Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 năm 2019 tỉnh Thái Nguyên

Thứ sáu - 30/08/2019 07:44
A. KINH TẾ
I. Sản xuất nông, lâm nghiệp thủy sản
1. Trồng trọt
- Cây hàng năm vụ mùa 2019: Thời tiết tháng 8/2019 có nhiều đợt nắng nóng và là mùa mưa bão đã làm mực nước các sông lớn như Sông Cầu, Sông Công trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên dâng lên nhanh, nước thoát chậm do nhiều dòng chảy bị tắc cục bộ khiến nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh bị ngập, úng cục bộ nên một số diện tích cây mầu bị ảnh hưởng phải trồng lại; tuy nhiên chưa gây thiệt hại nhiều đến ngành trồng trọt trên địa bàn tỉnh.
Cây lúa: Tổng diện tích gieo cấy cây Lúa vụ Mùa năm 2019 đạt khoảng 40 nghìn ha, bằng 101,3% kế hoạch trong vụ, nhưng giảm 556 ha (giảm 1,4%) so với thực hiện vụ Mùa năm 2018. So với vụ Mùa 2018 hầu hết các địa phương đều giảm diện tích và chỉ có 2 địa phương là huyện Đồng Hỷ và Phổ Yên tăng.  Nguyên nhân giảm chủ yếu là do một số diện tích đất lúa được chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Hiện nay các trà lúa đang sinh trưởng và phát triển tốt.
Cây hàng năm khác: Diện tích gieo trồng một số cây hoa màu chính trong vụ Mùa sơ bộ đạt khoảng 12 nghìn ha, bằng 103,9% kế hoạch nhưng giảm 3% so cùng kỳ; trong đó, cây ngô trồng được 4,6 nghìn ha, bằng 97,5% kế hoạch và giảm 4,1% cùng kỳ (cây ngô tập trung chủ yếu ở Võ Nhai với 2,1 nghìn ha, chiếm 47% tổng số; Phú Bình 600 ha; Đồng Hỷ 545 ha); cây rau đậu các loại gieo trồng được khoảng 3,6 nghìn ha, bằng 113,5% kế hoạch tăng 3% so cùng kỳ; cây khoai lang trồng được khoảng 675 ha; cây đỗ tương 209 ha…
Tình hình sâu bệnh: Vụ Mùa thường có diễn biến phức tạp, mưa nắng đan xen nên sẽ tạo điều kiện cho nhiều loại sâu bệnh phát sinh, gây hại. Theo đánh giá của cơ quan chức năng, tổng diện tích lúa bị nhiễm sâu bệnh khoảng 1,3 nghìn ha (chiếm 3,3% diện tích), trong đó chủ yếu là bệnh khô vằn khoảng 1,1 nghìn ha (trong đó có 20 ha lúa bị nhiễm nặng); chuột phá hoại khoảng 125 ha; sâu đục thân và bệnh khác khoảng 35 ha. Diện tích Ngô bị sâu bệnh hại cục bộ khoảng 300 ha. Ngành chức năng chỉ đạo các địa phương kịp thời dự báo các đối tượng gây hại, trong đó quan tâm các đối tượng là Rầy trên cây lúa, sâu Keo trên cây ngô để chủ động các biện pháp phòng trừ đảm bảo năng suất cây trồng.
2. Cây lâu năm
Cây chè: Căn cứ vào chỉ tiêu được giao, các địa phương đã triển khai để các hộ dân đăng ký nhu cầu trồng mới và trồng thay thế chè năm 2019. Tính đến 15/8/2019, kết quả đăng ký trồng chè năm 2019 được 917,6 ha/750 ha kế hoạch, nghiệm thu diện tích đất được 907,6 ha/750 ha kế hoạch; đã cấp cây được 30 ha.
Diện tích chè kinh doanh được chú trọng đầu tư chăm sóc và thu hoạch. Tổng sản lượng chè búp tươi từ đầu năm đến hết tháng 8/2019 ước đạt 177,5 nghìn tấn, bằng 76% kế hoạch sản lượng cả năm.
 Công tác ươm giống chè: Toàn tỉnh có 33 vườn ươm chè được kiểm định chất lượng giống với tổng số hom cắm là 52,7 triệu hom, tỷ lệ sống trung bình đạt 95,6% (với khoảng 50,4 triệu cây) với các giống chè chủ yếu là LDP1, Kim Tuyên, TRI 777.
Về tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật: Trong tháng 8 ngành chức năng phối hợp tổ chức được 6 lớp tập huấn với 350 người tham gia về kỹ thuật trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh trên cây chè, kỹ thuật sản xuất, thâm canh chè an toàn, chất lượng theo tiêu chuẩn VietGAP; ngoài ra, cán bộ khuyến nông chè còn tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
 Tình hình sâu bệnh trên cây chè: Tổng diện tích bị nhiễm bệnh 3,8 nghìn ha. Trong đó, diện tích bị nhiễm rầy xanh khoảng 1,2 nghìn ha; bọ cánh tơ khoảng 980 ha; nhện đỏ, bọ xít muỗi khoảng 1,6 nghìn ha... ngành chức năng đã chủ động theo dõi diễn biến các đối tượng gây hại để hướng dẫn các biện pháp phòng trừ kịp thời.
3. Chăn nuôi
Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc: Tính từ ngày xuất hiện bệnh Dịch tả lợn Châu Phi đến nay đã hơn 5 tháng, hiện nay bệnh dịch vẫn đang diễn biến phức tạp tại tất cả 9 huyện, thành phố, thị xã với số lượng lợn mắc bệnh và nghi mắc bệnh buộc phải tiêu hủy là rất lớn. Tính đến ngày 25/8/2019, bệnh Dịch tả lợn Châu phi đã phát hiện tại 174/180 xã, phường, thị trấn trên tất cả các đơn vị cấp huyện của tỉnh. Tổng số lợn buộc tiêu hủy là 146,9 nghìn con (chiếm 20,9% so với tổng đàn lợn của năm 2018) với trọng lượng 8,56 nghìn tấn của 15.793 hộ thuộc 2.194 thôn, xóm. Trong đó huyện Định Hóa tỷ lệ tiêu hủy so tổng đàn lớn nhất (30,97%), tiếp đến là huyện Đại Từ 29,94% tổng đàn; Võ Nhai và Đồng Hỷ 27-28% tổng đàn; thành phố Thái Nguyên 15,4% tổng đàn… Trong tổng số lợn phải tiêu hủy, số lợn nái là 19,4 nghìn con, chiếm 15,7% tổng đàn lợn nái; lợn đực giống đã tiêu hủy là 446 con, chiếm 47,3% tổng đàn lợn đực giống.
Tính đến ngày 25/8/2019, có 16 xã, phường của 05 huyện đã qua 30 ngày không có lợn mắc bệnh, chết, tiêu hủy: Úc Kỳ (04/5), Dương Thành (30/6), Hà Châu (06/7), Thanh Ninh (10/7), Nhã Lộng (19/7) huyện Phú Bình; P. Đồng Quang (24/5), P.Gia Sàng (07/7), Trung Thành (03/7), Phan Đình Phùng (17/7) TP Thái Nguyên; TT Đình Cả (ngày 06/6), Sảng Mộc (06/7) huyện Võ Nhai; P. Bãi Bông (26/6), xã Thuận Thành (18/7) TX Phổ Yên; TT Quân Chu (30/6), X. Hoàng Nông (05/7), xã Hà Thượng (12/7) huyện Đại Từ (trong đó 05 xã của huyện Phú Bình đã công bố hết dịch: Xã Úc Kỳ, Hà Châu, DươngThành, Thanh Ninh, Nhã Lộng).
- Công tác phòng, chống dịch bệnh: ngành chức năng tiếp tục rà soát quy mô, cơ cấu đàn hiện có, đánh giá tình hình dịch bệnh sát với thực tế từng địa phương; tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn, vận động áp dụng các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học, duy trì các chốt kiểm dịch động vật… để phòng chống hiệu quả dịch tả lợn Châu Phi. Tập trung hỗ trợ các giải pháp bảo vệ như: an toàn sinh học, cách ly nghiêm ngặt, xử lý các ổ dịch xung quanh, hỗ trợ vật tư, hóa chất, vác xin tiêm phòng… cho các cơ sở chăn nuôi từ 10 con lợn nái trở lên, cơ sở chăn nuôi lợn giống và cơ sở chăn nuôi có từ 100 lợn thịt trở lên. Các địa phương chủ động mua hóa chất, vôi bột cấp cho các hộ chăn nuôi để sát trùng, tiêu độc chuồng trại, môi trường chăn nuôi (442 tấn vôi bột); cấp tỉnh đã cấp 41 nghìn lít hóa chất… để phục vụ công tác phòng chống bệnh dịch tả lợn Châu phi nhằm duy trì đàn lợn giống và nguồn thực phẩm trong thời gian tới.
Giá bán sản phẩm chăn nuôi: Do bệnh Dịch tả lợn Châu phi lây lan nhanh trên 9/9 huyện, thành phố, thị xã nên thị trường tiêu thụ lợn bị ảnh hưởng, công tác tái đàn hạn chế nên tổng đàn lợn giảm. Từ giữa tháng 8/2019 đến nay giá lợn hơi trên địa bàn toàn tỉnh đã tăng trong khoảng 49-52 nghìn đồng/kg lợn hơi do nguồn cung giảm mạnh. Chỉ số giá nguyên liệu thức ăn gia súc, gia cầm tương đương tháng trước và giảm 0,35% so tháng 8/2018 cùng kỳ.
4. Lâm nghiệp
Các địa phương đã hoàn thành công tác trồng mới rừng năm 2019 và đang tiến hành chăm sóc diện tích rừng đã trồng, tỷ lệ cây sống đạt cao.
Công tác phòng cháy chữa cháy rừng: Ngành chức năng tăng cường công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy chữa cháy rừng trong những ngày nắng nóng, có nguy cơ xảy ra cháy cao. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng.
Khai thác lâm sản: Ước tính tháng 8/2019 khai thác được 17,4 nghìn m3 gỗ quy tròn các loại (tăng 19,9% so cùng kỳ) và 16,6 nghìn ste củi (tăng 4,5%). Tính chung 8 tháng năm 2019 toàn tỉnh khai thác được 116,4 nghìn m3 gỗ quy tròn, tăng 16,9% so cùng kỳ; khai thác được 115,5 nghìn ste củi, tăng 4,7% so với cùng kỳ.
Kết quả ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng: Lũy kế 7 tháng năm 2019 đã xử lý 121 vụ vi phạm, tịch thu 181 m3 gỗ quy tròn các loại và các phương tiện vi phạm các loại; Thu nộp ngân sách Nhà nước là 930 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2018 số vụ vi phạm giảm 56 vụ, tịch thu giảm 107 m3 (-34,2%) gỗ quy tròn và thu nộp ngân sách Nhà nước  giảm 770 triệu đồng (tương ứng giảm 45,3%) so cùng kỳ.
Tính riêng tháng 7/2019 đã xử lý 20 vụ vi phạm Luật  bảo vệ và phát triển rừng, tịch thu 12,6 m3 gỗ quy tròn các loại và các phương tiện vi phạm các loại; Thu nộp ngân sách Nhà nước là 224 triệu đồng.
5. Thủy sản
Hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn đã có chuyển biến tích cực, nhiều diện tích đã được chuyển sang nuôi thâm canh và bán thâm canh với các đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao hướng tới việc áp dụng chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật gắn với bảo vệ môi trường.
Tính đến hết tháng 8/2019, dự ước sản xuất giống thủy sản trên địa bàn đạt 450 triệu con cá bột, cá giống đạt 40 triệu con, sản lượng thủy sản thương phẩm thu hoạch 7,6 nghìn tấn. Các cơ sở chăn nuôi thủy sản chú trọng công tác phòng chống dịch bệnh, chống nóng và lụt bão cho vật nuôi thủy sản.
II. Sản xuất công nghiệp
Nhìn chung sản xuất công nghiệp trên địa bàn vẫn tiếp tục tăng do chỉ số tiêu thụ sản phẩm công nghiệp tháng 7/2019 tăng 56,2% so với cùng kỳ, trong đó tiêu thụ tăng cao ở các sản phẩm như thép, xi măng, cấu kiện kim loại và sản phẩm điện tử viễn thông tăng cao. Chỉ số tồn kho tháng 7/2019 giảm 2,3% so với cùng kỳ là yếu tố tích cực thúc đẩy sản xuất công nghiệp trong tháng 8/2019.
Lượng tồn kho cụ thể của các đơn vị sản xuất công nghiệp tính đến đầu tháng 8/2019 như sau: sắt thép các loại tồn 100 nghìn tấn, giảm 37,1%; sản phẩm điện thoại thông minh và máy tính bảng tồn kho 2,6 triệu sản phẩm, giảm 3,8% so với cùng kỳ; sản phẩm may tồn 7 triệu sản phẩm, tăng 19,7%; xi măng tồn 65,6 nghìn tấn, tăng 72,9% so với cùng kỳ nhưng giảm 8% so với tháng trước; Vonfram và các sản phẩm của Vonfram tồn 890 tấn, tăng 17,6% so với tồn kho cùng kỳ…
Với nhịp độ sản xuất và tiêu thụ như trên dự ước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tháng 8/2019 tăng 0,2% so với tháng trước. Trong đó công nghiệp chế biến chế tạo tăng 0,6%; cung cấp nước và hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 4,3%.
So với cùng kỳ chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8/2019 tăng 12,9%, trong đó tăng cao nhất là nhóm ngành sản xuất và phân phối điện với mức tăng 15,9%; nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,1%; công nghiệp khai khoáng tăng 1,2%. Riêng ngành cung cấp nước và hoạt động quản lý và xử lý rác thải giảm 10,2% so cùng kỳ.
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất trong tháng 8/2019: Nhóm sản phẩm ước tính sản lượng tăng trên 10% so với cùng kỳ là: xi măng 194,1 nghìn tấn, tăng 44%; sản phẩm may 7,4 triệu sản phẩm, tăng 15,5%; sản xuất điện 90 triệu kwh, tăng 27,5%; camera truyền hình 5,4 triệu sản phẩm, tăng 41,7%; tai nghe điện thoại 3,9 triệu sản phẩm, tăng 22,7%; mạch điện tử tích hợp 9,8 triệu sản phẩm, tăng 17,4%; than khai thác 97,2 nghìn tấn, tăng 10,2%; thiết bị và dụng cụ khác trong y khoa 137 triệu sản phẩm, tăng 51,9%. Nhóm sản phẩm ước tính tăng thấp hoặc giảm hơn so với cùng kỳ là: điện thương phẩm đạt 450 triệu kwh, tăng 3,7%; vonfram và sản phẩm của vonfram 1,3 nghìn tấn, tăng 1,9%; đồng tinh quặng 3,2 nghìn tấn, giảm 28,8%; nước máy thương phẩm 2,6 triệu m3, giảm 11,7%; gạch xây dựng bằng gốm, sứ 5,2 triệu viên, giảm 12,1%; sắt thép các loại ước đạt 107,7 nghìn tấn, tăng 26,4% so tháng trước nhưng vẫn giảm 21,5% sản lượng sản xuất cùng kỳ; sản phẩm máy tính bảng ước đạt 1,2 triệu sản phẩm, giảm 31,3% cùng kỳ...
Riêng nhóm điện thoại thông minh sản xuất tháng 8/2019 ước đạt 10,1 triệu sản phẩm, tăng 1,5% so với tháng trước nhưng giảm 2,8% cùng kỳ; trong đó giảm chủ yếu ở nhóm điện thoại có giá trị thấp như: điện thoại có giá dưới 3 triệu đồng/1 sản phẩm, sản lượng ước đạt 3,5 triệu cái, giảm 22,4%; điện thoại có giá từ 3 triệu đến dưới 6 triệu đồng/1 sản phẩm ước đạt 3,2 triệu cái, giảm 3,4% và nhóm điện thoại có giá từ 6 triệu trở lên đạt 3,4 triệu sản phẩm, tăng 33,2% cùng kỳ và đóng góp vào mức tăng chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8/2019.
Tính chung 8 tháng đầu năm 2019, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,3% so với cùng kỳ. Trong đó, công nghiệp chế biến chế tạo tăng 9,5% (tăng cao là sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 50,6%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 35,9% và sản xuất trang phục tăng 20,6%); sản xuất phân phối điện tăng 13,3%; nhóm ngành công nghiệp khai khoáng giảm 4,9% (do khai thác than và quặng sắt giảm); cung cấp nước và hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 11,7% cùng kỳ.
Sản phẩm sản xuất chủ yếu tính chung 8 tháng đầu năm 2019 tăng trên 10% so với cùng kỳ năm 2018 hoặc đạt trên 70% kế hoạch sản lượng cả năm là: Điện thoại thông minh 71,4 triệu sản phẩm, tăng 7,6% cùng kỳ và bằng 73,6% kế hoạch; trong đó điện thoại có giá từ 6 triệu trở lên đạt 21,8 triệu cái (chiếm 30,5% tổng số), tăng 13% cùng kỳ; camera truyền hình đạt 46,8 triệu sản phẩm, tăng 54,7% và bằng 70,1% kế hoạch; mạch điện tử tích hợp đạt 66,8 triệu sản phẩm, tăng 28,8% cùng kỳ, bằng 73,9% kế hoạch; sản phẩm may đạt 54,3 triệu sản phẩm, tăng 20,6% cùng kỳ và bằng 75,5% kế hoạch; điện sản xuất đạt 1.145 triệu kwh, tăng 18,1%; xi măng đạt 1,4 triệu tấn, tăng 13,8% cùng kỳ và bằng 61,1% kế hoạch... Ngoài ra nhóm sản phẩm công nghiệp có sản lượng tăng thấp hoặc giảm hơn so với cùng kỳ và đạt dưới 60% kế hoạch như: thiết bị và dụng cụ khác trong y khoa đạt 1.003 triệu sản phẩm, tăng 4,1%; máy tính bảng đạt 11 triệu sản phẩm, giảm 16,3%; gạch xây dựng bằng gốm sứ đạt 42,7 triệu viên, giảm 5%; than khai thác 916 nghìn tấn, giảm 5,9%; vomfram và sản phẩm vomfram đạt 10,7 nghìn tấn, giảm 8,9%; đồng tinh quặng đạt 27,5 nghìn tấn, giảm 9,9%; sắt thép các loại đạt 822,4 nghìn tấn, giảm 10,5%; nước máy thương phẩm đạt 19,7 triệu m3, giảm 12,3%.
III. Thương mại, giá cả, dịch vụ
1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn tỉnh tháng 8 năm 2019 ước đạt 3.100 tỷ đồng, tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 158 tỷ đồng, tăng 13,4% cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 2.923 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 94,3% thị phần bán lẻ), tăng 12,2% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 18,9 tỷ đồng, tăng 8,9% so với cùng kỳ.
Nếu phân theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ tháng 8 năm 2019 ước đạt 2.400 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 77,4%), tăng 13,2% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 322,7 tỷ đồng, tăng 8,8% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ tiêu dùng còn lại ước đạt 365,4 tỷ đồng, tăng 9,4% cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành chỉ chiếm một phần rất nhỏ (đạt khoảng 12,1 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,39% trong tổng mức), tăng 9,8% so với cùng kỳ.
Tính chung 8 tháng năm 2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn ước đạt 24,2 nghìn tỷ đồng, tăng 12,7% so với cùng kỳ (nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì mức tăng là 10,4%); trong đó, khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 1.278 tỷ đồng, tăng 14% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 22,8 nghìn tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 94,2% thị phần bán lẻ), tăng 12,7% cùng kỳ; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 131,2 tỷ đồng, tăng 8,7% so với cùng kỳ.
Nếu phân theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ ước đạt 19,1 nghìn tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 78,9%), tăng 13,5% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống doanh thu ước đạt 2.357 tỷ đồng, tăng 10,4% so với cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành chỉ chiếm rất nhỏ đạt 71,9 tỷ đồng, tăng 25,1% (do thời tiết nắng nóng nên nhu cầu du lịch vẫn tăng cao) và nhóm dịch vụ tiêu dùng khác ước đạt 2.680,3 tỷ đồng, tăng 9,2% cùng kỳ.
Trong cơ cấu doanh thu bán lẻ, tất cả các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng 8 tháng năm 2019 đều tăng. Nhóm mặt hàng đạt doanh thu bán lẻ lớn nhất là nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 6.301,6 tỷ đồng (chiếm 33% doanh thu bán lẻ), tăng 14,6% so với cùng kỳ; tiếp đến là nhóm xăng, dầu các loại ước đạt 2.277 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 11,9%), tăng 14,1%; nhóm đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình 2.163,5 tỷ đồng, tăng 13,5% cùng kỳ; nhóm ô tô các loại 2.011,6 tỷ đồng, tăng 14,4%; nhóm hàng may mặc 1.450,2 tỷ đồng, tăng 12,1%; mặt hàng đá quý, kim loại quý 236 tỷ đồng, tăng 12,6% so với cùng kỳ…
2. Xuất, nhập khẩu
a. Xuất khẩu
Tổng giá trị xuất khẩu tháng 8/2019 ước đạt 2,21 tỷ USD, tăng 4,6% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 49,2 triệu USD, giảm 1,2% (chủ yếu do xuất khẩu kim loại mầu và chè giảm). Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 2,16 tỷ USD, tăng 4,7% so với cùng kỳ.
Mặt hàng xuất khẩu dự tính tháng 8/2019 tăng từ 5% trở lên so với cùng kỳ là sản phẩm từ sắt thép đạt 7,4 triệu USD, tăng 66,7%; sản phẩm may đạt 40,4 triệu USD, tăng 17,9%; gỗ đạt 0,3 triệu USD, tăng 36%; nhóm sản phẩm điện tử, điện thoại, máy tính các loại và linh kiện xuất khẩu đạt 2,15 tỷ đồng, tăng 5% so cùng kỳ (bao gồm điện thoại thông minh dự ước xuất khẩu được  10 triệu sản phẩm với giá trị 1,76 tỷ USD, tăng 64% về lượng và tăng 44,3% về giá giá trị; máy tính bảng đạt 1,2 triệu sản phẩm với giá trị đạt 194 triệu USD, giảm 37,3% về lượng và giảm 38,4% về giá trị; linh kiện điện tử và phụ tùng khác đạt 193 triệu USD, bằng 37,7% cùng kỳ)…
Nhóm mặt hàng xuất khẩu tháng 8/2019 ước tính giảm so với cùng kỳ như: kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 14,5 triệu USD, giảm 33,7%; chè các loại đạt 0,2 nghìn tấn với giá trị đạt 0,3 triệu USD, giảm 12,5% về lượng và giảm 12,8% về giá trị; sản phẩm từ chất dẻo đạt 2,8 triệu USD, giảm 44%…
Tính chung 8 tháng đầu năm 2019 giá trị xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn ước đạt 18,08 tỷ USD, tăng 10,6% so với cùng kỳ, bằng 65,6% kế hoạch cả năm. Trong đó, xuất khẩu do địa phương quản lý 362,6 triệu USD, tăng 37,3% cùng kỳ, bằng 60,4% kế hoạch cả năm; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 17,71 tỷ USD, tăng 10,1% cùng kỳ và bằng 65,7% kế hoạch.
 Nhóm mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn là Nhóm sản phẩm điện thoại các loại, máy vi tính và linh kiện điện tử ước đạt 17,5 tỷ USD (chiếm 96,8% tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn), tăng 10,3% so với cùng kỳ và bằng 71,5% kế hoạch (trong đó điện thoại thông minh đạt 68,9 triệu sản phẩm với giá trị đạt 13,39 tỷ USD, tăng 27,5% về lượng và tăng 24,2% về giá trị; máy tính bảng đạt 11 triệu sản phẩm với giá trị đạt 1,72 tỷ USD, giảm 14,4% về lượng và giảm 9,4% về giá trị; linh kiện và phụ tùng khác ước đạt 2,4 tỷ USD, giảm 24,9% cùng kỳ). Ngoài ra một số mặt hàng đạt tốc độ xuất khẩu tăng cao, đóng góp vào tốc độ tăng của xuất khẩu địa phương là sản phẩm may 262,3 triệu USD, tăng 36,7% cùng kỳ; sản phẩm từ sắt thép đạt 56,5 triệu USD, tăng 58,7% và bằng 108,6% kế hoạch; sản phẩm từ chất dẻo đạt 40,9 triệu USD, tăng 7,7%; phụ tùng vận tải đạt 4,9 triệu USD, cao gấp 2 lần; chè các loại đạt 1,2 nghìn tấn với giá trị đạt 1,9 triệu USD, tăng 21,7% về lượng và tăng 18,2% về giá trị, nhưng mới đạt 24,3% kế hoạch về lượng xuất khẩu… Nhóm mặt hàng xuất khẩu giảm so cùng kỳ là: kim loại màu và tinh quặng kim loại màu 166 triệu USD, giảm 7,3% cùng kỳ và bằng 92,2% kế hoạch; giấy và các sản phẩm từ giấy đạt 1,9 triệu USD, giảm 1,9%...
b. Nhập khẩu
Tổng giá trị nhập khẩu tháng 8/2019 trên địa bàn ước đạt 1,41 tỷ USD, tăng 22% so với cùng kỳ; trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 14 triệu USD, giảm 10,5% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,4 tỷ USD, tăng 22,4% so với cùng kỳ.
Nhóm mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tháng 8/2019 tăng từ 8% trở lên so với cùng kỳ là: nguyên liệu và linh kiện điện tử đạt 1,37 tỷ USD, tăng 25,4%; nguyên liệu chế biến thức ăn giá súc đạt 2,2 triệu USD, tăng 34,3%; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 11,3 triệu USD, tăng 25%; vải các loại đạt 10,8 triệu USD, tăng 8,6%... Nhóm mặt hàng nhập khẩu chủ yếu giảm so cùng kỳ như: nguyên phụ liệu dệt may đạt 0,8 triệu USD, giảm 5,3%; giấy các loại đạt 0,4 triệu USD, giảm 19,6%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 3,2 triệu USD, giảm 34%; sản phẩm từ sắt thép đạt 2,8 triệu USD, giảm 87,4% cùng kỳ.
Tính chung 8 tháng đầu năm 2019, tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn ước đạt 10,56 tỷ USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 172,8 triệu USD, tăng 0,5%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 10,38 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 98,4% tổng giá trị nhập khẩu), tăng 16% so với cùng kỳ.
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu (làm nguyên liệu sản xuất) tăng từ 15% trở lên so với cùng kỳ là: nguyên liệu và linh kiện điện tử đạt 10,15 tỷ USD, tăng 16,1%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 72,2 triệu USD, gấp 2 lần xuất khẩu cùng kỳ; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 89,3 triệu USD, tăng 48,2%; vải và nguyên, phụ liệu dệt may đạt 121,8 triệu USD, tăng 26,7%... Nhóm hàng hóa nhập khẩu tăng thấp hoặc giảm so cùng kỳ là: giấy các loại đạt 3,8 triệu USD, tăng 8,4%;  nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 22,5 triệu USD, giảm 2,2%; sản phẩm từ sắt thép đạt 26,5 triệu USD, bằng 41,2%...
3. Chỉ số giá tiêu dùng
Do Nhà nước điều chỉnh tăng giá dịch vụ khám chữa bệnh theo bảo hiểm y tế trong tháng 8/2019, bên cạnh đó giá thịt lợn vẫn tiếp tục tăng nên tính chung chỉ số giá tiêu dùng trên địa bàn tháng 8/2019 tăng 0,86% so với tháng trước; tăng 1,14% so với cùng kỳ; tăng 2,08% so với tháng 12/2018. Bình quân 8 tháng 2019 tăng 2,04% so với cùng kỳ (nhưng thấp hơn mức tăng 2,71% của bình quân chung 8 tháng 2018).
So với tháng trước, có 8/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, trong đó, tăng nhiều nhất là nhóm y tế tăng 2,95% (thuốc các loại tăng 0,02%; dịch vụ y tế tăng 4,08%); nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,84% (nhóm giá thực phẩm tăng 2,45%, do giá thịt lợn tiếp tục tăng giá, cụ thể chỉ số giá thịt lợn tăng 7,24%; giá thịt chế biến tăng 1,92%; nhóm dầu mỡ ăn và chất béo tăng  4,35%; nhóm trứng các loại tăng 5,19% (do nhu cầu chuẩn bị làm bánh phục vụ tết trung thu); nhóm thủy sản tươi sống tăng 1,96%); nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,52%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,39%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,26%...Có 2/11 nhóm có chỉ số giá giảm, đó là nhóm giao thông giảm 0,63% (do giá nhiên liệu xăng dầu giảm 1%; phương tiện đi lại giảm,42%); nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,07% (do điện thoại di động giảm 0,42%). Còn lại nhóm đồ uống và thuốc lá tương đương với tháng trước.
So với cùng kỳ (tháng 8/2018), chỉ số giá tiêu dùng tháng 8/2019 tăng 1,14%. Có 7/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có chỉ số giá tăng, trong đó nhóm chỉ số giá tăng cao nhất là nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 9,55% (do nhóm dịch vụ y tế tăng 13,35%); tiếp đến là nhóm nhóm giáo dục tăng 3,93% (do nhóm văn phòng phẩm tăng 5,29%; dịch vụ giáo dục tăng 3,63% (do học phí đại học và giáo dục phổ thông ngoài công lập tăng); nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,12% (nhóm nhà ở thuê và nhà chủ sở hữu tính quy đổi tăng 5%; dịch vụ nước sinh hoạt tăng 5,68%; nhóm điện và dịch vụ điện tăng 12,78%); nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,03% (nhóm hàng hóa và dịch vụ cho cá nhân tăng 2,95%; nhóm lệ phí công chứng, bảo hiểm và dịch vụ tăng 4,53%); còn lại các nhóm khác tăng từ 0,38 đến 1,86%. Có 4/11 nhóm có chỉ số giá giảm như: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,1% (nhóm lương thực giảm 2,59%; nhóm thực phẩm giảm 1,47%; nhóm trứng các loại giảm 12,36%; nhóm dầu mỡ ăn và chất béo khác giảm 10,77%); các nhóm giao thông; bưu chính viễn thông; văn hóa, giải trí và du lịch giảm lần lượt là 0,68%; 0,8% và 2,27%.
So với tháng 12/2018, chỉ số giá tiêu dùng tháng 8 năm 2019 tăng 2,08%. Hầu hết các nhóm đều có chỉ số giá tăng. Trong đó, tăng nhiều nhất là nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,98% (do nhà ở thuê và nhà chủ sở hữu tính quy đổi tăng 4,98%; nhóm điện và dịch vụ điện tăng 17,87%); nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 2,96% (trong đó dịch vụ khám sức khỏe tăng 4,08%); nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,35% (trong đó nhóm thực phẩm tăng 3,69%); nhóm giao thông tăng 2,18% (do giá nhiên liệu tăng 8,24%); nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,85%; nhóm giáo dục tăng 1,1%; còn lại 04/11 nhóm tăng nhẹ trong khoảng từ 0,06% đến 0,23% như  thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,06%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,1%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,23%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,5%. Còn lại duy nhất chỉ có nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm nhẹ là nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,11%.
Chỉ số giá vàng: chỉ số giá vàng tháng 8/2019 có xu hướng tăng, so với tháng trước tăng 4,58% (nguyên nhân chủ yếu do biến động thất thường của giá vàng thế giới); so với tháng 12/2018 tăng 15,9%; so với cùng kỳ tăng 17,96%. Chỉ số giá vàng bình quân 8 tháng đầu năm 2019 tăng 3,35% so với cùng kỳ.
Chỉ số giá Đô la Mỹ: Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 8/2019 giảm 0,14% so tháng trước, so với tháng 12/2018 giảm 0,35%, so với cùng kỳ năm trước giảm 0,1%. Chỉ số giá Đô la Mỹ bình quân 8 tháng đầu năm 2019 tăng 1,8% so với cùng kỳ.
4. Vận tải
- Vận tải hành khách:  Hành khách vận chuyển tháng 8/2019 ước đạt 1,7 triệu lượt khách với khối lượng luân chuyển là 98,5 triệu hành khách.km, tăng 6,5% so với cùng kỳ về khối lượng hành khách vận chuyển và tăng 6,7% về khối lượng luân chuyển.
Tính chung 8 tháng năm 2019 khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 13,8 triệu lượt người, tăng 8,4% so với cùng kỳ (trong đó, vận tải đường thủy 181 nghìn hành khách, tăng 9,7%), khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 789 triệu hành khách.km, tăng 8% so cùng kỳ.
- Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 8/2019 ước đạt 3,4 triệu tấn với khối lượng luân chuyển ước đạt 135,4 triệu tấn.km; so với cùng kỳ tăng 11% về khối lượng vận chuyển và tăng 10,2% về khối lượng luân chuyển.
Tính chung 8 tháng năm 2019, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 27,8 triệu tấn, tăng 8,2% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 1.101,8 triệu tấn.km, tăng 8,1% so cùng kỳ.
- Doanh thu vận tải trên địa bàn tháng 8/2019 ước đạt 360 tỷ đồng, tăng 11,3% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 70,5 tỷ đồng, tăng 9,6% so cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 265 tỷ đồng, tăng 11,8% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 24 tỷ đồng, tăng 10,6% so với cùng kỳ.
Tính chung 8 tháng năm 2019, doanh thu vận tải trên địa bàn ước đạt 2.923 tỷ đồng, tăng 10,9% so cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hàng hóa chiếm tỷ trọng cao nhất (74,2%) và đạt 2.170 tỷ đồng, tăng 10,9% so cùng kỳ; doanh thu vận tải hành khách đạt 562 tỷ đồng, tăng 11,1%; doanh thu từ dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 191,3 tỷ đồng, tăng 9,7% cùng kỳ.
III. Tài chính, ngân hàng
1. Thu, chi ngân sách
- Thu ngân sách nhà nước: Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh tính chung 7 tháng năm 2019 đạt 8.505,5 tỷ đồng, tăng 4,5% so với cùng kỳ và bằng 56,7% so với dự toán cả năm. Trong đó thu nội địa đạt 6.806,7 tỷ đồng, tăng  6% so với cùng kỳ và bằng 58,4% so với dự toán; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 1.660,7 tỷ đồng, giảm 1,7% so với cùng kỳ và bằng 49,6% so với dự toán cả năm 2019.
Trong thu nội địa, có 10 trong tổng số 14 khoản thu tăng so với cùng kỳ, trong đó thu lớn nhất là thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2,2 nghìn tỷ, tăng 12,9% nhưng mới bằng 52,6% dự toán; thu từ doanh nghiệp nhà nước trung ương và địa phương đạt 749,8 tỷ đồng, tăng 28,2% cùng kỳ và bằng 77,3% dự toán; thu tiền cho thuê đất đạt 445,2 tỷ đồng, gấp 2 lần so cùng kỳ và vượt 17,2% dự toán cả năm; thu lệ phí trước bạ đạt 280,5 tỷ đồng, tăng 22,4% và bằng 75,8% dự toán; thu tiền cấp quyền sử dụng đất đạt 940,8 tỷ đồng, tăng 3,7% cùng kỳ và bằng 60,8% dự toán...
Các khoản thu 7 tháng đạt thấp và giảm so với cùng kỳ 2018 và đạt dưới 60% dự toán như: Thu từ khu vực ngoài quốc doanh đạt 896,8 tỷ đồng, giảm 25,7% và bằng 48,5% dự toán; thu khác ngân sách đạt 90,1 tỷ đồng, giảm 26,2% bằng 43,7% dự toán; thuế thu nhập cá nhân đạt 664,8 tỷ đồng, giảm 4,7% bằng 56,3% dự toán; thu ngân sách xã đạt rất thấp, 1,2 tỷ đồng, giảm 51,6% cùng kỳ và bằng 30% dự toán.
Tính lũy kế từ đầu năm đến ngày 16/8/2019 tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 8.795 tỷ đồng, bằng 59% dự toán; trong đó thu nội địa 6.979 tỷ đồng, bằng 60% dự toán và thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 1.777 tỷ đồng, bằng 53% dự toán; thu từ huy động đóng góp là 39 tỷ đồng.
- Chi ngân sách địa phương: Tổng chi cân đối ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh 7 tháng năm 2019 đạt 6.580 tỷ đồng,  tăng 9,6% so với cùng kỳ và bằng 44,2% dự toán cả năm; trong đó, chi đầu tư phát triển 1.946 tỷ đồng (chiếm 29,6% trong tổng chi cân đối ngân sách địa phương), tăng 29,4% so với cùng kỳ và bằng 60,5% dự toán cả năm; chi thường xuyên đạt 4.115 tỷ đồng (chiếm 70,4%), tăng 5% so với cùng kỳ và bằng  49,6% dự toán cả năm.
Trong tổng chi thường xuyên, có 2/11 khoản chi giảm so với cùng kỳ như: Chi sự nghiệp y tế, dân số và gia đình đạt 434,2 tỷ đồng, giảm 5,3%; chi đảm bảo xã hội đạt 196 tỷ đồng, giảm 11,6%. Còn lại 9/11 khoản thu tăng so với cùng kỳ; chi lớn nhất là chi sự nghiệp giáo dục đào tạo và dạy nghề đạt  1.641,8 tỷ đồng (chiếm 39,8%), tăng 8,2% và bằng 45,3% kế hoạch; chi quản lý hành chính đạt 924,4 tỷ đồng (chiếm 22,4%), tăng 2,3% và bằng 58,2% dự toán cả năm; chi sự nghiệp khoa học và công nghệ đạt 29,5 tỷ đồng, tăng 47,2% cùng kỳ; chi sự nghiệp phát thanh truyền hình đạt 38,7 tỷ đồng, tăng 30,9%; chi sự nghiệp văn hóa thông tin, thế dục thể thao đạt 80,7 tỷ đồng, tăng 20,9%, chi khác ngân sách đạt 55,2 tỷ đồng, gấp 2,7 lần so cùng kỳ và bằng 64,2% dự toán; chi quốc phòng an ninh địa phương đạt 172,5 tỷ đồng, tăng 4,5% và bằng 85,3% kế hoạch năm.
Tính lũy kế từ đầu năm đến ngày 16/8/2019 tổng chi ngân sách địa phương đạt 6.749 tỷ đồng, bằng 45,4% dự toán cả năm; trong đó chi đầu tư phát triển đạt 2.193 tỷ đồng, bằng 51,9% dự toán; chi thường xuyên 4.303 tỷ đồng, bằng 50,5% dự toán, trong đó chi giáo dục đào tạo và dạy nghề đạt 49,6% dự toán; chi sự nghiệp hoa học công nghệ đạt 30 tỷ đồng, bằng 75% dự toán.
2. Hoạt động ngân hàng
Hoạt động huy động vốn: Nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng (chưa bao gồm Ngân hàng Phát triển) đến 31/7/2019 đạt 59.878 tỷ đồng, tăng 10,91% so với 31/12/2018. Ước đến 31/8/2019, nguồn vốn huy động đạt 60.300 tỷ đồng, tăng 11,69% so với 31/12/2018.
Dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng (chưa bao gồm cho vay ưu đãi của Ngân hàng Phát triển) 31/7/2019 đạt 52.798 tỷ đồng, tăng 4,62% so với 31/12/2018. Ước đến 31/8/2019, dư nợ cho vay đạt 53.200 tỷ đồng, tăng 5,42% so với 31/12/2018.
Nợ xấu đến 31/7/2019 là 530 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 1,02%/tổng dư nợ. Ước đến 31/8/2019 nợ xấu là 530 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 1%/tổng dư nợ.
- Chất lượng tín dụng: Các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng trên địa bàn đã thực hiện mở rộng tín dụng đi đôi với cơ cấu lại và nâng cao chất lượng tín dụng, tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên. Triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức và người dân tiếp cận vốn. Đến 31/7/2019, tăng trưởng tín dụng trên địa bàn tăng 4,62% so với 31/12/2018.
Chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp; cho vay đối với ngành chăn nuôi lợn và thiệt hại do dịch tả lợn Châu Phi và cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn dư nợ cho vay đạt 15.500 tỷ đồng, tăng 9,27% so với cuối năm 2018 và chiếm tỷ trọng 29%/tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng, số khách hàng còn dư nợ là 175.277 khách hàng, nợ quá hạn đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn là 136 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,88%/tổng dư nợ cho vay.
Dư nợ cho vay đối với ngành chăn nuôi lợn đến hết tháng 7/2019 là 2.156 tỷ đồng, trong đó dư nợ bị thiệt hại là 79 tỷ đồng, các ngân hàng trên địa bàn đã thực hiện giảm lãi vay và cơ cấu lại thời hạn trả nợ với dư nợ 13,23 tỷ đồng nhằm tháo gỡ khó khăn cho người chăn nuôi lợn khi xảy ra dịch tả lợn Châu Phi.
Chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp: tính đến thời điểm báo cáo, các ngân hàng trên địa bàn đã tổ chức được đã tổ chức được 22 hội nghị đối thoại/kết nối với số tiền cam kết hỗ trợ là 5.616 tỷ đồng cho 291 doanh nghiệp và 6 khách hàng khác, dư nợ là 3.134 tỷ đồng.
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin tuyên truyền
Trong tháng 8/2019, trên địa bàn đã tiếp tục thực hiện công tác tuyên truyền, các hoạt động văn nghệ, thể thao hướng tới  kỷ niệm 74 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9; chuẩn bị và tham gia tổ chức các hoạt động kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969 - 2019) và 50 năm Ngày mất của Người (2/9/1969 - 2/9/2019) như: tổ chức dâng hương; tham gia triển lãm tại Hà nội với sự tham gia của các tỉnh, thành phố gắn với cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Bác; tổ chức triển lãm ảnh và giới thiệu tài liệu; hội thảo khoa học "50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - giá trị đối với công tác xây dựng đảng hiện nay"... 
Các hoạt động chiếu phim, luân chuyển sách phục vụ nhân dân đặc biệt là đồng bào vùng sâu, vùng xa, các đối tượng chính sách được thực hiện đảm bảo kế hoạch đề ra. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, xây dựng Nông thôn mới, “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” tiếp tục được triển khai, thực hiện.
Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm: Cơ quan chức năng đã tiến hành kiểm tra hoạt động quảng cáo của 20 tổ chức, cá nhân (thành phố Thái Nguyên), 01 buổi biểu diễn nghệ thuật (huyện Đồng Hỷ). Công tác kiểm tra các hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá, du lịch  tại các địa phương đã chấn chỉnh các hành vi sai phạm, góp phần tích cực đưa các cơ sở kinh doanh hoạt động theo đúng quy định.
Hoạt động bảo tàng: Tổ chức trưng bày triển lãm “Hoàng Sa,Trường Sa những bằng chứng lịch sử”. Xây dựng đề cương maket trưng bày triển lãm “Thái Nguyên - 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Hoàn thành kế hoạch kiểm kê, bảo quản, tu sửa phục chế hiện vật tại kho cơ sở đợt III/2019 (32 đơn vị hiện vật); giám định tài liệu hiện vật đang lưu giữ (100 đơn vị hiện vật). Tiếp tục thực hiện kế hoạch và tổ chức sưu tầm tài liệu, hiện vật đợt II/2019 với chủ đề "Cách mạng kháng chiến và lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên"; phục vụ 2.195 lượt khách tham quan (45 lượt khách nước ngoài).
Hoạt động phát hành phim và chiếu bóng: Thực hiện 103 buổi chiếu phim, trong đó có 03 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị, 100 buổi phục vụ các xã vùng khó khăn, đối tượng chính sách; đón tiếp 6.600 lượt người xem.
Hoạt động thư viện: thực hiện 04 cuộc giới thiệu sách trên Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh; tổ chức triển lãm ảnh và giới thiệu tài liệu với chủ đề “50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”; triển khai xử lý nghiệp vụ sách cho 30 xã đặc biệt khó khăn tại  03 huyện Định Hóa, Võ Nhai, Đại Từ; tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả phong trào “Xây dựng thư viện và môi trường văn hóa đọc xanh - sạch - đẹp - thân thiện”. Cấp thẻ, phục vụ trên 3 nghìn lượt bạn đọc và luân chuyển 5,7 nghìn lượt sách báo.
Hoạt động Khu di tích lịch sử và sinh thái ATK - Định Hoá: Thực hiện đảm bảo kế hoạch công tác nghiên cứu sưu tầm, bổ sung tài liệu, hiện vật và trưng bày, triển lãm; chương trình, quy hoạch, dự án đầu tư  xây dựng, phục hồi, tu bổ di tích và sinh thái, cảnh quan; đón tiếp 245 đoàn với hơn 30,7 nghìn lượt khách tham quan.
Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng Nông thôn mới: Triển khai thực hiện quy định về xét tặng danh hiệu "Gia đình văn hóa"; "Thôn văn hóa", "Làng văn hóa", "Ấp văn hóa", "Bản văn hóa","Tổ dân phố văn hóa"; triển khai các quy định mức quà tặng chúc thọ, mừng thọ người cao tuổi... Chuẩn bị tổ chức Hội thi tìm hiểu kiến thức về “Giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình”; phối hợp thực hiện chuyên mục truyền hình phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Nếp sống văn hóa và gia đình” số tháng 8/2019.
Hoạt động thể thao: Tổ chức các giải cấp tỉnh (bóng đá futsal, bóng bàn tỉnh - giải Báo Thái Nguyên lần thứ XXI/2019); giải thể thao Khối các cơ quan Văn hóa - Xã hội. Ban hành Điều lệ Hội thi thể dục dưỡng sinh tỉnh Thái Nguyên năm 2019; thành lập đoàn vận động viên tham gia tập huấn và thi đấu các giải toàn quốc (Hội thi thể thao các dân tộc thiểu số toàn quốc lần thứ XI, khu vực I/2019; giải cầu lông trung cao tuổi…).
Thể thao thành tích cao: Duy trì công tác quản lý, huấn luyện, kiểm tra  việc tập luyện của các đội tuyển; đạt 51 huy chương (17 huy chương vàng, 24 huy chương bạc, 10  huy chương đồng), 01cờ Ba toàn đoàn tại giải vô địch quốc gia và cúp khiêu vũ thể thao toàn quốc. Các đội tuyển (karatedo, muay, kich boxing…) tập luyện tham gia thi đấu các giải toàn quốc theo kế hoạch.
2. Thực hiện chính sách Người có công; công tác giảm nghèo, bảo trợ xã hội, chăm sóc trẻ em và lao động việc làm
- Thực hiện chính sách người có công: Ngành chức năng tham mưu trình cấp thẩm quyền Đề án chi trả trợ cấp ưu đãi qua hệ thống Bưu điện tỉnh Thái Nguyên; thực hiện giải quyết chế độ, chính sách cho người có công và thân nhân người có công: Trợ cấp mai táng phí cho 127 trường hợp; hồ sơ phát sinh mới 05 trường hợp (liệt sĩ); trợ cấp thờ cúng liệt sĩ cho 18 trường hợp; điều chỉnh thờ cúng liệt sĩ cho 14 trường hợp; giới thiệu Hội đồng giám định y khoa cho 03 trường hợp.
- Công tác giảm nghèo, bảo trợ xã hội: Tổ chức, phối hợp các địa phương tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác giảm nghèo năm 2019 với 21 lớp và 2.700 đại biểu;  Tổ chức nói chuyện chuyên đề, đối thoại về giảm nghèo năm 2019 tại 02 huyện Võ Nhai và Định Hóa với 200 đại biểu là Bí thư chi bộ, trưởng ban công tác mặt trận của các xóm đặc biệt khó khăn. Thực hiện cấp phát tờ rơi tuyên truyền “Chương trình mục tiêu Quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020” cho các đơn vị liên quan để thực hiện tuyên truyền năm 2019; rà soát các quy định về người cao tuổi để triển khai quy định mức quà tặng chúc thọ, mừng thọ đối với Người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em: Triển khai các hoạt động của Dự án Plan về “Cải thiện An toàn giao thông cho trẻ em khu vực trường học tại Thành phố Thái Nguyên”; khảo sát lắp đặt pano tuyên truyền về An toàn giao thông tại các trường học, tổ chức tập huấn về “Kỹ năng truyền thông đồng đẳng” cho giáo viên, trẻ em và thành viên ban An toàn giao thông cấp xã; tham dự các Hội thi tìm hiểu kiến thức về An toàn giao thông cho trẻ em; 01 lớp tập huấn kỹ năng truyền thông về phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới tại Thị xã Phổ Yên.
- Lao động việc làm: Hướng dẫn các doanh nghiệp có sử dụng lao động nước ngoài thực hiện thủ tục đăng ký cấp, cấp lại giấy phép lao động cho lao động nước ngoài làm việc tại tỉnh Thái Nguyên qua mạng điện tử; cấp 33 giấy phép lao động, trong đó cấp mới 28, cấp lại 05 giấy phép cho lao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
3. Giáo dục, đào tạo
Chuẩn bị năm học mới, ngành chức năng và các địa phương chuẩn bị tốt các điều kiện cho năm học 2019-2020 như sau: đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường, lớp học, sửa chữa, mua sắm trang thiết bị, sách giáo khoa mới, đồ dùng dạy học phục vụ chương trình học mới, đặc biệt là lớp 1; đồng thời quan tâm thực hiện giải quyết tình trạng thiếu nhà vệ sinh, nhà vệ sinh xuống cấp; không đưa vào sử dụng các công trình, lớp học, nhà vệ sinh chưa đảm bảo an toàn theo quy định.
Ngành chức năng chú trọng công tác bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý và giáo viên, nhân viên đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới; trong đó đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về giải quyết tình trạng thiếu giáo viên giáo dục mầm non đồng thời tăng cường các điều kiện để nâng cao chất lượng thực hiện chương trình giáo dục mầm non.
Năm học 2019-2020, toàn tỉnh tiếp tục tinh giảm đầu mối các trường tiểu học công lập là do sáp nhập một số trường tiểu học với trường trung học cơ sở và tăng số lượng các trường ngoài công lập.
Kết quả xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia: Thực hiện đề án xây dựng hệ thống trường đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 2016-2020, theo báo cáo tổng kết năm học 2018-2019 ngày 16/8/2019, toàn tỉnh có 558/680 trường đạt chuẩn quốc gia đạt tỷ lệ 82,06% (về trước 2 năm so với chỉ tiêu Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh giao); Trong đó: Mầm non có 187/237 trường đạt tỷ lệ 78,9 %; Tiểu học: 208/220 trường đạt tỷ lệ 94,5%; THCS có 145/191 trường đạt tỷ lệ 75%; THPT có 18/32 trường đạt tỷ lệ 56,25%.
4. Y tế
Công tác phòng chống dịch và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm được duy trì triển khai; trong tám tháng đầu năm 2019 trên địa bàn toàn tỉnh trong không có dịch bệnh lớn xảy ra, số ca mắc bệnh dịch thấp hơn cùng kỳ. Tính chung từ đầu năm đến 20/8/2019, trên địa bàn tỉnh có 116 ca mắc bệnh Quai bị, giảm 169 ca so cùng kỳ (cùng kỳ 2018 là 285 ca); có 105 ca Sốt phát ban dạng sởi/rubella,  tăng gấp 7 lần so cùng kỳ; chân tay miệng là 65 ca (cùng kỳ 2018 là 87 ca);  ho gà 09 ca; có 02 ca tử vong do bệnh dại (cùng kỳ năm 2018 là 1 ca). Riêng số ca mắc sốt xuất huyết tăng hơn các tháng trước (tính từ ngày 21/7 đến ngày 20/8/2019 có 21 ca; lũy tích từ đầu năm đến ngày 20/8 là 38 ca.
Công tác an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng 8 không có vụ ngộ độc thực phẩm tập thể xảy ra. Ngành chức năng duy trì triển khai đến từng địa phương công tác an toàn vệ sinh thực phẩm.
Công tác khám chữa bệnh: Trong 8 tháng 2019, các hoạt động khám chữa bệnh, thực hiện quy chế chuyên môn tại các bệnh viện, trạm y tế được duy trì và quan tâm đối với khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, đối tượng chính sách, trẻ em dưới 6 tuổi. Ngành chức năng thực hiện thường xuyên công tác thanh, kiểm tra chuyên ngành trong lĩnh vực y tế (Số cơ sở được thanh, kiểm tra: 65 cơ sở;  Số cơ sở vi phạm bị xử lý: 02 cơ sở; Số tiền xử phạt: 5 triệu đồng. Thanh tra cấp hành chính tại 03 đơn vị).
Dân số và trẻ em: 7 tháng đầu năm 2019, tổng số trẻ mới sinh ra là 9.085 trẻ (tăng 307 trẻ so với cùng kỳ 2018), trong đó trẻ mới sinh có giới tính nam là 4.810 trẻ, trẻ nữ là 4.275 trẻ. Tỷ số giới tính khi sinh nam/nữ là 112/100. Trong tổng số trẻ sinh ra thì số trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên là 1.067 trẻ (chiếm 11,7% tổng số trẻ sinh ra) tăng 270 trẻ so với cùng kỳ 2018. Trong đó, huyện Phú Bình cao nhất với 291 trẻ; TP Thái Nguyên 146 trẻ; huyện Đại Từ 159 trẻ; huyện Phú Lương 87 trẻ và thấp nhất là huyện Định Hóa có 65 trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên.
Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn: Tính đến 31/7/2019 số người nhiễm lũy tích là 10.271 người; trong đó chuyển giai đoạn AIDS lũy tích là 6.762 người; số tử vong do HIV/AIDS lũy tích là 3.507 người. Riêng trong tháng 7/2019 có 34 người mới được phát hiện; chuyển giai đoạn AIDS là 0 người; số tử vong do HIV/AIDS là 2 người.
5. Tình hình an toàn giao thông
Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh Thái Nguyên, trong tháng 8/2019 (tính từ 16/7/2019 đến 15/8/2019) trên địa bàn xảy ra 10 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 3 người chết và 7 người bị thương. Tai nạn liên quan đến ô tô 02 vụ (20%); liên quan đến mô tô 06 vụ (60%), khác 02 vụ (20%). Thiệt hại tài sản ước tính khoảng 82,5 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2018 số vụ tai nạn giảm 8 vụ (-44,44%); số người chết giảm 3 người (-50%) và số người bị thương giảm 12 người (tương ứng -63,15%). Tình hình an toàn giao thông đường sắt, đường thủy ổn định, không xảy ra tai nạn giao thông.
          Trong cuối tháng 8/2019, tại thời điểm 00h05 phút ngày 25/8/2019 trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên xảy ra 1 vụ tai nạn đặc biệt nghiêm trọng làm làm 4 người tử vong và 01 người bị thương nặng và 01 xe mô tô bị hư hỏng. Cả 5 nạn nhân trên đều là học sinh/sinh viên. Ngay sau khi nắm được thông tin về vụ tai nạn, lãnh đạo tỉnh, thành phố Thái Nguyên và ngành chức năng đã đến thăm hỏi, động viên và hỗ trợ gia đình các nạn nhân. Nguyên nhân vụ tại nạn đang được cơ quan chức năng điều tra, làm rõ.
Tính chung 8 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 89 vụ tai nạn giao thông, làm chết 36 người và 72 người bị thương. So với cùng kỳ năm 2018 số vụ tai nạn giảm 9 vụ (-9,18%), số người bị chết giảm 2 người
(giảm 5,26%) và số người bị thương giảm 10 người (-12,19%). Trong đó, địa bàn xảy ra nhiều vụ tai nạn nhất là thành phố Thái Nguyên với 48 vụ (chiếm 53,9% tổng số), làm 6 người chết (chiếm 16,6%) và 45 người bị thương (chiếm 62,5% tổng số).
Trong tháng 8/2019 ngành chức năng đã kiểm tra lập biên bản xử lý vi phạm 4.940 trường hợp; tước 514 giấy phép lái xe; tạm giữ 209 xe ô tô, 583 xe mô tô; 07 phương tiện khác. Số tiền xử phạt 4,43 tỷ đồng. Riêng đường thủy xử lý vi phạm 10 trường hợp, tổng tiền phạt là 2,1 triệu đồng.
6. Phòng chống cháy nổ
Các ngành chức năng của tỉnh đã tiến hành kiểm tra phòng cháy, chữa cháy tại các cơ quan đơn vị trên địa bàn toàn tỉnh; qua kiểm tra đã nhắc nhở những thiếu sót trong phòng cháy chữa cháy và lập biên bản xử lý các trường hợp vi phạm nhằm hạn chế các vụ cháy, nổ xảy ra.
Tháng 8 năm 2019 (tính từ ngày 16/7/2019 đến 15/8/2019) trên địa bàn tỉnh xảy ra 4 vụ cháy, trong đó có 2 vụ cháy xảy ra tại Thành phố Thái Nguyên, 1 vụ cháy tại huyện Đồng Hỷ và 1 vụ tại Thị xã Phổ yên. Các vụ cháy không gây thiệt hại về người; ước thiệt hại khoảng 572,5 triệu đồng.
Tính chung 8 tháng đầu năm 2019 (tính từ ngày 16/12/2018 đến 15/8/2019), trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 72 vụ cháy, có 01 người bị chết. Ước tính tổng giá trị thiệt hại khoảng 6,5 tỷ đồng.
7. Vi phạm môi trường
 Trong tháng 8 năm 2019 trên địa bàn tỉnh ngành chức năng đã kiểm tra và xử lý 11 vụ vi phạm môi trường. Tổng số tiền xử phạt là 758 triệu đồng.
Tính chung trong 8 tháng đầu năm 2019, các ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra và xử lý 39 vụ vi phạm môi trường, nguyên nhân của các vụ xử lý trên là do các cơ sở sản xuất kinh doanh không thực hiện quan trắc giám sát môi trường theo đề án bảo vệ môi trường được ngành chức năng xác nhận. Tổng số tiền thu và nộp vào ngân sách nhà nước là 1.726 triệu đồng. So với 8 tháng 2018, số vụ vi phạm đã xử lý tăng 3 vụ và tăng 1,5 tỷ đồng.
8. Thiệt hại do thiên tai
Tính từ đầu năm đến ngày 18/8/2019 toàn tỉnh đã xảy ra 08 đợt thiên tai mưa, giông lốc, làm 7 người bị thương, 01 người chết (thành phố Thái Nguyên 04 người bị thương, thành phố Sông Công 03 người bị thương và 01 người chết do sét đánh ở Thị xã Phổ Yên). Tổng thiệt hại 08 đợt thiên tai ước tính về tài sản khoảng trên 65,85 tỷ đồng.
 Tính riêng trong tháng 8/2019, có 01 đợt xảy ra tại TP Thái Nguyên và TP Sông Công đã xảy ra mưa to kèm giông lốc thiệt hại nhiều về tài sản và không thiệt hại về người. Cụ thể, đã có 33 nhà bị tốc mái, hư hỏng; 01 điểm trường, 01 nhà văn hóa bị ảnh hưởng; gãy đổ 08 cây xanh; đổ 01 cột điện… Tổng thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 507 triệu đồng.
        Sau khi thiên tai xảy ra, ngành chức năng đã huy động lực lượng dân quân và công an khắc phục tạm thời tình hình thiệt hại, đảm bảo ổn định sản xuất và đời sống của nhân dân vùng bị ảnh hưởng.
Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên dự ước tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2019./.

Nguồn tin: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây