 tiêu chí.
Đánh giá khả năng đạt chuẩn của 13 xã: Từ kết quả tổng hợp trên, đối chiếu với bộ tiêu chí có 03 xã khó có khả năng đạt chuẩn do tiêu chí thu nhập đạt thấp vì tỷ lệ hộ nghèo cao. Vì vậy nếu có kinh phí đầu tư thì chỉ có khả năng hoàn thành các tiêu chí về hạ tầng còn các tiêu chí về thu nhập, hộ nghèo là khó hoàn thành năm 2019.
- Kết quả xây dựng 9 xã nông thôn mới kiểu mẫu: Theo kết quả kiểm tra, đến nay mới có xã Vinh Sơn là cơ bản đạt 19 tiêu chí (địa phương đang tiến hành lập hồ sơ đề nghị công nhận), các xã còn lại tiến độ triển khai chậm và chưa xây dựng được tiêu chí nổi bật của xã nông thôn mới kiểu mẫu như về sản xuất, văn hóa, môi trường…
- Kết quả thực hiện xây dựng “xóm nông thôn mới kiểu mẫu”: Tổng hợp toàn tỉnh đến nay có 07 xóm được UBND cấp huyện công nhận đạt xóm nông thôn mới kiểu mẫu, trong đó mới có 4/9 xóm đăng ký xây dựng “xóm NTM kiểu mẫu” giai đoạn 2017-2018 đạt chuẩn.
Kết quả huy động và sử dụng nguồn lực: Nguồn vốn ngân sách Trung ương 261,3 tỷ đồng, giải ngân đạt 31,4%; ngân sách tỉnh 207,5 tỷ đồng, giải ngân được 51,68%, xi măng giải ngân mới đạt 11,6% (trong đó có TP Thái Nguyên, huyện Phú Bình chưa sử dụng).
Nhìn chung tiến độ giải ngân các nguồn vốn của các địa phương còn chậm; các xã chủ yếu tập trung phát triển kết cấu hạ tầng, chưa quan tâm đúng mức đến tổ chức để liên kết các hộ dân sản xuất nhỏ lẻ lại thành các tổ hợp tác, hợp tác xã nên chưa tạo được bước đột phát và chuyển biến rõ nét trong phát triển sản xuất.
II. Sản xuất công nghiệp
Nhìn chung sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp chủ yếu trên địa bàn đạt kết quả tốt, chỉ số tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp chế biến chế tạo tháng 6/2019 tăng 78,4% so với cùng kỳ và chỉ số tồn kho giảm 2,88% nên lượng tồn kho một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm, thúc đẩy nhịp độ sản xuất công nghiệp trong tháng tiếp theo. Cụ thể, lượng tồn kho tính đến đầu tháng 7/2019 của một số sản phẩm như sau: sắt thép các loại tồn 171 nghìn tấn, giảm 13,2% so với cùng kỳ; sản phẩm điện thoại và máy tính bảng tồn 1,8 triệu sản phẩm, giảm 18% so với cùng kỳ; sản phẩm may tồn 5,9 triệu sản phẩm, tăng 1,4% so với cùng kỳ…; riêng sản phẩm xi măng tồn 93 nghìn tấn, gấp 2,4 lần tồn kho cùng kỳ…
Với nhịp độ sản xuất và tiêu thụ như trên dự ước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tháng 7/2019 tăng 0,8% so với tháng trước, tăng 12,5% so với cùng kỳ. Trong đó, công nghiệp chế biến chế tạo tăng 12,6% so với cùng kỳ; sản xuất, phân phối điện tăng 26% so với cùng kỳ (do sản xuất điện tăng); Riêng 2 ngành sản xuất giảm so với cùng kỳ là: cung cấp nước và hoạt động quản lý và xử lý rác thải giảm 3,2%; ngành khai khoáng giảm 7,4% so với cùng kỳ (do khai thác quặng kim loại giảm).
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất tháng 7/2019: nhóm sản phẩm có sản lượng tăng trên 15% so với cùng kỳ là: sắt thép các loại đạt 77,3 nghìn tấn, tăng 92,6%; camera truyền hình đạt 4,9 triệu sản phẩm, tăng 49,1%; điện sản xuất đạt 112 triệu kwh, tăng 48%; tai nghe khác đạt 3,1 triệu cái, tăng 46,5%; xi măng đạt 196,6 nghìn tấn, tăng 39,6%; than khai thác đạt 105,2 nghìn tấn, tăng 34,4%; điện thoại thông minh đạt 10,2 triệu sản phẩm, tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 17,1% so cùng kỳ (trong đó, điện thoại có giá từ 3 triệu đến 6 triệu tăng 50,9%; điện thoại có giá từ 6 triệu trở lên tăng 13,3% và điện thoại có giá dưới 1 triệu đồng đạt 12 nghìn cái, giảm 36,4%); sản phẩm may đạt 6,9 triệu sản phẩm, tăng 15,5%… Các sản phẩm có sản phẩm tăng ít hoặc giảm hơn so với cùng kỳ là: thiết bị và dụng cụ khác trong y khoa đạt 125,7 triệu sản phẩm, tăng 1,6%; gạch xây dựng đạt 6 triệu viên, tăng 1%; điện thương phẩm đạt 430 triệu kwh, tăng 0,8%; nhóm sản phẩm giảm trên 10% cùng kỳ là: máy tính bảng đạt 1,1 triệu sản phẩm, giảm 29,6%; quặng sắt đạt 102,2 nghìn tấn, giảm 33,45%;  đồng tinh quặng đạt 3,2 nghìn tấn, giảm 25,2%; vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 1,4 nghìn tấn, giảm 10,7%...
Tính chung 7 tháng đầu năm 2019 chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 8,8% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, nhóm ngành công nghiệp chế biến và chế tạo tăng 9% (tăng cao nhất là sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 59,3%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 26,9%; sản xuất trang phục tăng 21,8%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 9,36%); nhóm ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,1% so với cùng kỳ. Riêng 2 nhóm ngành giảm là nhóm cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 11,1%; nhóm ngành khai khoáng giảm 6,9% (do khai thác than và khai thác quặng đều giảm gần 10%).
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu tính chung 7 tháng năm 2019 tăng từ 10% trở lên so với cùng kỳ năm 2018 là: điện thoại thông minh đạt 61,6 triệu sản phẩm, tăng 10% (bao gồm, nhóm điện thoại có giá dưới 3 triệu tăng 8,9%; nhóm điện thoại có giá từ 3 đến 6 triệu tăng 11% và nhóm điện thoại có giá trên 6 triệu tăng 10,5%);  camera truyền hình đạt 41,5 triệu sản phẩm, tăng 56,7%; đá khai thác đạt 2,7 triệu m3, tăng 28,9%; mạch điện tử tích hợp đạt 55,7 triệu sản phẩm, tăng 28%; sản phẩm may đạt 47 triệu sản phẩm, tăng 21,8%; điện sản xuất đạt 1.016 triệu kwh, tăng 13%; xi măng đạt 1,3 triệu tấn, tăng 11,1%... Ngoài ra nhóm sản phẩm công nghiệp có sản lượng tăng thấp hoặc giảm hơn so với cùng kỳ là: phân phối điện đạt 2.754 triệu kwh, tăng 3,5%; sắt thép các loại 707 nghìn tấn, giảm 9,6%; vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 9,4 nghìn tấn, giảm 10,3%; máy tính bảng đạt 8,6 triệu sản phẩm, giảm 25,1%; gạch xây dựng bằng gốm, sứ đạt 38,6 triệu viên, giảm 1,3%; thiết bị và dụng cụ khác trong y khoa 861 triệu sản phẩm, giảm 1,4% ...
III. Hoạt động ngân hàng
- Tình hình thực hiện lãi suất: lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam phổ biến ở mức 0,5-1%/năm đối với lãi suất huy động tiền gửi kỳ hạn dưới 1 tháng; từ 4,5-5,5%/năm đối với kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; từ 5,5-8,8%/năm đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Lãi suất cho vay bằng Việt Nam đồng đối với các lĩnh vực ưu tiên là 6,5%/năm. Lãi suất cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,8%-9%/năm đối với ngắn hạn, từ 9%-11%/năm đối với trung và dài hạn.
- Hoạt động huy động vốn: Nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng (chưa bao gồm Ngân hàng Phát triển) đến 30/6/2019 đạt 59.459 tỷ đồng, tăng 10,13% so với 31/12/2018 (cao hơn so với mức tăng 7,82% của cùng kỳ năm trước). Ước đến 31/7/2019, nguồn vốn huy động đạt 59.900 tỷ đồng, tăng 10,95% so với 31/12/2018.
Dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng (chưa bao gồm cho vay ưu đãi của Ngân hàng Phát triển) đến 30/6/2019 đạt 53.418 tỷ đồng, tăng 5,85% so với 31/12/2018. Ước đến 31/7/2019, dư nợ cho vay đạt 53.800 tỷ đồng, tăng 6,6% so với 31/12/2018.
Nợ xấu đến 30/6/2019 là 512 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,96%/tổng dư nợ (thời điểm cùng kỳ là chiếm 0,92%/tổng dư nợ). Ước tính đến 31/7/2019, nợ xấu là 510 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 0,95%/tổng dư nợ.
- Chất lượng tín dụng: Các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng trên địa bàn đã thực hiện mở rộng tín dụng đi đôi với cơ cấu lại và nâng cao chất lượng tín dụng, tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên. Triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức và người dân tiếp cận vốn. Đến 30/6/2019, tăng trưởng tín dụng trên địa bàn tăng 5,85% so với 31/12/2018, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2018 là 6,32% và thấp hơn tăng trưởng tín dụng toàn ngành ngân hàng (toàn ngành là 7,33%), trong đó dư nợ cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đặc biệt là cho vay chăn nuôi giảm do dịch tả lợn châu Phi xuất hiện ở 9/9 huyện, thành phố, thị xã của tỉnh nên các hộ chăn nuôi giảm quy mô.
Dư nợ cho vay đối với ngành chăn nuôi lợn đến hết tháng 6/2019 là 2.007 tỷ đồng, trong đó dư nợ bị thiệt hại là 64 tỷ đồng, các ngân hàng trên địa bàn đã thực hiện giảm lãi vay và cơ cấu lại thời hạn trả nợ với dư nợ 13,25 tỷ đồng nhằm tháo gỡ khó khăn cho người chăn nuôi lợn khi xảy ra dịch tả lợn Châu Phi.
Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đến 30/6/2019 dư nợ cho vay đạt 15.500 tỷ đồng, tăng 9,27% so với cuối năm 2018 và chiếm tỷ trọng 29%/tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng, số khách hàng còn dư nợ là 175.277 khách hàng, nợ quá hạn đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn là 136 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,88%/tổng dư nợ cho vay.
IV. Thương mại, giá cả, dịch vụ
1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ phục vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn tỉnh tháng 7 năm 2019 ước đạt 3.093,3 tỷ đồng, tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 13% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước đạt khoảng 161 tỷ đồng, tăng 15,9% cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 2.914 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 94,2% thị phần bán lẻ), tăng 12,9% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 18,3 tỷ đồng, tăng 8,4% so với cùng kỳ.
Nếu phân theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ tháng 7 năm 2019 ước đạt 2.407 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 77,8%), tăng 14,1% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 315 tỷ đồng, tăng 9,3% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ tiêu dùng còn lại ước đạt 358 tỷ đồng, tăng 8,8% cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành chỉ chiếm một phần rất nhỏ (đạt khoảng 13,3 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,43% trong tổng mức), tăng 11,2% so với cùng kỳ.
Tính chung 7 tháng đầu năm 2019 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội đạt trên 21 nghìn tỷ đồng, tăng 12,8% so với cùng kỳ (nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì mức tăng là 10,4%); trong đó: khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 1.126,8 tỷ đồng, tăng 14,7% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 19.882,4 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 94,1% thị phần bán lẻ), tăng 12,7% cùng kỳ; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 111,9 tỷ đồng, tăng 8,4% so với cùng kỳ.
Nếu phân theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ ước đạt 16.721,8 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 79,2%), tăng 13,6% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống doanh thu ước đạt 2.025,7 tỷ đồng, tăng 10,1% so với cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành chỉ chiếm rất nhỏ đạt 59,8 tỷ đồng, tăng 28,7% (do thời tiết nắng nóng, trong dịp hè nên nhu cầu du lịch tăng cao hơn) và nhóm dịch vụ tiêu dùng khác ước đạt 2.314 tỷ đồng, tăng 9,2% cùng kỳ.
Trong cơ cấu doanh thu bán lẻ, tất cả các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng 7 tháng đầu năm 2019 đều tăng. Nhóm mặt hàng đạt doanh thu bán lẻ lớn nhất là nhóm lương thực, thực phẩm đạt 5.513,5 tỷ đồng (chiếm 33% doanh thu bán lẻ), tăng 14,5% so với cùng kỳ; tiếp đến là nhóm xăng, dầu các loại ước đạt 1.996,7 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 15,7%), tăng 14,3%; nhóm đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 1.887,4 tỷ đồng, tăng 13,2% cùng kỳ; nhóm ô tô các loại đạt 1.759,3 tỷ đồng, tăng 14,6%; nhóm hàng may mặc đạt 1.274,3 tỷ đồng, tăng 12,2%...
2. Xuất, nhập khẩu
a. Xuất khẩu
Giá trị xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh tháng 7/2019 ước đạt 2,32 tỷ USD, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 28,2% so với cùng kỳ; trong đó, giá trị xuất khẩu khu vực kinh tế trong nước ước đạt 54,9 triệu USD, tăng 42,8% so với cùng kỳ (do xuất khẩu sản phẩm may, giấy và kim loại mầu tăng). Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 2,27 tỷ USD, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 27,9% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 97,6% tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn. Trong đó, đóng góp lớn nhất vào tốc độ tăng trên là xuất khẩu của nhóm điện thoại, máy tính bảng và sản phẩm điện tử khác đạt 2,24 tỷ USD, tăng 28,4% so với cùng kỳ (bao gồm, điện thoại thông minh đạt 9,4 triệu sản phẩm với giá trị 1,68 tỷ USD, so với cùng kỳ tăng 56,8% về lượng và tăng 41,9% về giá trị; máy tính bảng đạt 1,4 triệu sản phẩm với giá trị 213 triệu USD, tăng 3,1% về lượng và tăng 13,1% về giá trị xuất khẩu; linh kiện điện tử và phụ tùng khác đạt 348 triệu USD, giảm 6,8% cùng kỳ); sản phẩm từ sắt thép đạt 6,8 triệu USD, tăng 60,7%; sản phẩm may đạt 38,7 triệu USD, tăng 18,9%; kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 23,5 triệu USD, tăng 10,5%... Riêng mặt hàng chè các loại không ổn định, giá trị xuất khẩu đạt thấp hơn so với cùng kỳ, ước tính tháng 7/2019 xuất khẩu đạt 114 tấn với giá trị đạt 0,2 triệu USD, giảm 26% về lượng và giảm 28,8% về giá trị.
Tính chung 7 tháng đầu năm 2019 giá trị xuất khẩu ước đạt 16 tỷ USD, tăng 12,9% so với cùng kỳ và bằng 58,3% kế hoạch cả năm; trong đó, xuất khẩu địa phương quản lý đạt 320 triệu USD, tăng 48,8% cùng kỳ và bằng 53,3% kế hoạch cả năm; khu vực có đầu tư nước ngoài đạt 15,74 tỷ USD, tăng 12,4% cùng kỳ và bằng 58,4% kế hoạch cả năm.
Nhóm mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn là nhóm điện thoại và máy tính bảng đạt 68,3 triệu sản phẩm với giá trị 13,1 tỷ USD, tăng 15,9% về lượng và tăng 17,5% về giá trị so với cùng kỳ và bằng 65,1% kế hoạch; linh kiện điện tử và phụ tùng khác đạt 2,46 tỷ USD, giảm 8,2% cùng kỳ nhưng đạt 77,5% kế hoạch; sản phẩm may đạt 220 triệu USD, tăng 39,7%; sản phẩm từ sắt thép đạt 48,7 triệu USD, tăng 56,4% cùng kỳ và bằng 93,6% kế hoạch; phụ tùng vận tải đạt 4,3 triệu USD, tăng 96,9%; chè các loại xuất khẩu đạt 1.035 tấn với giá trị 1,6 triệu USD, tăng 33,8% về lượng và tăng 30,9% về giá trị; tuy nhiên mới đạt 32% kế hoạch xuất khẩu chè cả năm; kim loại màu và tinh quặng kim loại màu giá trị đạt 160,4 triệu USD, tăng 2,2% cùng kỳ và bằng 89,1% kế hoạch.
b. Nhập khẩu
Tổng giá trị nhập khẩu tháng 7/2019 trên địa bàn ước đạt 1,23 triệu USD, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 26,1%  so với cùng kỳ, trong đó, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,2 tỷ USD, tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 25,7% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 98% tổng giá trị nhập khẩu.
Nhóm mặt hàng nhập khẩu tăng cao so với cùng kỳ là: nguyên, phụ liệu dệt may đạt 2,1 triệu USD, gấp 3,3 lần; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 6,3 triệu USD, tăng 56,6%; vải các loại đạt 17,7 triệu USD, tăng 53,5%; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 8,1 triệu USD, tăng 30%; nguyên liệu và linh kiện điện tử đạt 1,18 tỷ USD, tăng 26,1%; sản phẩm từ sắt thép 2,6 triệu USD, tăng 19,6%... Ngoài ra nhóm sản phẩm nhập khẩu chủ yếu có giá trị giảm so với cùng kỳ là: nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 3 triệu USD, giảm 34,3%; giấy các loại đạt 0,2 triệu USD, giảm 51,9%...
Tính chung 7 tháng đầu năm 2019, tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn ước đạt 8,97 tỷ USD, tăng 12,6% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước ước đạt 166,2 triệu USD, tăng 6,4% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 8,81 tỷ USD, tăng 12,7% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 98,1% tổng giá trị nhập khẩu. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ là: máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 72 triệu USD, gấp 2,4 lần; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 75,4 triệu USD, tăng 47,4%; vải và nguyên, phụ liệu dệt may đạt 118,3 triệu USD, tăng 38,6%; nguyên liệu và linh kiện điện tử đạt 8,59 tỷ USD, tăng 12,3%; giấy các loại đạt 3,2 triệu USD, tăng 7,5%… Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu đạt thấp hơn so với cùng kỳ là nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 18,1 triệu USD, giảm 15,1%; sản phẩm từ sắt thép đạt 23,5 triệu USD, giảm 44%; sắt thép các loại bằng 46,1% so với cùng kỳ.
3. Giá tiêu dùng
Do ảnh hưởng của dịch bệnh trong chăn nuôi nên nguồn cung thịt lợn giảm đã tác động làm giá tiêu dùng nhóm mặt hàng thịt lợn và thịt chế biến tăng; trong khi đó các nhóm hàng hóa, dịch vụ khác tương đối ổn định nên chỉ số giá tiêu dùng tháng 7/2019 tính chung trên địa bàn tăng 0,48% so với tháng trước; tăng 1,33% so với cùng kỳ và tăng 1,21% so với tháng 12/2018. Bình quân 7 tháng đầu năm tăng 2,17% so với cùng kỳ (thấp hơn mức tăng bình quân chung cả nước, chỉ số giá cả nước 6 tháng 2019 tăng 2,64%).
So với tháng trước, có 6/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, trong đó, tăng nhiều nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,36% (do biến động của giá lương thực, thực phẩm, tăng 1,41%, do giá thịt lợn đang có xu hướng tăng sau một thời gian dài giảm giá, cụ thể chỉ số giá thịt lợn tăng 5,35%; giá thịt quay, giò chả tăng 3,25%; giá dầu mỡ ăn chất béo khác tăng 3,49%...); hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,9%, trong đó đồ trang sức tăng 2,5% do giá vàng tăng…; có 3/11 nhóm có chỉ số giá giảm, đó là nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,09% (do giá ga và các loại chất đốt khác giảm 6,36%); nhóm giao thông giảm 0,16% (do giá phương tiện đi lại giảm 0,35%); nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,12% (do nhóm giải trí giảm 1,36%; giá hoa, cây cảnh giảm 2,44%). Có 2/11 nhóm có chỉ số giá tương đương so với tháng trước là nhóm đồ uống và thuốc lá; nhóm thuốc và dịch vụ y tế.
So với cùng kỳ (tháng 7/2018), chỉ số giá tiêu dùng tháng 7/2019 tăng 1,33%. Có 8/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có chỉ số giá tăng, trong đó nhóm chỉ số giá tăng cao nhất là nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 6,45% (trong đó nhóm khám chữa bệnh nội trú tăng 11%; thuốc các loại tăng 0,3%); tiếp đến là nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,53% (nhóm nhà ở thuê và nhà chủ sở hữu tính quy đổi tăng 6%; nước sinh hoạt và dịch vụ nước sinh hoạt tăng 3,4%; nhóm điện và dịch vụ điện tăng 10,54%); nhóm nhóm giáo dục tăng 3,91% (nhóm văn phòng phẩm tăng 5,16%; dịch vụ giáo dục tăng 3,63%); nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,8% (nhóm hàng hóa và dịch vụ cho cá nhân tăng 2,43%; nhóm lệ phí công chứng, bảo hiểm và dịch vụ tăng 4,53%); còn lại các nhóm khác tăng từ 0,74% đến 1,51%. Có 4/11 nhóm có chỉ số giá giảm như: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,53% (nhóm lương thực giảm 1,53%; nhóm thực phẩm giảm 1,67%, trong đó thịt lợn giảm 8,4%; nhóm dầu mỡ ăn và chất béo khác giảm 9,52%); nhóm giao thông giảm 0,76%; bưu chính viễn thông giảm 0,78%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,8%.
So với tháng 12/2018, chỉ số giá tiêu dùng tháng 7 năm 2019 tăng 1,21%. Có 8/11 nhóm có chỉ số giá tăng. Trong đó, tăng nhiều nhất là nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,58% (do nhà ở thuê và nhà chủ sở hữu tính quy đổi tăng 4,98%; nhóm điện và dịch vụ điện tăng 14,49%); nhóm giao thông tăng 2,83% (do giá nhiên liệu tăng 9,39%); nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,72%; nhóm giáo dục tăng 1,06%; còn lại 04/11 nhóm tăng nhẹ trong khoảng từ 0,02% đến 0,51% như  thiết bị và đồ dùng gia đình; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,1%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,51%. Còn lại 3/11 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm nhẹ trong khoảng từ 0,02% đến 0,03% như: nhóm may mặc, giày dép và mũ nón giảm 0,02%;  nhóm bưu chính viễn thông và nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,03%.
Chỉ số giá vàng: chỉ số giá vàng tháng 7/2019 tăng 5,6% so với tháng trước và tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá vàng bình quân 7 tháng đầu năm 2019 tăng 1,42% so với bình quân cùng kỳ (bình quân 7 tháng 2018 giá vàng tăng 5,58%).
Chỉ số giá Đô la Mỹ: Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 7/2019 giảm 0,55% so tháng trước, nhưng tăng 1,13% so với cùng kỳ. Chỉ số giá Đô la Mỹ bình quân 7 tháng đầu năm 2019 tăng 2,07% so với cùng kỳ (cao hơn mức tăng 0,34% của bình quân 7 tháng năm 2018).
4. Vận tải
- Vận tải hành khách: Hành khách vận chuyển tháng 7/2019 ước đạt 1,9 triệu lượt khách với khối lượng luân chuyển là 106,9 triệu hành khách.km; tăng 8,3% so với tháng trước về khối lượng vận chuyển và khối lượng luân chuyển; tăng 10,3% so với cùng kỳ về khối lượng vận chuyển và tăng 9,9% về khối lượng luân chuyển.
Tính chung 7 tháng đầu năm 2019 khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 12,2 triệu lượt người, tăng 9,5% so với cùng kỳ (trong đó, vận tải đường thủy là 158 nghìn hành khách, tăng 11,3%), khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 697,4 triệu hành khách.km, tăng 9,1% so cùng kỳ.
- Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 7/2019 ước đạt 3,7 triệu tấn với khối lượng luân chuyển ước đạt 148 triệu tấn.km; so với tháng trước tăng 8,6% về khối lượng vận chuyển và khối lượng luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 9,8% về khối lượng vận chuyển và tăng 10,4% về khối lượng luân chuyển.
Tính chung 7 tháng đầu năm 2019, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 24,6 triệu tấn, tăng 9% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 973 triệu tấn.km, tăng 8,9% so cùng kỳ.
- Doanh thu vận tải trên địa bàn tháng 7/2019 ước đạt 392,2 tỷ đồng, tăng 8,6% so với tháng trước và tăng 13,3% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 76 tỷ đồng, tăng 8,3% so với tháng trước và tăng 12,9% so cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 290 tỷ đồng, tăng 8,6% so với tháng trước và tăng 13,7% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 26,2 tỷ đồng, tăng 8,5% so với tháng trước và tăng 10,4% so với cùng kỳ.
Tính chung 7 tháng đầu năm 2019, doanh thu vận tải trên địa bàn ước đạt 2.583 tỷ đồng,tăng 11,8% so cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hàng hóa chiếm tỷ trọng cao nhất (74,2%) và đạt 1.917,6 tỷ đồng, tăng 11,7% so cùng kỳ; doanh thu vận tải hành khách đạt 496 tỷ đồng, tăng 12,1% và doanh thu từ dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 169,4 tỷ đồng, tăng 11,7% cùng kỳ.
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Lao động việc làm
Theo kết quả thống kê của ngành chức năng, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/7/2019 tăng 0,58% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 0,62% so với thời điểm cùng kỳ năm trước (01/7/2018); trong đó lao động khu vực doanh nghiệp công nghiệp nhà nước tăng 0,04% so tháng trước nhưng giảm 7,5% cùng kỳ; lao động khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 1,9% so với tháng trước và tăng 10,3% cùng kỳ; lao động công nghiệp khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 0,49% so với cùng kỳ.
Tính chung 7 tháng 2019, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp giảm 2,4%, trong đó, doanh nghiệp nhà nước giảm 7,3%; doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 15,7%; riêng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 5,26% so với cùng kỳ, tương ứng giảm khoảng 6 nghìn lao động (chủ yếu giảm ở lao động sản xuất sản phẩm điện tử viễn thông).
2. Giáo dục, đào tạo
Kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên: Số học sinh thực tế dự thi để xét công nhận tốt nghiệp là 13.976 học sinh; Kết quả số học sinh đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông năm học
2018 - 2019 là 12.831 học sinh, đạt tỷ lệ đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông của tỉnh Thái Nguyên năm 2019 là 91,81% (thấp hơn so với tỷ lệ 97,39% của năm 2018)
Trong tổng số 9 địa phương, huyện Đồng Hỷ có tỷ lệ đỗ tốt nghiệp cao nhất với tỷ lệ đạt 96,7%; huyện Phú Bình đạt 94,9%; có 3 địa phương là huyện Phú Lương, TP Thái Nguyên, thị xã Phổ Yên đạt tỷ lệ trên 92%, huyện Định Hóa, huyện Đại từ đạt gần 91%; huyện Võ Nhai đạt 85,4% và thấp nhất là TP Sông Công tỷ lệ đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông là 84,2%.
Hiện nay, các trường đại học, cao đẳng và trung cấp đang triển khai công tác tuyển sinh.
3. Y tế
Công tác phòng chống dịch và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm được duy trì triển khai; trong Bẩy tháng đầu năm 2019 trên địa bàn toàn tỉnh trong không có dịch bệnh lớn xảy ra, số ca mắc bệnh dịch thấp hơn cùng kỳ. Tính chung từ đầu năm đến 20/7/2019, trên địa bàn tỉnh có 103 ca mắc bệnh Quai bị, giảm 160 ca so cùng kỳ (cùng kỳ 2018 là 263 ca); có 7 ca Sốt phát ban dạng sởi/rubella,  giảm 4 ca; chân tay miệng là 54 ca; sốt xuất huyết là 17 ca, tăng 10 ca; ho gà 08 ca; có 02 ca tử vong do bệnh dại (cùng kỳ năm 2018 là 1ca).
 Công tác an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng 7 không có vụ ngộ độc thực phẩm nào xảy ra. Ngành chức năng duy trì triển khai đến từng địa phương công tác an toàn vệ sinh thực phẩm.
Công tác khám chữa bệnh: Trong 7 tháng 2019, các hoạt động khám chữa bệnh, thực hiện quy chế chuyên môn tại các bệnh viện, trạm y tế được duy trì và quan tâm đối với khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, đối tượng chính sách, trẻ em dưới 6 tuổi.
Dân số và trẻ em: 6 tháng đầu năm 2019, tổng số trẻ mới sinh ra là 7.566 trẻ (tăng 132 trẻ so với cùng kỳ 2018), trong đó trẻ mới sinh có giới tính nam là 4.007 trẻ, trẻ nữ là 3.591 trẻ. Tỷ số giới tính khi sinh nam/nữ là 107/100. Trong tổng số trẻ sinh ra thì số trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên là 860 trẻ (chiếm 11,3% tổng số trẻ sinh ra) tăng 189 trẻ so với cùng kỳ 2018. Trong đó, huyện Phú Bình cao nhất với 230 trẻ; TP Thái Nguyên 118 trẻ; huyện Đại Từ 132 trẻ; huyện Phú Lương 70 trẻ và thấp nhất là huyện Định Hóa có 53 trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên.
Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn: Tính đến 30/6/2019 số người nhiễm lũy tích là 10.237 người; trong đó chuyển giai đoạn AIDS lũy tích là 6.762 người; số tử vong do HIV/AIDS lũy tích là 3.505 người. Riêng trong tháng 6/2019 có 18 người mới được phát hiện; chuyển giai đoạn AIDS là 5 người; số tử vong do HIV/AIDS là 7 người.
4. Hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin tuyên truyền
Trong tháng 7/2019, trên địa bàn đã triển khai công tác tuyên truyền và thực hiện các hoạt động văn hóa, thể thao hướng tới kỷ niệm 72 năm Ngày Thương binh Liệt sỹ (27/7/1947-27/7/2019); tiếp tục thực hiện công tác giới thiệu, quảng bá du lịch Thái Nguyên trên các phương tiện truyền thông.
Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm: kiểm tra hoạt động của 31 tổ chức, cá nhân kinh doanh hoạt động quảng cáo, bơi lặn trên địa bàn thành phố Thái Nguyên. Công tác kiểm tra các hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá, du lịch đã chấn chỉnh kịp thời các hành vi sai phạm, góp phần tích cực đưa các cơ sở kinh doanh hoạt động theo đúng quy định.
Hoạt động bảo tàng: Tổ chức trưng bày triển lãm “Hoàng Sa, Trường Sa những bằng chứng lịch sử” tại di tích lịch sử 27/7 (huyện Đại Từ). Đón tiếp 65 lượt khách nước ngoài. Tiếp tục công tác đăng ký hiện vật vào sổ kiểm kê bước đầu, đánh số 142 đơn vị, tài liệu hiện vật. Tiếp tục thực hiện kế hoạch và tổ chức sưu tầm tài liệu, hiện vật đợt II/2019 với chủ đề “Cách mạng kháng chiến và lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên”; xây dựng kế hoạch kiêm kê, bảo quản, tu sửa phục chế hiện vật tại kho cơ sở bảo tàng, đợt III/2019 (32 đơn vị hiện vật).
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật, phát hành phim và chiếu bóng: Thực hiện 102 buổi chiếu phim, trong đó có 02 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị, 100 buổi phục vụ các xã vùng khó khăn, đối tượng chính sách; phục vụ 6.100 lượt người xem.
Hoạt động thư viện: phục vụ gần 4 nghìn lượt bạn đọc, luân chuyển 5.982 lượt sách báo; thực hiện 04 cuộc giới thiệu sách trên Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh. Tổ chức Hội thi “Thiếu nhi kể chuyện theo sách" (ngày 26/7/2019). Tổ chức khảo sát địa điểm xây dựng 05 thư viện cấp xã tại các huyện Định Hóa, Võ Nhai, thành phố (Sông Công, Thái Nguyên), thị xã Phổ Yên; Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả phong trào “Xây dựng Thư viện và môi trường văn hóa đọc xanh - sạch - đẹp - thân thiện”.
Hoạt động Khu di tích lịch sử và sinh thái ATK-Định Hoá: Thực hiện tốt công tác nghiên cứu sưu tầm, bổ sung tài liệu, hiện vật và trưng bày, triển lãm; chương trình, quy hoạch, dự án đầu tư  xây dựng, phục hồi, tu bổ di tích và sinh thái, cảnh quan; đón tiếp 220 đoàn với hơn 41.522 lượt khách tham quan.
Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng Nông thôn mới:  Kế hoạch tổ chức Hội thi tìm hiểu kiến thức về giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình năm 2019.  Đánh giá kết quả thực hiện các quy định pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình; Công tác quản lý các thiết chế văn hóa, thể thao và di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; thực hiện các đề án, chính sách dân tộc giai đoạn 2014-2019. Phối hợp thực hiện chuyên mục truyền hình phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng dời sống văn hóa”,“Nếp sống văn hóa và gia đình” số tháng 7/2019.
Hoạt động thể thao: Duy trì công tác quản lý, huấn luyện, kiểm tra  việc tập luyện của các đội tuyển; đạt 16 huy chương các loại tại giải Canoeing vô địch và vô địch trẻ Đông Nam Á, karatedo mở rộng. Các đội tuyển (điền kinh, vật nam, nữ…) tập luyện tham gia thi đấu các giải toàn quốc theo kế hoạch.
5. Tình hình an toàn giao thông
Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh Thái Nguyên, trong tháng 7/2019 trên địa bàn xảy ra 9 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 5 người chết và 8 người bị thương. Tai nạn liên quan đến ô tô 06 vụ (66,67%); liên quan đến mô tô 03 vụ (33,33%). Thiệt hại tài sản ước tính khoảng 234,5 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn tăng 3 vụ (+50%); số người chết tăng 2 người (+66,67%) và số người bị thương tăng 3 người (tương ứng tăng 60%). Tình hình an toàn giao thông đường sắt, đường thủy ổn định, không xảy ra tai nạn giao thông.
Tính chung 7 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 79 vụ tai nạn giao thông, làm chết 33 người và 65 người bị thương. So với cùng kỳ năm 2018 số vụ tai nạn giảm 1 vụ (-1,25%), số người bị chết tăng 1 người (+3,12%) và số người bị thương tăng 2 người (+3,17%). Trong đó, địa bàn xảy ra nhiều vụ tai nạn nhất là thành phố Thái Nguyên với 41 vụ (chiếm 51,9% tổng số), làm 5 người chết (chiếm 15%) và 40 người bị thương (chiếm 61,5% tổng số).
Trong tháng 7/2019 ngành chức năng đã kiểm tra lập biên bản xử lý vi phạm 4.241 trường hợp; tước 470 giấy phép lái xe; tạm giữ 324 xe ô tô, 518 xe mô tô; 15 phương tiện khác. Số tiền xử phạt 4,6 tỷ đồng. Riêng đường thủy xử lý vi phạm 8 trường hợp, tổng tiền phạt là 600 nghìn đồng.
6. Phòng chống cháy nổ
Các ngành chức năng của Tỉnh đã tiến hành kiểm tra phòng cháy, chữa cháy tại các cơ quan đơn vị trên địa bàn toàn tỉnh; qua kiểm tra đã nhắc nhở những thiếu sót trong phòng cháy chữa cháy và lập biên bản xử lý các trường hợp vi phạm nhằm hạn chế các vụ cháy, nổ xảy ra.
Tháng 7 năm 2019 (tính từ ngày 16/6/2019 đến 15/7/2019) trên địa bàn tỉnh xảy ra 5 vụ cháy, giảm 11 vụ so với cùng kỳ, trong đó có 2 vụ cháy xảy ra tại Thành phố Thái Nguyên, 2 vụ cháy tại huyện Phú bình và 1 vụ tại huyện Phú Lương. Các vụ cháy không gây thiệt hại về người; ước thiệt hại khoảng 255,8 triệu đồng.
Tính chung 7 tháng đầu năm 2019 (tính từ ngày 16/12/2018 đến 15/7/2019), trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 68 vụ cháy (giảm 27 vụ so với cùng kỳ năm 2018), có 01người bị chết. Ước tính tổng giá trị thiệt hại khoảng 5,9 tỷ đồng, giảm 39% so cùng kỳ.
7. Vi phạm môi trường
 Trong tháng 7 năm 2019 trên địa bàn tỉnh ngành chức năng đã kiểm tra và xử lý 3 vụ vi phạm môi trường. Tổng số tiền xử phạt khoảng 505 triệu đồng.
Tính chung trong 7 tháng đầu năm 2019, các ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra và xử lý 28 vụ vi phạm môi trường, nguyên nhân của các vụ xử lý trên là do các cơ sở sản xuất kinh doanh không thực hiện quan trắc giám sát môi trường theo đề án bảo vệ môi trường được ngành chức năng xác nhận. Tổng số tiền thu và nộp vào ngân sách nhà nước là 968 triệu đồng. So với 7 tháng 2018, số vụ vi phạm đã xử lý giảm 7 vụ nhưng số tiều xử phạt tăng 758 triệu đồng.
Trên đây là một số tình hình về kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2019./.

Nguồn tin: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây