Tình hình kinh tế - xã hội năm 2017

Chủ nhật - 25/02/2018 20:28
BÁO CÁO
Tình hình kinh tế - xã hội năm 2017 tỉnh Thái Nguyên
 
Tình hình kinh tế - xã hội năm 2017 trên địa bàn tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực; các ngành kinh tế vẫn duy trì được đà tăng trưởng và phát triển, nhất là ngành công nghiệp; xuất khẩu tăng so với cùng kỳ và có xuất siêu, các chương trình dự án lớn đã đi vào sản xuất ổn định, một số dự án phát triển đô thị đang được triển khai đầu tư… góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thu ngân sách đạt cao, về trước hơn 2 tháng so với dự toán. An sinh và phúc lợi xã hội được bảo đảm; các chính sách xã hội được quan tâm, thực hiện đầy đủ, tạo điều kiện ổn định và cải thiện đời sống dân cư; trật tự an toàn giao thông được kiểm soát … Tuy nhiên bên cạnh những kết quả nổi bật, kinh tế trên địa bàn tỉnh còn đối mặt với những khó khăn như: thiên tai, mưa lũ gây thiệt hại về người và tài sản ở một số địa phương; giá nông sản, thực phẩm, nhất là giá thịt lợn giảm mạnh tác động đến chăn nuôi gặp khó khăn, ảnh hưởng đến đời sống người chăn nuôi cũng như kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất nông nghiệp cả năm 2017.
Trên cơ sở kết quả thực hiện 10 tháng và dự ước thực hiện 2 tháng còn lại của năm, Cục Thống kê dự báo tình hình và kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội cả năm 2017 trên địa bàn tỉnh như sau:
A. KẾT QUẢ THỰC HIỆN SO SÁNH VỚI CHỈ TIÊU KẾ HOẠCH:
Năm 2017 hầu hết các chỉ tiêu hoàn thành và vượt kế hoạch đề ra. Cụ thể:
1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn năm 2017 ước đạt 12,6%, vượt kế hoạch đề ra (chỉ tiêu kế hoạch là tăng 12%).
2. GRDP bình quân đầu người ước đạt 65 triệu đồng, vượt mục tiêu kế hoạch (kế hoạch là 58 triệu đồng). Nếu tính theo Đô la Mỹ, năm 2017 đạt 2.880 USD/người/năm.
3. Giá trị sản xuất công nghiệp cả năm 2017 (theo giá so sánh năm 2010) ước đạt 571,4 nghìn tỷ đồng, tăng 18,9% so cùng kỳ và bằng 101,5% kế hoạch; trong đó, công nghiệp nhà nước trung ương 16,8 nghìn tỷ đồng, bằng 101,1% kế hoạch; công nghiệp địa phương quản lý 21,4 nghìn tỷ đồng, bằng 109,1% kế hoạch và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 533,2 nghìn tỷ đồng, tăng 19,5% cùng kỳ, bằng 101,2% kế hoạch.
4. Giá trị xuất khẩu trên địa bàn ước đạt 23 tỷ USD, tăng 20,2% so cùng kỳ và đạt 109,4% kế hoạch, trong đó, xuất khẩu địa phương là 312 triệu USD, bằng 104% kế hoạch.
5. Tổng thu trong cân đối ngân sách nhà nước năm 2017 trên địa bàn ước đạt 12 nghìn tỷ đồng, tăng 24,6% so với năm 2016 và bằng 133,2% dự toán; trong đó thu nội địa 9,3 nghìn tỷ đồng, bằng 137,6% dự toán; thu xuất nhập khẩu 2,7 nghìn tỷ đồng, bằng 120% dự toán.
6. Tốc độ tăng giá trị sản xuất Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2017 so với năm 2017 là 4,1%, chưa đạt mục tiêu kế hoạch (kế hoạch tăng 4,5%); trong đó ngành trồng trọt tăng 2,1%; ngành chăn nuôi tăng 4,5%.
7. Giá trị sản phẩm/1 ha đất nông nghiệp trồng trọt năm 2017 ước đạt 91,4 triệu đồng, vượt chỉ tiêu kế hoạch, tăng 2,5 triệu đồng so với năm 2016.
8. Sản lượng lương thực có hạt cả năm 2017 ước đạt 462 nghìn tấn, giảm 1,8% (-8,7 nghìn tấn) so sản lượng năm 2016 và bằng 106% kế hoạch. Trong đó, sản lượng thóc là 383 nghìn tấn, bằng 107,8 kế hoạch; sản lượng ngô 79 nghìn tấn, bằng 98% kế hoạch. 
9. Diện tích trồng rừng mới tập trung toàn tỉnh đạt 7.391 ha, tăng 4,9% so với năm 2016, trong đó địa phương trồng rừng tập trung theo Dự án Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2017 đạt 4.464,2 ha, bằng 111,9% kế hoạch.
10. Diện tích trồng chè mới và trồng lại toàn tỉnh cả năm 2017 ước đạt 1.055 ha, bằng 105,5% kế hoạch, giảm 14,2% so cùng kỳ; trong đó chè trồng mới là 211 ha.
11. Tỷ lệ che phủ rừng tính đến hết năm 2017 là trên 50%, hoàn thành kế hoạch. Tỷ lệ dân số ở nông thôn sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh là 89%, tăng 1,9% so với năm 2016 và bằng chỉ tiêu kế hoạch.
12. Giảm tỷ suất sinh thô so với năm 2016 là 0,1 phần nghìn, hoàn thành kế hoạch.
13. Số lao động được tạo việc làm mới tăng thêm toàn tỉnh dự ước cả năm đạt 15 nghìn lao động, bằng 100% kế hoạch; trong đó xuất khẩu lao động là 1.000 người, bằng chỉ tiêu kế hoạch.
15. Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng năm 2017 xuống còn 12,5%, đạt chỉ tiêu kế hoạch.
16. Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh năm 2017 ước giảm 2% so với năm 2016 và hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch.
B. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CỦA TỪNG NGÀNH, LĨNH VỰC CHỦ YẾU:
I. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu về kinh tế
1. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tổng sản phẩm trong tỉnh năm 2017 ước tính tăng 12,6% so với năm 2016 (kế hoạch là 12%); trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp thuỷ sản tăng 3,32%, đóng góp 0,4 điểm phần trăm vào tốc độ tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 17,3%, đóng góp 10,02 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ và thuế sản phẩm tăng 7,23%, đóng góp 2,18 điểm phần trăm vào tốc độ tăng trưởng chung.
Về cơ cấu nền kinh tế năm 2017, do ngành công nghiệp tăng cao trong 4 năm trở lại đây nên khu vực công nghiệp xây dựng chuyển dịch rất nhanh, năm 2017 chiếm 55,4%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 12,6%; khu vực dịch vụ và thuế sản phẩm chiếm 32%.
* Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) bình quân đầu người của tỉnh Thái Nguyên năm 2017 ước đạt 65 triệu đồng/người/năm, tăng hơn 7 triệu đồng/người/năm so với năm 2016 và vượt kế hoạch đề ra. Nếu tính theo Đô la Mỹ, GRDP bình quân đầu người tỉnh Thái Nguyên năm 2017 đạt 2.880  USD/người/năm (bình quân chung cả nước năm 2016 là 48,5 triệu đồng, tương đương 2.215 USD/người/năm).
2. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản cả năm 2017 (theo giá so sánh năm 2010) ước đạt 12.515 tỷ đồng, tăng 4,1% so cùng kỳ; bao gồm: ngành Nông nghiệp là 11.718,6 tỷ đồng tăng 3,9% so cùng kỳ (trồng trọt tăng 2,1%; chăn nuôi tăng 4,5% và dịch vụ tăng 10%); giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp là 437 tỷ đồng, tăng 5,2% so cùng kỳ; giá trị sản xuất ngành thuỷ sản là 360 tỷ đồng, tăng 10% so cùng kỳ.
* Trồng trọt
- Cây hàng năm: Năm 2017 một số địa phương chuyển đổi đất nông nghiệp sang mục đích sử dụng khác, mặt khác do thời tiết năm nay không thuận lợị ảnh hưởng đến công tác gieo trồng cây hàng năm nên diện tích gieo trồng cây hàng năm giảm so với năm trước ở tất cả các loại cây trồng, riêng chỉ có cây rau, đỗ tương là diện tích tăng.
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm 2017 đạt 117,8 nghìn ha, giảm 3% (tương ứng giảm 3,6 nghìn ha) so với năm 2016 (vụ Đông xuân là 63,2 nghìn ha, giảm 4,2%; vụ Mùa 54,6 nghìn ha, giảm 1,6% cùng kỳ). Trong đó, cây lương thực có hạt diện tích là 88,8 nghìn ha, giảm 3,6% cùng kỳ và chiếm 75,4% tổng diện tích gieo trồng; cây chất bột có củ đạt 8,1 nghìn ha, giảm 2,3% so cùng kỳ; cây công nghiệp hàng năm đạt 5 nghìn ha, giảm 0,6% so cùng kỳ; Nhóm cây có diện tích tăng chỉ có cây rau, đậu các loại đạt 14,7 nghìn ha, tăng 3,5% cùng kỳ (tăng gần 500 ha) và chiếm 12,5% tổng số diện tích cây hàng năm. 
 Tính riêng cây lúa, năm 2017 toàn tỉnh gieo cấy được 71 nghìn ha, trong đó vụ Đông Xuân gieo cấy được 30,3 nghìn ha (giảm 1,2% cùng kỳ), vụ mùa gieo cấy được 40,8 nghìn ha (giảm 1,3%). Năng suất lúa vụ Mùa 2017 dự ước đạt 52,6 tạ/ha, tăng 0,34 tạ/ha (+0,6%) so với vụ Mùa 2016.
Với dự ước như trên, năng suất lúa cả năm 2017 đạt 53,9 tạ/ha, tăng 0,8% so với năm 2016 và sản lượng lúa cả năm ước đạt 383 nghìn tấn, bằng 107,8% kế hoạch nhưng giảm 0,4% (tương ứng giảm 1,7 nghìn tấn) so với cả năm 2016 (do diện tích gieo trồng giảm)
Bên cạnh cây lúa, diện tích gieo trồng cây ngô cả năm đạt 17,7 nghìn ha, giảm 11,8% (-2,4 nghìn ha) so với cả năm 2016. Năng suất ngô bình quân cả năm ước đạt 44,55 tạ/ha, tăng 1,81 tạ/ha so với cùng kỳ; tuy nhiên do diện tích giảm nên sản lượng ngô cả năm ước đạt 79 nghìn tấn, giảm 7 nghìn tấn (-8,1%) so với năm 2016 và bằng 97,9% kế hoạch.
Tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm 2017 ước đạt 462 nghìn tấn, giảm 1,8% so với năm 2016 và bằng 106% kế hoạch.
- Cây chè: Diện tích chè trồng mới và trồng lại toàn tỉnh cả năm 2017 ước đạt 1.055 ha, bằng 105,5% kế hoạch và giảm 12,2% (-147 ha) so với năm 2016. Trong đó chè trồng mới là 211 ha và trồng cải tạo là 844 ha.
 Tổng diện tích chè hiện có tính đến cuối năm 2017 là 21.573 ha, tăng 1% so cùng kỳ, trong đó diện tích chè cho sản phẩm là 18.872 ha, tăng 0,65%. Dự ước năng suất chè bình quân chung đạt 113,9tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha (+1,06%) nên sản lượng chè búp tươi ước đạt 218,4 nghìn tấn, tăng 1,7% so với sản lượng năm 2016 và bằng 103,4% kế hoạch cả năm.
* Chăn nuôi: Từ đầu năm đến nay trên địa tỉnh không xảy ra dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên đàn gia súc, gia cầm. Công tác kiểm dịch vận chuyển, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y được duy trì thực hiện tại các địa phương.
Năm 2017 tình hình chăn nuôi trên địa bàn gặp nhiều khó khăn do giá lợn thịt và lợn giống khó tiêu thụ, giá bán thấp dẫn đến tình trạng thua lỗ nặng. Cuối tháng 7/2017 giá lợn tăng đột biến trong khoảng thời gian ngắn sau đó giảm và chững lại. Năm 2017 các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã tích cực tìm cách tháo gỡ những khó khăn và bàn các biện pháp hỗ trợ trong tiêu thụ sản phẩm lợn hơi, phòng chống dịch bệnh, giảm chi phí thức ăn chăn nuôi, giảm lãi suất cho vay đối với người chăn nuôi. Đồng thời khuyến cáo và hướng dẫn người chăn nuôi giảm quy mô đàn hợp lý; duy trì, ổn định đàn nái chất lượng để phục hồi sản xuất, loại những đàn lợn có năng suất, chất lượng sinh sản thấp...
Theo kết quả điều tra chăn nuôi, tại thời điểm 01/10/2017: Đàn trâu 57,2 nghìn con, giảm 7,7% cùng kỳ; đàn bò 44,2 nghìn con, giảm 0,6%; tổng đàn lợn toàn tỉnh 681 nghìn con, giảm 8,6% (tương ứng giảm 64,2 nghìn con); đàn gia cầm 11,3 triệu con, tăng 4,8% so với thời điểm cùng kỳ (1/10/2016)
Về sản lượng thịt hơi xuất chuồng: Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2017 ước đạt 141,4 nghìn tấn, tăng 4,8% so với năm 2016; trong đó thịt lợn hơi khoảng 98 nghìn tấn, tăng 3,1%; gia cầm 37 nghìn tấn, tăng 9,1% (riêng sản lượng gà tăng 3 nghìn tấn, tăng 9,5% so với năm 2016).
Về phát triển trang trại: Theo kết quả điều tra trang trại thời điểm ngày 01/7 hàng năm, năm 2017 toàn tỉnh có 753 trang trại (743 trang trại chăn nuôi; 1 trang trại trồng trọt; 3 trang trại lâm nghiệp; 4 trang trại thủy sản và 2 trang trại tổng hợp). So với thời điểm 1/7/2016 số trang trại giảm 5,8%; trong đó giảm toàn bộ ở trang trại chăn nuôi (giảm 48 trang trại) so với cùng kỳ. Tổng số lao động của trang trại 2.472 người, trong đó lao động thuê ngoài thường xuyên là 667 người. Giá trị sản phẩm và dịch vụ nông, lâm nghiệp, thủy sản bán ra của trang trại là 2.188 tỷ đồng (chiếm khoảng 25% giá trị ngành chăn nuôi toàn tỉnh). Bình quân 1 trang trại sử dụng 3 lao động với giá trị sản phẩm dịch vụ bán ra khoảng 2,9 tỷ đồng/trang trại/năm.
* Lâm nghiệp: Tổng diện tích rừng trồng mới tập trung trên địa bàn năm 2017 là 7.391,42 ha, tăng 343 ha (+4,9%) so với diện tích trồng mới năm 2016 (bao gồm 7.030,09 ha rừng sản xuất; 361,33 ha rừng phòng hộ). Trong đó, các doanh nghiệp do trung ương quản lý trồng mới 396,18 ha; diện tích rừng trồng mới theo dự án bảo vệ và phát triển rừng đạt 4.464,2 ha, bằng 111,9% kế hoạch và diện tích rừng trồng mới do dân tự trồng đạt 2.531,04 ha.
Ngoài trồng rừng tập trung, năm 2017 diện tích rừng trồng phân tán được 562 nghìn cây, tương đương 281,12 ha, vượt 12,4% so kế hoạch, bằng 77,6% so cùng kỳ; chăm sóc rừng 1.322,69 ha; khoanh nuôi tái sinh rừng 1.130 ha; khoán bảo vệ rừng 19.060 ha.
Tình hình khai thác gỗ: Dự ước năm 2017 sản lượng khai thác đạt 142 nghìn m3 gỗ tròn các loại, tăng 5,9% so với năm 2016.
Công tác quản lý và bảo vệ rừng: Đã xảy ra 5 vụ cháy rừng trồng (tăng 01 vụ so năm 2016) làm thiệt hại 9,4 ha rừng trồng, giá trị thiệt hại khoảng 160  triệu đồng.
Kết quả xử lý vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng: Lũy kế 9 tháng 2017 ngành chức năng đã phát hiện và xử lý 269 vụ vi phạm quản lý bảo vệ rừng (giảm 31,2% so với cùng kỳ năm 2016), tịch thu 453 m3 gỗ các loại (giảm 3,4%); trong đó gỗ quý hiếm quy tròn 64 m3; Thu nộp ngân sách nhà nước 1,9 tỷ đồng; tịch thu 40 phương tiện các loại.
* Thủy sản: Năm 2017 trên địa bàn các ngành chức năng đã tổ chức tập huấn kỹ thuật nuôi trồng thủy sản cho các địa phương. Thực hiện chương trình khuyến ngư và bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Một số doanh nghiệp đầu tư nuôi cá lồng với quy mô lớn trên Hồ Núi Cốc và một số địa phương;
Diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2017 ước khoảng 5.850 ha, tương đương năm 2016. Tổng sản lượng thủy sản ước đạt 10,6 nghìn tấn, tăng 12,6%, trong đó sản lượng cá các loại khoảng 10,3 nghìn tấn, tăng 12,8% cùng kỳ; tôm 70 tấn, thủy sản khác 224 tấn.
3. Sản xuất công nghiệp
Năm 2017 sản xuất công nghiệp trên địa bàn vẫn duy trì được tốc độ phát triển khá cao. Những mặt hàng sản xuất đang phát triển mạnh như sản phẩm điện tử, viễn thông và sản xuất trang phục góp phần đưa chỉ tiêu giá trị sản xuất công nghiệp cả năm hoàn thành vượt mức so kế hoạch ở tất cả các khu vực, thành phần kinh tế.
Dự ước giá trị sản xuất công nghiệp cả năm 2017 trên địa bàn tỉnh (theo giá so sánh 2010) đạt 571,4 nghìn tỷ đồng, tăng 18,9% cùng kỳ và bằng 101,5% kế hoạch cả năm; trong đó, công nghiệp địa phương quản lý 21,4 nghìn tỷ đồng, tăng 12,4% cùng kỳ, bằng 109,1% kế hoạch; công nghiệp nhà nước trung ương 16,8 nghìn tỷ đồng, tăng 8,9% cùng kỳ, bằng 101,1% kế hoạch; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 533,3 nghìn tỷ đồng, tăng 19,5% cùng kỳ và bằng 101,2% kế hoạch. Tuy sản lượng nhóm điện tử, viễn thông không tăng cao so với cùng kỳ nhưng do giá trị sản phẩm năm 2017 tăng cao hơn so với năm 2016 như: giá trị điện thoại thông minh tăng 18,4% so với năm 2016, giá trị máy tính bảng tăng 20,4% nên giá trị sản xuất ngành sản phẩm điện tử, máy tính và sản phẩm quang học vẫn tăng 19,9% so với cùng kỳ.
Như vậy hiện nay giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng cao nhất (92,1%) công nghiệp toàn tỉnh; còn lại công nghiệp trong nước chỉ chiếm tỷ trọng 7,9% (công nghiệp địa phương chiếm 4,5% và công nghiệp nhà nước Trung ương chiếm 3,4%).
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất ước tính cả 2017: Hầu hết các sản phẩm đều tăng cao so cùng kỳ. Nhóm sản phẩm tăng so với cùng kỳ và vượt kế hoạch là: sắt thép các loại đạt 1,3 triệu tấn, tăng 30,9% cùng kỳ và bằng 125,5% kế hoạch; nước máy thương phẩm đạt 34 triệu m3, tăng 19,1% cùng kỳ và bằng 109,7% kế hoạch; sản phẩm may đạt 59,2 triệu sản phẩm, tăng 16,3% cùng kỳ và bằng 107,6% kế hoạch; Vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 18,3 nghìn tấn, tăng 8,2% cùng kỳ và bằng 114,4% kế hoạch. Nhóm sản phẩm tuy không đạt kế hoạch nhưng vẫn tăng so với cùng kỳ là: điện thương phẩm đạt 4.540 triệu Kwh, tăng 16,4% cùng kỳ và bằng 82,5% kế hoạch; đồng tinh quặng (Cu>20%) đạt 43,5 nghìn tấn, tăng 8,6% cùng kỳ và bằng 92,6% kế hoạch; nhóm sản phẩm điện tử viễn thông đạt 124,5 triệu sản phẩm, tăng 7% cùng kỳ và bằng 89,5% kế hoạch, trong đó, điện thoại thông minh đạt 100,8 triệu sản phẩm, tăng 8,7% cùng kỳ, máy tính bảng đạt 23,7 triệu sản phẩm, tăng 0,6% cùng kỳ; điện sản xuất đạt 1.620 triệu Kwh, tăng 2,7% và bằng 95,3% kế hoạch...
Nhóm sản phẩm đạt thấp hơn so với cùng kỳ như: than khai thác đạt 1,4 triệu tấn, giảm 5,7% cùng kỳ và bằng 117,4% kế hoạch; xi măng đạt 2,1 triệu tấn, giảm 7,9% cùng kỳ và bằng 77,8% kế hoạch; gạch xây dựng đạt 220 triệu viên, giảm 13,4% cùng kỳ và bằng 112,8% kế hoạch...
4. Thương mại, dịch vụ
a. Xuất, nhập khẩu
- Xuất khẩu: Dự ước cả năm 2017, giá trị xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh ước đạt 23 tỷ USD, bằng 109,4% kế hoạch, tăng 20,2% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 22,6 tỷ USD, tăng 20,2% so với cùng kỳ và khu vực kinh tế trong nước đạt 318,2 triệu USD, tăng 23% so với cùng kỳ và bằng 102,6% kế hoạch cả năm.
Mặt hàng xuất khẩu năm 2017 chủ yếu là: nhóm điện thoại thông minh và máy tính bảng sản lượng đạt 115,2 triệu sản phẩm với giá trị đạt 19,3 tỷ USD (chiếm 84,3% tổng số), tăng 3,7% về lượng và tăng 23,5% về giá trị so với cùng kỳ, bằng 111,8% kế hoạch (trong đó, điện thoại thông minh đạt 16,5 tỷ USD; máy tính bảng giá trị đạt 2,9 tỷ USD); hàng may mặc xuất khẩu ước đạt 265,5 triệu USD, tăng 27,8% so với cùng kỳ; nhóm sản phẩm kim loại màu và quặng kim loại màu ước đạt 234 triệu USD, tăng 43,6% so với cùng kỳ và bằng 146,3% kế hoạch; sản phẩm từ sắt thép ước đạt 50,9 triệu USD, tăng 5,4% cùng kỳ. Nhóm sản phẩm xuất khẩu đạt thấp so kế hoạch hoặc giảm so với cùng kỳ là: linh kiện điện tử và phụ tùng khác đạt 2,9 tỷ USD, giảm 3,9% cùng kỳ và bằng 90,5% kế hoạch; chè các loại đạt 2,9 nghìn tấn với trị giá 5,3 triệu USD, bằng 58,8% kế hoạch xuất khẩu, giảm 10,5% cùng kỳ; giấy và sản phẩm từ giấy đạt 2,8 triệu USD, giảm 3,4% cùng kỳ...
Hình thức xuất khẩu toàn bộ là trực tiếp. Thị trường xuất khẩu lớn nhất là Chấu Á chiếm tỷ trọng 37,7% tổng số và thị trường xuất khẩu lớn thứ hai là Châu Âu chiếm tỷ trọng 30,2% tổng giá trị xuất khẩu. Trên thị trường Châu Á, hàng hóa xuất khẩu tập trung chủ yếu ở khu vực Tây Á và khu vực Đông Á.
- Nhập khẩu: Dự ước cả năm 2017 giá trị nhập khẩu đạt 14 tỷ USD, tăng 17,2% so với cùng kỳ; trong đó: khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 224,4 triệu USD, giảm 19,5% so với cùng kỳ ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 13,8 tỷ USD, tăng 18% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 98,4% tổng giá trị nhập khẩu.
Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu năm 2017 có tỷ trọng lớn nhất là nguyên liệu và linh kiện điện tử 13,5 tỷ USD (chiếm 96,6% tổng số), tăng 23,6% cùng kỳ; vải các loại đạt 116,4 triệu USD, tăng 19,5%; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 74,1 triệu USD, tăng gấp 2,1 lần; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 36,6 triệu USD, tăng gấp 4,3 lần...
Nhóm mặt hàng nhập khẩu đạt thấp và giảm so cùng kỳ là: phụ liệu hàng may mặc đạt 10,4 triệu USD, giảm 34,6% so với cùng kỳ; máy móc thiết bị ước đạt 132,8 triệu USD bằng 19,8% cùng kỳ; sắt thép các loại đạt 5,7 triệu USD, bằng 10,3% cùng kỳ; phế liệu sắt thép đạt 0,5 triệu USD, chỉ bằng 7,2% cùng kỳ...
Nguồn nguyên, vật liệu và hàng hóa nhập khẩu trên địa bàn năm 2017 toàn bộ được nhập khẩu theo hình thức trực tiếp và chủ yếu nhập khẩu từ thị trường Châu Á (chiếm tỷ trọng khoảng 96,6% tổng số); trong đó tập trung chủ yếu ở các nước là Hàn Quốc, Trung Quốc...
b. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội cả năm 2017 ước đạt 27,7 nghìn tỷ đồng, tăng 10,8% so với  năm 2016. Khu vực cá thể ước đạt 16,3 nghìn tỷ đồng (chiếm thị phần lớn nhất trên địa bàn 58,8%), tăng 11,8% so với năm 2016; khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước ước đạt 25,6 nghìn tỷ đồng, tăng 11,2%; khu vực doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 1,9 nghìn tỷ đồng, tăng 6% so với cùng kỳ; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 100 tỷ đồng, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước.
Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội năm 2017, ngành thương nghiệp ước đạt 22,5 nghìn tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 81,2% tổng số) tăng 11,3% cùng kỳ; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 2,3 nghìn tỷ đồng, tăng 8,6%; nhóm ngành dịch vụ tiêu dùng ước đạt 2,8 nghìn tỷ đồng, tăng 9,3%; ngành du lịch lữ hành đạt 52,8 tỷ đồng, tăng 9,4% so với năm 2016.
c. Giá tiêu dùng 10 tháng năm 2017
Năm 2017 tăng trưởng kinh tế đạt khá cao, nhưng kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định. Lạm phát ở mức thấp; chỉ số giá tiêu dùng bình quân (CPI) 10 tháng đầu năm trên địa bàn tăng 2,77% so với bình quân cùng kỳ, thấp hơn so với bình quân 10 tháng 2016 (3,86%) và thấp hơn so với mức tăng 3,71% bình quân chung của cả nước (do giá thực phẩm của tỉnh Thái Nguyên giảm nhiều hơn so mức giảm của cả nước).
Diễn biến chỉ số giá trong 10 tháng qua như sau: chỉ số giá so với tháng trước có xu hướng giảm từ tháng 1 đến tháng 3 và giảm sâu nhất ở 2 tháng tháng 4 và 5 (do giá thịt lợn giảm mạnh); sau đó tăng lên dần ở tháng 6 và tháng 7, cao nhất ở tháng 8/2017 (với mức tăng 0,92%) và mức tăng giảm dần ở tháng 9 và 10/2017.
Chỉ số giá bình quân 10 tháng 2017 tăng 2,77% chủ yếu do nhóm dịch vụ tăng 11,63% so bình quân cùng kỳ; nhóm hàng hóa giảm, chỉ bằng 98,8%. Trong nhóm dịch vụ tăng cao có nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 60% (do nhà nước điều chỉnh giá dịch vụ khám chữa bệnh nhóm dịch vụ y tế tăng 92%); nhóm giáo dục tăng 8,68%; nhóm giao thông tăng 5,87% (giá xăng dầu tăng 16%); còn lại các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng từ 0,03% đến 2,88%. Nhóm hàng hóa giảm chủ yếu là ở nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 4,58% (do giá thực phẩm giảm 6,47%); nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,56%.
Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng các tháng năm 2017 so với tháng trước
của tỉnh Thái Nguyên và cả nước

d. Vận tải
- Vận tải hàng hoá: Khối lượng vận chuyển hàng hoá ước tính cả năm 2017 đạt 32,1 triệu tấn với khối lượng luân chuyển khoảng 1.281 triệu tấn.km, tăng 7% về khối lượng vận chuyển và  tăng 6,5% khối lượng luân chuyển so với  năm 2016.
- Vận tải hành khách: Số lượt hành khách vận chuyển năm 2017 ước đạt 13 triệu lượt hành khách với số lượng luân chuyển là 766,5 triệu lượt khách.km, tăng 8,1% về khối lượng vận chuyển hành khách và tăng 7,6% khối lượng luân chuyển so với năm 2016.
Doanh thu vận tải trên địa bàn cả năm 2017 ước đạt 3.133,5 tỷ đồng, tăng 6,6% so với cả năm 2016, trong đó, vận tải hàng hóa ước đạt 2.610 tỷ đồng, tăng 6,5% so với cùng kỳ (chiếm tỷ trọng 83,2% tổng doanh thu vận tải), doanh thu vận tải hành khách ước đạt 523,1 tỷ đồng, tăng 7,5% so với năm 2016.
5. Tài chính, tín dụng
- Thu ngân sách: Lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 10/2017 thu trong cân đối trên địa bàn đạt 10,17 nghìn tỷ đồng, tăng 42,7% cùng kỳ; trong đó, thu nội địa là 8 nghìn tỷ đồng, tăng 42% so với cùng kỳ; thu xuất nhập khẩu đạt 2,17 nghìn tỷ đồng, tăng 45,8%.
Ước tính cả năm 2017, thu trong cân đối trên địa bàn đạt 12 nghìn tỷ đồng, bằng 133,2% dự toán; trong đó, thu nội địa đạt 9,3 nghìn tỷ đồng, tăng 17,2% so với năm 2016 và bằng 137,6% dự toán cả năm; thu hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 2,7 nghìn tỷ đồng, tăng 59% so với cùng kỳ năm trước và vượt dự toán 20% so với dự toán.
- Chi ngân sách: Lũy kế tổng chi ngân sách địa phương từ đầu năm tính đến hết tháng 10/2017 đạt 7.654 tỷ đồng, bằng 75% dự toán năm; trong đó chi cân đối ngân sách địa phương 6.974 tỷ đồng, bằng 74,8% dự toán; chi chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhiệm vụ khác 680 tỷ, bằng 78,2% dự toán.
Ước tính cả năm 2017, tổng chi ngân sách địa phương ước đạt 12,9 nghìn tỷ đồng, bằng 126,5% dự toán cả năm, trong đó chi cân đối ngân sách địa phương đạt 11,8 nghìn tỷ đồng (chi đầu tư phát triển chiếm 28,4%; chi thường xuyên chiếm 71,6%); chi chương trình mục tiêu quốc gia ước đạt 1.070,5 tỷ đồng, bằng 123% dự toán năm.
- Tín dụng: Hiện nay trên địa bàn có gần 30 ngân hàng, chi nhánh ngân hàng và tổ chức tín dụng. Tính đến đầu tháng 10/2017 tăng trưởng tín dụng trên địa bàn đạt 11,4% thấp hơn tăng trưởng tín dụng cả nước.
Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay bằng đồng Việt Nam tiếp tục ổn định so với cuối năm 2016. Lãi suất huy động VNĐ của các tổ chức tín dụng phổ biến ở mức 0,8-1%/năm đối với lãi suất huy động tiền gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng, từ 4,5-5,4%/năm đối với kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng, từ 5,4-7,2%/năm đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VNĐ đối với các lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao là 6,5%/năm. Lãi suất cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 7-9%/năm đối với ngắn hạn, từ 9,3-11%/năm đối với trung và dài hạn. Đối với nhóm khách hàng tốt, tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch, lãi suất cho vay từ 5-6%/năm. Lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 2,8-6%/năm.
- Kết quả hoạt động tín dụng: Tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn ước tính đến 31/10/2017 đạt 45 nghìn tỷ đồng, tăng 16,3% so với 31/12/2016.
Dư nợ cho vay đối với nền kinh tế của các tổ chức tín dụng tính đến 31/10/2017 đạt 44,4 nghìn tỷ đồng, tăng 12,6% so với 31/12/2016 và tăng 17,8% so với cùng kỳ năm trước. Dư nợ tín dụng ưu đãi là 4,63 nghìn tỷ đồng, giảm 6,28% so với 31/12/2016. Nợ xấu được kiểm soát ở mức 1%/tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng
Kết quả dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn đến hết tháng 9/2017 đạt 11.953 tỷ đồng tăng 12,2% so với 31/12/2016 với 181.080 khách hàng còn dư nợ, chiếm tỷ trọng 24,6%/tổng dư nợ trên địa bàn, doanh số cho vay là 9.448 tỷ đồng, doanh số thu nợ là 7.869 tỷ đồng. Trong đó: Các ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài dư nợ đạt 8.810 tỷ đồng với 63.351 khách hàng còn dư nợ; Các ngân hàng chính sách xã hội và cho vay ưu đãi dư nợ đạt 3,1 nghìn tỷ đồng với 117.347 khách hàng còn dư nợ. Tính riêng cho vay đầu tư xây dựng nông thôn mới đạt 8.670 tỷ đồng với 138.445 hộ dân, 165 doanh nghiệp và 12 hợp tác xã còn dư nợ, doanh số cho vay đạt 6.107 tỷ đồng, doanh số thu nợ đạt 4.653 tỷ đồng.
Các ngân hàng trên địa bàn đã thực hiện cho vay chăn nuôi lợn, sản xuất thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y với dư nợ đến hết tháng 9/2017 đạt 2.250 tỷ đồng, trong đó kể từ ngày 01/5/2017 đã thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng vay chăn nuôi lợn là 17 tỷ đồng, dư nợ được miễn, giảm lãi vay là 5 tỷ đồng. Nợ xấu của khách hàng vay chăn nuôi lợn là 4 tỷ đồng, chiếm 0,18%/tổng dư nợ cho vay chăn nuôi lợn.
6. Đầu tư và xây dựng
a.  Đầu tư
- Vốn đầu tư trên địa bàn: Hiện nay các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài có quy mô lớn đã cơ bản hoàn thiện và đi vào sản xuất nên vốn đầu tư trên địa bàn với cùng kỳ giảm mạnh.
Tổng vốn đầu tư trên địa bàn ước tính cả năm 2017 ước đạt 50 nghìn tỷ đồng, bằng 94% (giảm 6%) so với cùng kỳ, trong đó vốn đầu tư khu vực FDI khoảng 26,6 nghìn tỷ đồng (chiếm 53% tổng mức đầu tư trên địa bàn), giảm 15,4% cùng kỳ; vốn đầu tư của khu vực kinh tế trong nước ước đạt 23,4  nghìn tỷ đồng, tăng 7,4% so với cùng kỳ, trong đó vốn do nhà nước quản lý ước đạt 3,7 nghìn tỷ đồng, giảm 12,7%, vốn ngoài nhà nước 19,6 nghìn tỷ đồng, tăng 11,7% cùng kỳ (khối doanh nghiệp tăng 6,7%; hộ dân cư và cá thể tăng 15,7%.
- Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài: Tính từ đầu năm đến ngày 30/10/2017 trên địa bàn tỉnh có 12 dự án) (8 dự án công nghiệp chế biến chế tạo, 02 dự án dịch vụ lưu trú ăn uống; 1 dự án hoạt động thương mại và 1 dự án về hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ) được cấp giấy chứng nhận đầu tư mới với tổng vốn đầu tư đăng ký là 15,9 triệu USD. (thời điểm cùng kỳ là 23 dự án với vốn đăng ký là 132,85 triệu USD)
b. Xây dựng
Giá trị sản xuất xây dựng năm 2017 trên địa bàn ước đạt 17,5 nghìn tỷ đồng, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, đơn vị xây dựng có vốn trong nước thực hiện 16,4 nghìn tỷ đồng, tăng 15,5% cùng kỳ.
7. Thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới
Các địa phương tập trung chỉ đạo, triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trọng tâm ở 11 xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới, 09 xã xây dựng “Nông thôn mới kiểu mẫu”.
Tổng nguồn vốn đã huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực thực hiện chương trình 9 tháng 2017 là 5.662,8 tỷ đồng (bằng 69,4% kế hoạch), trong đó vốn ngân sách là 674,12 tỷ đồng; vốn lồng ghép các chương trình, dự án khác là 239 tỷ đồng; vốn tín dụng 4.273,5 tỷ đồng; vốn đầu tư của doanh nghiệp 318,7 tỷ đồng, đóng góp của người dân 193,5 triệu đồng.
Thực hiện việc hỗ trợ xi măng, phân bổ cho các địa phương xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn đến đầu tháng 10/2017 đạt 55.372/100.000 tấn, bằng 55,37% kế hoạch; trong đó cao nhất huyện Đồng Hỷ đạt 74,26%. Từ đầu năm đến đầu tháng 10/2017 toàn tỉnh đã triển khai xây dựng được trên 274,2 km đường giao thông nông thôn các loại; 10 hồ đập; 81 trạm biến áp; 168 phòng học; 05 nhà văn hóa và  khu thể thao xã; 130 nhà văn hóa xóm; 04 trạm y tế; 03 cấp nước sinh hoạt tập trung và một số công trình hạ tầng khác.
Kết quả thực hiện tiêu chí xây dựng Nông thôn mới: Lũy kế đến hết năm 2016, toàn tỉnh có 56 xã đạt chuẩn Nông thôn mới (trong đó bao gồm 03 xã đã chuyển thành phường, thị trấn). Trong năm 2017 các xã này tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng tiêu chí theo quy định của Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2017-2020.
Tính từ đầu năm đến hết tháng 10/2017, kết quả có 2 xã đạt 19/19 tiêu chí (đạt chuẩn Nông thôn mới); có 15 xã đạt từ 15-18 tiêu chí (tăng 2 xã so với 31/12/2016); có 56 xã đạt từ 10-14 tiêu chí (tăng 1 xã); có 14 xã đạt từ 7-9 tiêu chí (giảm 5 xã so với thời điểm 31/12/2016).
Ngày 5/10/2017 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định công nhận thành phố Thái Nguyên hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2016.
Thái Nguyên là một trong những địa phương đã sớm ban hành Bộ tiêu chí về “xã nông thôn mới kiểu mẫu”, “xóm Nông thôn mới kiểu mẫu”  và hội gia đình nông thôn mới giai đoạn 2017-2020 và có các chính sách tăng tỷ lệ hỗ trợ cho các công trình hạ tầng cáo dụng theo mức độ khó khăn của từng khu vực; tiếp tục có cơ chế hỗ trợ xi măng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn mới. Tuy nhiên công tác chỉ đạo thực hiện chương trình ở một số địa phương chưa quyết liệt nên việc lập và triển khai kế hoạch khó khăn lúng túng; tiến độ giải ngân vốn, sử dụng xi măng còn chậm; còn 14 xã đạt dưới 10 tiêu chí.
II. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu về xã hội
1. Dân số và giảm tỷ suất sinh thô
Dân số trung bình năm 2017 trên địa bàn tỉnh theo số liệu sơ bộ là 1.255 nghìn người; tăng khoảng 9 nghìn người so với năm 2016. Dân số khu vực thành thị chiếm khoảng 35% và dân số khu vực nông thôn chiếm 65% tổng dân số.
Trẻ em mới sinh: Tính từ đầu năm đến đầu tháng 10/2017 trên địa bàn tỉnh có 12.962 trẻ em mới sinh, (số trẻ nam 6.948, số trẻ nữ 6.014, tỷ số giới tính khi sinh là 118, tức là có 115 trẻ nam/100 trẻ nữ), tăng 571 trẻ so với cùng kỳ. Trong tổng số trẻ em mới sinh, có 960 trường hợp sinh con thứ 3 trở lên, chiếm 7,4% tổng số trẻ mới sinh, tăng 69 trẻ so cùng kỳ (+7,7%). Trong đó 3 địa phương có tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên cao hơn tỷ lệ bình quân chung của toàn tỉnh là: huyện Đồng hỷ 12,2%; huyện Võ Nhai 11% và huyện Phú Bình 10,5%.
Như vậy với mức sinh như trên và dân số năm 2017, dự ước chỉ tiêu tỷ suất sinh thô cả năm 2017 sẽ giảm 0,1 phần nghìn so với năm 2016, đạt chỉ tiêu kế hoạch.
2. Đời sống dân cư, công tác giảm nghèo, bảo trợ xã hội và thực hiện chính sách người có công
- Đời sống dân cư: chỉ số giá hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chung tăng không cao. Trong khu vực nông thôn, sản lượng trồng trọt, chăn nuôi tăng, dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm không phát sinh, tuy nhiên giá bán sản phẩm chăn nuôi thấp nên người chăn nuôi gặp khó khăn. Trên địa bàn có nhiều dự án đầu tư, đi vào hoạt động đã thu hút số lượng lớn lao động phổ thông, trong đó lao động khu vực nông thôn chiếm chủ yếu vào làm việc trong ngành công nghiệp, góp phần tăng thu nhập, ổn định đời sống dân cư.
- Công tác hỗ trợ hộ nghèo và các đối tượng bảo trợ xã hội: Công tác thực hiện cấp thẻ bảo hiểm y tế cho các đối tượng là người nghèo, người thuộc hộ cận nghèo, người dân tộc thiểu số được triển khai. Tổng số đã cấp 362,5 nghìn thẻ cho 43 nghìn người thuộc hộ nghèo, 41,3 nghìn người thuộc hộ cận nghèo, 231,5 nghìn người dân tộc thiểu số sống ở vùng khó khăn, 46,7 nghìn người sinh sống ở địa bàn đặc biệt khó khăn. Thực hiện trợ cấp thường xuyên cho 35.974 đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng với tổng kinh phí chi trả 10 tháng 2017 là khoảng 160 tỷ.
Thăm tặng quà, cứu trợ xã hội các hộ có nguy cơ thiếu đói giáp hạt Tết nguyên đán Đinh Dậu năm 2017 với tổng số tiền trị giá 9.196 triệu đồng (cứu trợ đột xuất 4.328 hộ, 11.021 khẩu với kinh phí 1.598,4 triệu đồng, tặng 21.736 suất quà trị giá 7.597,6 triệu đồng).
Dự ước tỷ lệ hộ nghèo năm 2017 là 9,21%, giảm 2% so với năm 2016, bằng chỉ tiêu kế hoạch.
- Thực hiện chính sách Người có công: Ngành chức năng tiếp tục thực hiện  trình các thủ tục về giấy tờ hồ sơ, các chế độ chính sách liên quan đến các đối tượng người có công đến các cấp có thẩm quyền giải quyết. Năm 2017 đã đề nghị hưởng Bảo hiểm y tế cho 6.762 đối tượng; trợ cấp mai táng phí cho 294 đối tượng. Thẩm định hồ sơ, ra quyết định trợ cấp một lần đối với người có thành tích tham gia kháng chiến được hưởng theo quy định là  5.171 trường hợp; cấp phương tiện dụng cụ chỉnh hình 9 huyện, thành phố, thị xã cho 450 người với tổng số tiền là 528 triệu đồng.
 Tổ chức thăm, tặng quà 5 trung tâm điều dưỡng người có công ở tỉnh ngoài và 01 trung tâm trong tỉnh. Thăm, tặng quà nhân dịp tết Nguyên đán Đinh dậu là 47.696 xuất trị giá 11.089,7 triệu đồng; Nhân dịp 27/7 đã tổ chức trao tặng 68.422 suất quà với tổng trị giá trên 23.246,4 triệu đồng tới các thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng.
Thu quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” tính đến 15/9/2017 đã có 88 đơn vị, cá nhân ủng hộ với tổng số tiền là 392 triệu đồng, hiện nay các đơn vị vẫn đang tiếp tục ủng hộ.
3. Lao động, việc làm
 - Giải quyết việc làm: Ngành chức năng và các đơn vị triển khai hoạt động hỗ trợ việc làm cho người lao động, bằng hình thức tổ chức Ngày hội việc làm Xuân Đinh Dậu năm 2017, tham gia ngày hội có 31 đơn vị, doanh nghiệp và các trường nghề trong và ngoài tỉnh; với nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp là hơn 23 ngàn người. Kết quả Ngày hội việc làm đã thu hút được sự tham gia của hơn 2.000 lượt người lao động; hướng dẫn 34 lao động làm các thủ tục đi làm việc tại Hàn Quốc.
Trong 9 tháng 2017 có 412 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, trong đó nữ là 203 người, bộ đội xuất ngũ là 51 người, đối tượng chính sách là 28 người và đối tượng là người dân tộc thiểu số là 36 người.
Triển khai, tổ chức thành công Lễ phát động hưởng ứng Tháng hành động về An toàn - vệ sinh lao động lần thứ 1 năm 2017 tỉnh Thái Nguyên; tại Lễ phát động đã khen thưởng cho 28 tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác an toàn - vệ sinh lao động năm 2016; tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho 05 đối tượng gồm thân nhân của 03 gia đình có người chết vì tai nạn lao động, 01 người bị tai nạn lao động nặng và 01 người bị bệnh nghề nghiệp, mỗi xuất quà trị giá 1,2 triệu đồng nhân Tháng hành động về An toàn vệ sinh lao động lần thứ nhất. 
Dự ước trong năm 2017 giải quyết việc làm cho 25 nghìn người, trong đó tạo việc làm tăng thêm là 15 nghìn người (số lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 1 nghìn người).
4. Văn hóa
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã tổ chức nhiều các hoạt động tuyên truyền, biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, triển lãm, thể thao mừng Đảng, mừng xuân, chào mừng các ngày lễ, kỷ niệm như: 87 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; mừng Đảng, 65 năm Ngày Bác Hồ về ATK Định Hóa; 100 năm khởi nghĩa Thái Nguyên, 20 năm Ngày tái lập tỉnh Thái Nguyên; tổ chức lễ hội “Hương sắc trà xuân- Vùng chè đặc sản Tân Cương”; 42 năm giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2017), 131 năm ngày Quốc tế lao động, triển lãm “Thái nguyên- nơi khởi nguồn của ngày thương binh- Liệt sỹ 27/7” tại Hà Nội; kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Thành phố Thái Nguyên…  
Công tác thanh, kiểm tra hoạt động văn hóa: Cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra kiểm tra 09 lễ hội; kiểm tra 16 buổi biểu diễn nghệ thuật, việc thực hiện quảng cáo của 70 tổ chức, cá nhân; 26 cơ sở karaoke, 10 bể bơi, 8 cơ sở lưu trú du lịch.
Hoạt động bảo tàng: Tổ chức 4 triển lãm ảnh, Phối hợp với các đơn vị tổ chức Lễ hội “Hương sắc trà xuân- Vùng chè đặc sản Tân Cương”, chương trình Cặp lá yêu thương”, “Mắt đêm” giới thiệu về văn hóa Trà. Sưu tầm 334 tài liệu, hiện vật, ảnh phục vụ trưng bày triển lãm; phục vụ 16.500 lượt khách tham quan (242 lượt khách nước ngoài).
Hoạt động thư viện:  Tổ chức và phối hợp tổ chức tốt các hoạt động: Hội báo xuân Đinh Dậu; triển lãm sách, ảnh, tư liệu với chủ đề “Bắc Kan- Thái Nguyên vùng đất và con người tại tỉnh Bắc Kan. Cấp 1.038/1000 thẻ (đạt 103,8% KH), phục vụ 31.714 lượt bạn đọc, luân chuyển 54.087 lượt sách báo.
Hoạt động chiếu phim: Thực hiện 944 buổi chiếu phim, trong đó 24 buổi chiếu phục vụ nhiệm vụ chính trị, 920 buổi chiếu phim nhựa phục vụ các xã vùng khó khăn và đối tượng chính sách, người có công; phục vụ 41,5 nghìn lượt người xem.
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật: Tổ chức 109 buổi biểu diễn (28 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị; 81 buổi phục vụ đối tượng chính sách và các xã đặc biệt khó khăn); tập huấn chuyên môn 2 đợt; dàn dựng 02 chương trình nghệ thuật, ca múa; phối hợp biểu diễn tại Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Bác Hồ về ATK Định Hóa- Thái Nguyên cùng Trung ương Đảng, Chính Phủ lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, khai mạc Mùa du lịch.
Thể thao thành tích cao: Duy trì công tác quản lý, huấn luyện, tập luyện của các đội tuyển. Đạt 157 huy chương các loại (39 HCV, 53 HCB, 65 HCĐ) trong đó có 1 HCĐ giải Cúp đua thuyền canoeinh vô địch nữ thế giới tổ chức tại Hungary; đạt 01 cờ Nhất toàn đoàn, 03 cờ Nhì và 01 cờ Ba toàn đoàn; có 15 VĐV đạt kiện tướng, 29 VĐV cấp I quốc gia, cung cấp cho đội tuyển quốc gia 16 VĐV.
 
  5. Y tế
  - Tình hình dịch bệnh: Công tác phòng chống dịch và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm được duy trì. Các Chương trình mục tiêu Quốc gia về y tế tiếp tục được triển khai theo kế hoạch. Các điểm tiêm chủng thực hiện đúng quy trình, không xảy ra tình trạng biến chứng bất thường.
  Từ đầu năm đến đầu tháng 10/2017 trên địa bàn tỉnh không có dịch bệnh lớn xảy, tuy nhiên rải rác còn xẩy ra một số dịch bệnh nhỏ, được phát hiện và khống chế kịp thời: Số ca mắc bệnh Quai bị: 470 ca, giảm nhiều so với cùng kỳ 2016 (1670 ca); Bệnh Tay chân miệng: 100 ca, giảm so với cùng kỳ năm 2016 (279 ca); Số ca mắc sốt phát ban dạng sởi/rubella giảm thấp (7 ca so với 32 ca cùng kỳ năm 2016). Lũy tích số ca mắc Sốt xuất huyết tính đến ngày 20/10/2017 là 375 ca, tăng so với cùng kỳ năm 2016 (23ca), cao điểm nhất là trong Quý III/2017, toàn tỉnh có 333 ca mắc, hầu hết các ca đều có tiền sử đi và đến vùng đang có dịch lưu hành (Hà Nội). Ghi nhận 03 trường hợp tử vong do bệnh dại, tương đương với cùng kỳ 2016
  - Khám chữa bệnh: Các hoạt động khám chữa bệnh, thực hiện quy chế chuyên môn tại các bệnh viện, trạm y tế được duy trì tốt; Tính đến đầu tháng 10/2017 số lượt bệnh nhân đến khám, chữa bệnh tại các bệnh viện tỉnh, huyện đạt khoảng 1 triệu lượt người, tăng 1,1% so cùng kỳ năm 2016 (tuyến huyện là hơn 600 nghìn lượt, tăng 1,07%; tuyến tỉnh là hơn 330 nghìn lượt, tăng 1,03%). Công suất sử dụng giường bệnh bình quân toàn tỉnh tính theo giường kế hoạch đạt 134,2% (tuyến tỉnh 132,48%; tuyến huyện đạt 137,1%) và thấp hơn mức 144,34% của cùng kỳ năm 2016.
 - Đến đầu tháng 10/2017, toàn tỉnh có 159/180 xã, bằng 88,3%.phường, thị trấn đạt tiêu chí Quốc gia về y tế giai đoạn 2012- 2017,
            - Chương trình Tiêm chủng mở rộng: Hoạt động tiêm chủng được duy trì thường xuyên, công tác tiêm chủng mở rộng cơ bản an toàn, các huyện, thành, thị đã tổ chức tập huấn triển khai phần mềm tiêm chủng mở rộng. Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ của toàn tỉnh 9 tháng 2017 đạt 64,3%, tương đương cùng kỳ 2016 ( 65,48%). Ước cả năm 2017 đạt trên 95% so với kế hoạch năm. Tỷ lệ trẻ em được tiêm vắc xin viêm gan B sơ sinh tại các bệnh viện đạt 88,6%, tăng so với cùng kỳ năm 2016 (86,4%); tỷ lệ tiêm sởi mũi 2 và DPT mũi 4 có 8 huyện, thành thị đạt trên 70% kế hoạch cả năm.
 - Chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm: Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm được các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh duy trì thường xuyên. Tăng cường công tác truyền thông, kiểm tra công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng ngừa ngộ độc thực phẩm. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 02 vụ ngộ độc thực phẩm nhỏ có 32 người mắc, không có trường hợp nào tử vong. Các ngành đã có những biện pháp chỉ đạo, xử lý cụ thể nhằm hạn chế các vụ việc tương tự xảy rả trên địa bàn.
- Chương trình phòng chống HIV/AIDS: Công tác truyền thông, về phòng chống HIV/AIDS và các hoạt động can thiệp giảm tác hại cũng như hoạt động giám sát được ngành chức năng duy trì thường xuyên, duy trì các điểm điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone và điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con. Tính luỹ tích đến đầu tháng 10/2017, tổng số người nhiễm HIV/AIDS toàn tỉnh là 9.631 người, tăng 1,01% so cùng kỳ 2016, chuyển sang giai đoạn AIDS 6.687 người (tăng 1,02% so cùng kỳ) và 3.395 người đã tử vong do HIV/AIDS, tăng 1,01% so với cùng kỳ năm 2016.
6. Giáo dục, đào tạo
* Giáo dục: Năm  học 2016-2017 công tác phổ cập giáo dục các cấp tiếp tục được duy trì, củng cố. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được đầu tư kịp thời. Các nhiệm vụ chủ yếu của năm học được chỉ đạo, tổ chức thực hiện, triển khai nghiêm túc và đạt kết quả tốt. Các chương trình mục tiêu quốc gia, đề án kiên cố hóa trường lớp và nhà công cụ giáo viên được thực hiện tốt đã tạo nhiều chuyển biến về cơ sở vật chất các nhà trường. Trong năm đã thực hiện dự án xây dựng mới trường THPT Chuyên và dự án cấp bách xóa 33 phòng học tạm ở các huyện Võ Nhai và Đồng Hỷ. Chất lượng giáo dục đại trà, giáo dục mũi nhọn, giáo dục thường xuyên, giáo dục dân tộc được nâng lên. 100% các nhà trường đã tu sửa và chuẩn bị đầy đủ điều kiện về cơ sở vật chất để bước vào năm học mới  2017-2018 theo đúng chỉ đạo của ngành.
- Kết quả xây dựng trường chuẩn quốc gia: Tính đến thời điểm cuối tháng 10/2017 toàn tỉnh có 535/678 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 78,9% vượt 2,9 điểm phần trăm so với kế hoạch (trong kế hoạch Đề án 76%). Mầm non 176/229 trường đạt tỷ lệ 76,85%; Tiểu học 215/228 trường đạt tỷ lệ 94,3%; THCS có 128/189 trường đạt tỷ lệ 67,72%; THPT có 16/32 trường đạt tỷ lệ 50%.
- Kỳ thi THPT quốc gia năm 2017 của tỉnh Thái Nguyên đã được chuẩn bị và tổ chức triển khai chỉ đạo theo đúng hướng dẫn của Bộ GDĐT đảm bảo an toàn nghiêm túc, đúng quy chế. Tổng số học sinh dự thi hệ trung học phổ thông 11.454 thí sinh, số đỗ tốt nghiệp 11.126 thí sinh, đạt tỷ lệ 97,14% (tăng 4,4% so với tỷ lệ 92,7% đỗ tốt nghiệp năm học 2015-2016). Hệ giáo dục thường xuyên 855 thí sinh dự thi, số đỗ tốt nghiệp 758 thí sinh, đạt tỷ lệ 88,7% (tăng 10,2% so với tỷ lệ  78,5% đỗ tốt nghiệp năm học 2015-2016).
Tổng hợp số lượng học sinh đầu năm học 2017-2018 do địa phương quản lý: Ngành học mầm non: Mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh ổn định và phát triển. Học sinh mầm non có 84.063 cháu, tăng 5,7% so với năm trước. Bao gồm: nhóm Nhà trẻ 11.722 cháu, nhóm Mẫu giáo có 72.341 cháu; trong đó, Mẫu giáo 5 tuổi có 27.397 cháu.
Học sinh phổ thông có 203,8 nghìn người, tăng 2,9%. Bao gồm: tiểu học có 103,5 nghìn học sinh (tăng 5,2%), trong đó tuyển mới vào lớp 1 là 22,2 nghìn học sinh, tăng 0,9% so với cùng kỳ. Trung học cơ sở có 65,9 nghìn học sinh (tăng 2,5%), trong đó tuyển mới vào lớp 6 là 17,2 nghìn học sinh tăng 2,4% so năm học trước. Trung học phổ thông có 34,4 nghìn học sinh (giảm 2,55%), trong đó tuyển mới vào lớp 10 là gần 11,6 nghìn học sinh, tương đương cùng kỳ.
Hệ giáo dục thường xuyên trung học phổ thông có 1.766 học sinh, trong đó tuyển mới vào lớp 10 là 518 học sinh, giảm 52% so cùng kỳ.     
* Đào tạo
- Công tác tuyển sinh cao đẳng, đại học năm học 2017-2018: Kế hoạch tuyển sinh 12.538 chỉ tiêu, số tuyển sinh mới là 8.542 người, bằng 68,13% kế hoạch. Trong đó, khoa quốc tế ĐHTN tuyển được 252 sinh viên (vượt 26%); khoa ngoại ngữ 652 sinh viên, bằng 97,31% kế hoạch; trường Y dược 784 sinh viên, đạt 85,4% kế hoạch; Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh tuyển được 1.208 sinh viên, đạt 80,53% kế hoạch, trường Đại học công nghiệp tuyển được 1.705 sinh viên, bằng 86,5% kế hoạch, Đại học nông lâm, Đại học sư phạm, Đại học Công nghệ thông tin tuyển được đạt khoảng 64% - 76% so kế hoạch; còn lại các trường Đại học Khoa học, trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật tuyển sinh chỉ đạt dưới 55%.
- Công tác dạy nghề: Thực hiện công tác chuyển đổi quản lý theo quy định từ ngày 1/3/2017. Đến nay trên địa bàn tỉnh có 61 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong đó có 12 trường cao đẳng (có 09 trường thuộc bộ, ngành Trung ương; 02 trường công lập thuộc tỉnh và 01 trường tư thục), 12 trường trung cấp (có 02 trường thuộc bộ, ngành Trung ương; 03 trường công lập thuộc tỉnh và 07 trường tư thục), 14 trung tâm giáo dục nghề nghiệp (14 cơ sở công lập), 23 cơ sở khác có tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp (trong đó 14 cơ sở công lập, 9 của tư thục).
Công tác tuyển sinh dạy nghề 9 tháng đầu năm 2017 đạt 28,3 nghìn người trong đó hệ cao đẳng tuyển sinh được 3,4 nghìn người, hệ trung cấp 3,3 nghìn người, hệ sơ cấp 8,76 nghìn người, đào tạo nghề thường xuyên là 12,85 nghìn người.
7. Trật tự, an toàn xã hội
Tình hình an ninh trật tự an, toàn xã hội ở địa phương nhìn chung ổn định, có nhiều chuyển biến, ngành chức năng tiếp tục thực hiện đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ quản lý địa bàn, quản lý đối tượng đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội.
- Tình hình trật tự, an toàn giao thông: Ngành chức năng tiếp tục triển khai thực hiện chương trình hành động năm An toàn Quốc gia, tăng cường kiểm tra xử lý vi phạm nồng độ cồn đối với người điều khiển phương tiện giao thông, kiểm tra các cơ sở bốc xếp hàng hóa lên phương tiện giao thông. Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, tính từ 16/9 đến 15/10 năm 2017, xảy ra 23 vụ tai nạn giao thông, làm 8 người chết và 26 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn tăng 1 vụ (+4,55%), số người bị chết tăng 3 người (+60%), số người bị thương tăng 5 người (+23,81%) so với cùng kỳ năm trước. 
Tính chung 10 tháng 2017, trên địa bàn tỉnh xảy ra 135 vụ tai nạn và va chạm giao thông, làm chết 56 người và bị thương 109 người. So với cùng kỳ năm 2016 số vụ tai nạn giảm 9 vụ (-8,65%); số người chết giảm 17 người (-28,81%); người bị thương giảm 11 người (-13,1%). Riêng Thành phố Thái Nguyên xảy ra 52 vụ (chiếm 38,5%), có 11 người chết và 47 người bị thương (so với cùng kỳ số vụ tăng 1, số người chết giảm 1, số người bị thương giảm 8); Thị xã Phổ Yên xảy ra 21 vụ, làm chết 9 người và 8 người bị thương (so với cùng kỳ số vụ giảm 3, số người chết giảm 7 và số người bị thương giảm 11).
 Trong tháng, các cơ quan chức năng đã kiểm tra, lập biên bản và xử lý vi phạm 3,5 nghìn trường hợp; tước 580 giấy phép lái xe; tạm giữ 104 xe ô tô; 535 xe mô tô; 87 phương tiện khác và thu nộp ngân sách 3,3 tỷ đồng.
- Tình hình cháy nổ: Công tác phòng cháy chữa cháy đã được cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra và nhắc nhở nhằm hạn chế các vụ cháy nổ xảy ra. Tính từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 89 vụ cháy, 1 vụ nổ, không có thiệt hại về người. So với cùng kỳ, số vụ cháy năm nay giảm. Nguyên nhân xảy ra các vụ cháy chủ yếu do nhu cầu sử dụng điện tăng mạnh, trong khi hạ tầng truyền tải điện, thiết kế đường dây chưa đáp ứng cùng với việc bất cẩn trong sử dụng nguồn nhiệt, nguồn điện.
- Vi phạm môi trường: Trong 10 tháng đầu năm các ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra và xử lý 45 vụ vi phạm môi trường, nguyên nhân do không có bảng cam kết và không thực hiện nội dung cam kết bảo vệ môi trường. Thu và nộp vào ngân sách nhà nước 1,3 tỷ đồng.
- Tình hình thiệt hại do thiên tai: Tổng hợp và báo cáo kịp thời thiệt hại do mưa, lũ gây ra: Tính chung từ đầu năm đến ngày 30/10/2016 thiên tai đã làm 9 người chết (07 người do lũ cuốn trôi, 02 người do sét đánh); 02 người bị thương (do mưa giông); 13 nhà bị sập hoàn toàn; 02 nhà bị sét đánh gây cháy nhiều đồ đạc, vật dụng gia đình; 1.350 nhà bị tốc mái, sạt lở; 503 nhà bị ngập trên dưới 1m; 12 nhà phải di dời khẩn cấp; gây hư hỏng nhiều vật dụng, thiết bị gia đình; 2898 ha lúa và hoa màu, cây ăn quả bị ngập úng; 8 ha chè; 11,3 ha rừng; 88 ha nuôi thủy sản bị thiệt hại; 7.780 con gia cầm,20 gia súc bị chết và cuốn trôi;2 nghìn con ếch giống và ếch thịt bị chết; 5 cột điện bị đổ, 100m kênh mương, 2.530 m đường giao thông bị sạt lở, làm sạt lở 15,3 nghìn m3 đất đá... Ước thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra khoảng hơn 85 tỷ đồng.
C. ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP
Tình hình kinh tế xã hội năm 2017 chuyển biến tích cực và rõ nét; hầu hết các chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu đạt khá cao so kế hoạch; một số chỉ tiêu quan trọng hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra, góp phần ổn định và nâng cao đời sống, vật chất tinh thần của nhân dân. Bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức; kinh tế của tỉnh tăng trưởng chưa thật sự bền vững; phát triển du lịch - dịch vụ chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh. Trong bối cảnh hiện tại, khu vực đầu tư nước ngoài tăng nhanh đang đồng nghĩa với sự phát triển yếu của khu vực trong nước, trong đó khu vực Nhà nước vẫn tồn tại nhiều bất cập; tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nước trên địa bàn đã phục hồi nhưng chưa cao; xây dựng nông thôn mới ở một số nơi chưa quan tâm đúng mức đến phát triển sản xuất và nâng cao thu nhập của người dân; các yêu cầu về an sinh xã hội như nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân trong các khu công nghiệp, nhu cầu đầu tư cho y tế giáo dục rất lớn, song nguồn vốn để đầu tư còn khó khăn...
Để thực hiện tốt nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên năm 2018 tiếp tục tạo đà phát triển mạnh cho những năm tiếp theo, một số giải pháp đề xuất là:
Tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp, có giải pháp hỗ trợ phát triển doanh nghiệp địa phương tham gia công nghiệp phụ trợ, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh, thực hiện tốt nhóm giải pháp theo chỉ đạo của Chính phủ; tạo quỹ đất để tiếp tục thu hút các nhà đầu tư mới; quan tâm xây dựng nhà ở xã hội và nhà ở cho công nhân tại các khu công nghiệp của tỉnh.
Thực hiện tái cơ cấu ngành Nông nghiệp gắn với chuyển đổi lao động nông thôn và chương trình xây dựng nông thôn mới. Áp dụng và đổi mới công nghệ trong nuôi trồng, chế biến để tăng năng suất và nâng cao chất lượng, nâng cao giá trị xuất khẩu hàng nông sản và đáp ứng yêu cầu chất lượng đối với việc cung cấp thực phẩm cho các khu công nghiệp.
Kiểm soát và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả bộ máy quản lý nhà nước trong thực thi công vụ.
Tăng cường quốc phòng, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn; thực hiện đúng và đủ các chính sách an sinh xã hội./.
  
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây