Tình hình kinh tế - xã hội Quý I năm 2017

Chủ nhật - 25/02/2018 17:14
BÁO CÁO
Tình hình kinh tế xã hội quý I năm 2017 tỉnh Thái Nguyên
 
Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh trong quý I năm 2017 ổn định và đạt được kết quả khá, chỉ số giá tiêu dùng ở mức thấp. Môi trường đầu tư, kinh doanh trên địa bàn tỉnh được cải thiện, chỉ số năng lực cạnh tranh xếp thứ hạng cao. Sản xuất công nghiệp tăng cao hơn so với bình quân chung cả nước; an sinh và phúc lợi xã hội được bảo đảm; trật tự an toàn giao thông được kiểm soát, tai nạn giao thông được kiềm chế và giảm so cùng kỳ; các chính sách xã hội được quan tâm, thực hiện đầy đủ, tạo điều kiện ổn định và cải thiện đời sống dân cư… Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, nền kinh tế trên địa bàn tỉnh không còn tình trạng công nghiệp và xuất khẩu tăng đột biến như những năm trước do sản xuất đã đi vào ổn định; sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng do ngành chăn nuôi gặp khó khăn, hiệu quả thấp, sẽ ảnh hưởng đến kết quả sản xuất nông nghiệp 6 tháng đầu năm trên địa bàn.
A. KINH TẾ
I. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản và xây dựng nông thôn mới
Quý I/2017 sản xuất nông, lâm nghiệp thủy sản trên địa bàn còn gặp nhiều khó khăn. Sản xuất vụ Đông giảm so với cùng kỳ và chỉ đạt 95,8% kế hoạch trong vụ, do trên địa bàn tỉnh số lao động làm nông nghiệp chuyển sang làm việc tại các khu công nghiệp thu nhập cao hơn, cùng với hiệu quả kinh tế cây vụ Đông không cao; sản xuất vụ Xuân trong điều kiện thời tiết ấm nên các địa phương đã chú trọng trong công tác kỹ thuật, khung thời vụ và thủy lợi; khu vực chăn nuôi xảy ra dịch cúm A/H5N1 tại xóm Cây Trôi, xóm Chợ thuộc xã Bình Long, huyện Võ Nhai vào ngày 21/2/2017, đã tiêu hủy 777 con gia cầm, 80 quả trứng; đến nay chưa phát sinh thêm ổ dịch nào. Giá bán sản phẩm chăn nuôi tuy đã tăng hơn so với tháng trước nhưng vẫn ở mức thấp nên ảnh hưởng đến việc tái đàn cho chu kỳ tiếp theo. Chương trình Tết trồng cây được các địa phương đồng loạt triển khai trong dịp đầu xuân; công tác quản lý và bảo vệ rừng được quan tâm; sản lượng lâm sản khai thác tăng so với năm trước do cây trồng đến tuổi khai thác.
1. Trồng trọt:
- Kết quả sản xuất vụ Đông:
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông 2016-2017 đạt 14,9  nghìn ha, giảm 9,1% (-1,5 nghìn ha) so vụ Đông năm trước và chỉ bằng 95,8% so với kế hoạch. Trong đó 2 cây trồng chủ lực là ngô và rau các loại đạt diện tích 11,8 nghìn ha, (chiếm gần 80% tổng diện tích gieo trồng vụ Đông), chỉ có cây rau là đạt kế hoạch và tương đương cùng kỳ. Riêng cây ngô diện tích giảm 1,2 nghìn ha nên sản lượng giảm 3,8 nghìn tấn so với vụ Đông năm trước; còn hầu hết các cây khác như: khoai lang, lạc, thuốc lá... đều có quy mô diện tích gieo trồng nhỏ, giảm so với năm trước và thấp hơn so kế hoạch.
Về năng suất, sản lượng: Do thời tiết vụ Đông năm nay ấp áp, tương đối thuận lợi nên cơ bản đều cho năng suất cao hơn năm trước. Tuy nhiên do giá bán ngô và rau giảm trên 10%, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế nên người dân chưa chú trọng phát triển cây vụ Đông, không mở rộng diện tích nên sản lượng các loại cây trồng đều giảm.
Sản lượng ngô vụ Đông đạt 22,9 nghìn tấn, giảm 14,5% (-3,9 nghìn tấn) so cùng kỳ, bằng 95,4% kế hoạch; Rau các loại đạt 102,9 nghìn tấn bằng 99% kế hoạch và tăng 1,2% cùng kỳ. Khoai lang, sản lượng đạt 17,2 nghìn tấn, bằng 97,6% kế hoạch, giảm 4,7% cùng kỳ. Các cây hàng năm khác như đỗ tương, lạc sản lượng giảm, chỉ đạt trên 60% so cùng kỳ.
Với kết quả vụ Đông năm nay đạt thấp hơn so với năm trước và không hoàn thành mục tiêu kế hoạch đòi hỏi vụ Xuân và vụ mùa phải đạt năng suất và sản lương cao hơn năm trước 2,5 – 3% thì mới hoàn được kế hoạch cả năm đề ra.
- Tiến độ gieo trồng cây hàng năm vụ Xuân:
Vụ xuân năm nay thời tiết ấm, thuận lợi công tác gieo trồng các loại cây trồng, không xảy tình trạng rét đậm như mọi năm nên ngành chức năng chỉ đạo các địa phương điều chỉnh khung thời vụ, trên 98% diện tích lúa đều cấy sau tiết lập xuân, 2% cấy trà lúa xuân chính vụ.
Toàn tỉnh đã gieo cấy được 29,5 nghìn ha lúa Xuân, bằng 102,1% kế hoạch và giảm 3,5% (-1,06 nghìn ha) so với vụ Xuân năm 2016; trong đó diện tích lúa gieo thẳng là khoảng 1,9 nghìn ha (chiến 6,4% tổng diện tích), diện tích gieo cấy giống lúa thuần chất lượng cao đạt khoảng 3 nghìn ha.
Bên cạnh cây lúa, các địa phương đang triển khai để hoàn tất công tác gieo trồng cây màu vụ Xuân. Tính đến cuối tháng 3/2017 tổng diện tích cây màu vụ Xuân trồng được 12,7 nghìn ha, nhanh hơn tiến độ cùng kỳ và bằng 81% kế hoạch trong vụ. Trong đó, cây ngô 5,6 nghìn ha, bằng 73,6% kế hoạch; cây khoai lang 836 ha, bằng 130,6% kế hoạch; cây rau 3,3 nghìn ha, bằng 86% kế hoạch; cây lạc 2,6 nghìn ha, bằng 84,2% kế hoạch; cây đỗ tương 342 ha, bằng 69,8%% kế hoạch...
Tình hình sâu bệnh: hiện nay cây lúa đang trong giai đoạn đẻ nhánh, sâu bệnh gây hại đã phát sinh nhưng chưa ảnh hưởng lớn. Tổng diện tích lúa bị nhiễm sâu bệnh, sinh vật gây hại khoảng 70 ha, trong đó khô vằn 40 ha. Trong thời gian tới, với thời tiết như hiện nay, bệnh đạo ôn, khô vằn tăng trên diện rộng. Sâu cuốn lá, rầy, sâu đục thân gây hại cục bộ, mật độ thấp. Các địa phương cần chủ động theo dõi, phát hiện và phòng trừ kịp thời.
Trong những ngày từ đầu tháng 3 đến nay thời tiết ấm, ẩm độ cao, thiếu ánh sáng, rất thuận lợi cho sâu bệnh phát triển, vì vậy các địa phương phải thường xuyên kiểm tra, thăm đồng để kịp thời phát hiện sau bệnh khi phát sinh.
- Cây lâu năm:
Vụ Đông Xuân năm nay thời tiết ấm, năng suất chè vụ Đông tăng cao hơn so với những năm trước và giá bán sản phẩm cao hơn nhiều so với chè chính vụ, làm tăng cao hiệu quả cây trồng… nên mục tiêu đẩy mạnh sản xuất chè vụ Đông là mục tiêu Thái Nguyên đang hướng tới trong việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh.
Hiện nay thời tiết tương đối thuận lợi, có mưa xuân nên nhìn chung các cây trồng lâu năm đều phát triển tốt. Cây nhãn, vải đang phát triển nụ hoa; cây chè đang phát triển búp.
Đối với công tác trồng mới chè: Các địa phương đang tập trung chuẩn bị mặt bằng đất và chăm sóc vườn ươm giống cây. Có 25 vườn ươm đã cắm hom ươm được khoảng 30 triệu hom chè bằng các giống LDP1, Kim tuyên, Thúy Ngọc... Hiện nay có một số địa phương đã triển khai trồng mới; riêng huyện Định Hóa triển khai thực hiện trồng mới được khoảng 60 ha chè vụ Xuân và đã cấp giống xong trong tháng 01/2017.
2. Chăn nuôi:
Tháng 3/2017, chỉ số giá bán sản phẩm chăn nuôi của người sản xuất tính chung tăng 2,08% so với tháng trước, nhưng giảm 11,9% so với cùng kỳ 2016. Trong đó giá thịt lợn hơi tuy đã tăng 3,15% so tháng trước nhưng vẫn giảm 16,8% so cùng kỳ; thịt gà hơi tăng 1,3% so tháng trước, giảm 7,5% so cùng kỳ (tháng 3/2016). Trong khi đó, giá thức ăn gia súc, gia cầm tháng 3/2017 tăng nhẹ (tăng 0,2%) so tháng trước, nhưng giảm 2,7% so với cùng kỳ. Như vậy, giá bán sản phẩm thịt lợn hơi tháng 3/2017 tuy đã tăng nhẹ so với tháng trước nhưng với giá bán như hiện nay, người chăn nuôi lợn vẫn chưa có lãi nên vẫn hạn chế tái đàn cho chu kỳ sản xuất tiếp theo.
Tình hình dịch bệnh: Cuối tháng 2/2017 trên địa bàn huyện Võ Nhai đã xuất hiện Cúm gia cầm (cúm A/H5N1). Ngành chức năng đã thực hiện các biện pháp khoanh vùng và tiêm phòng dịch đối với các hộ chăn nuôi nơi có dịch.
Tính đến nay trên địa bàn tỉnh không phát sinh ổ dịch mới. Các địa phương đang triển khai tiêm phòng vắc xin đợt I/2017. Kết quả đã cấp cho các Trạm thú y các huyện, thành phố, thị xã như sau: Vacxin Tụ huyết trùng khoảng 55,5 nghìn liều; Vacxin Dịch tả 226 nghìn liều; vacxin tụ dấu 154,4 nghìn liều; vacxin Dại chó 92,2 nghìn liều; vacxin Tai xanh 9,4 nghìn liều, vacxin Lở mồm long móng 73,4 nghìn liều; 4 nghìn lít hóa chất khử trùng, tiêu độc.
Dự ước số lượng đàn gia súc, gia cầm tính đến thời điểm 15/3/2017 như sau: đàn trâu 62 nghìn con, bằng 91,36% so cùng kỳ; đàn bò ước 44,3 nghìn con, tăng 16,58% so cùng kỳ; đàn lợn 638 nghìn con, giảm 3,5% cùng kỳ; đàn gia cầm ước khoảng  10,6 triệu con, trong đó đàn gà khoảng 9,6 triệu con. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 3 tháng đầu năm 2017 ước đạt 46,6 nghìn tấn, giảm khoảng 2% so với cùng kỳ; trong đó sản lượng thịt lợn hơi là 34,2 nghìn tấn, thịt gia cầm xuất chuồng khoảng 10,4 nghìn tấn.
Theo kết quả sơ bộ Tổng điều tra Nông thôn nông nghiệp và thủy sản, tại thời điểm 1/7/2016 trên địa bàn tỉnh có 791 trang trại chăn nuôi (410 trang trại lợn và 346 trang trại gia cầm), trong đó huyện Phú Bình trang trại chăn nuôi là lớn nhất (230 trang trại), tiếp đến là Thành phố Thái Nguyên 206, đứng thứ ba là thị xã Phổ Yên 105 trang trại, thấp nhất là huyện Võ Nhai 10 trang trại và Định Hóa 13 trang trại. 
3. Lâm nghiệp
Công tác trồng rừng: Các địa phương đang tích cực triển khai công tác chuẩn bị như: thẩm định thiết kế trồng rừng, xử lý thực bì, cuốc hố, chuẩn bị cây giống... Ngay từ đầu tháng 3, thời tiết tương đối thuận lợi nên các địa phương đã bắt đầu triển khai trồng rừng. Tính đến cuối tháng 3/2017 diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 240 ha, tương đương với tiến độ cùng kỳ.
Trồng cây phân tán: Các địa phương đồng loạt triển khai Tết trồng cây trong dịp đầu xuân với số lượng khoảng 120 nghìn cây xanh, tương đương 60 ha.
Tình hình khai thác lâm sản: trong quý I năm 2017, dự ước sản lượng gỗ khai thác đạt 29,3 nghìn m3, tăng 2,9% so với cùng kỳ, củi khai thác ước đạt 27,3 nghìn ste. Riêng tháng 3/2017 khai thác ước đạt 6,3 nghìn m3 gỗ các loại, tăng 5% so cùng kỳ, khai thác  củi được khoảng 5,2 nghìn ste.
Công tác quản lý và bảo vệ rừng: Trong quý I/2017 các ngành chức năng đã thực hiện 03 chuyên mục quản lý bảo vệ rừng và tổ chức được 60 lớp tuyên truyền về công tác trồng rừng với 3.486 lượt người tham gia. Tính chung  Quý I/2017 trên địa bàn tỉnh đã phát hiện, xử lý 91 vụ vi phạm quản lý và bảo vệ rừng, giảm 38 vụ (-29,5%) so cùng kỳ; tịch thu 210 m3 gỗ quy tròn các loại, tăng 41% và 13 phương tiện, thu nộp ngân sách nhà nước 560 triệu đồng, giảm 38% so quý I/2016.
4. Tiến độ thực hiện Chương trình MTQG Xây dựng nông thôn mới
Ngành chức năng đang thực hiện các thủ tục về việc tạm ứng xi măng để hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn năm 2017; hoàn thiện phương án phân bổ vốn đầu tư phát triển từ ngân sách Trung ương, ngân sách tỉnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới năm 2017  và hoàn thiện dự thảo báo cáo đề nghị các Bộ, ngành Trung ương thẩm định, trình Chính phủ công nhận thành phố Thái Nguyên và Sông Công hoàn thành nhiệm vụ nông thôn mới.
Năm nay toàn tỉnh có 11 xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới và có phương án vận động các doanh nghiệp cùng chung tay, góp sức giúp đỡ 09 xã xây dựng “Nông thôn mới kiểu mẫu” giai đoạn 2016-2020 và các xã trong kế hoạch phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới các năm 2018-2020.
Tổng hợp chung về Kết quả thực hiện Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới tính đến đầu năm 2017: toàn tỉnh có 56 xã đạt chuẩn NTM (trong đó bao gồm cả 03 xã đã chuyển thành phường, thị trấn). So với thời điểm đầu năm 2016 tăng 16 xã. Còn lại 87 xã chưa đạt, kết quả thực hiện như sau: có 13 xã đạt từ 15 - 18 têu chí; 55 xã đạt từ 10 - 14 tiêu chí và 19 xã đạt từ 7 - 9 tiêu chí.
II. Công nghiệp
Nhìn chung các dự án lớn sản xuất công nghiệp trên địa bàn đã hoàn thiện và đi vào sản xuất ổn định nên mức tăng của công nghiệp trên địa bàn không đột biến như những năm trước. Quý I/2017 sản xuất công nghiệp đạt mức tăng khá cao so với bình quân chung cả nước do mức tiêu thụ sản phẩm công nghiệp chế biến chế tạo tương đối tốt, tăng trên 18% cùng kỳ. Riêng các đơn vị công nghiệp địa phương quản lý sản xuất đạt mức tăng trên 20%.
Dự ước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tháng 3/2017 tăng 23,6% so với tháng trước, tăng 12,9% với cùng kỳ. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 5,8% so với cùng kỳ; công nghiệp chế biến chế tạo tăng 28,5% so với tháng trước, tăng 16,9% so với cùng kỳ; sản xuất và phân phối điện tăng tăng 5,6% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước, quản lý, xử lý rác thải, nước thải tăng tăng 24,2% so với cùng kỳ.
Tính chung Quý I năm 2017, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 12,5% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành cung cấp nước, quản lý, xử lý rác thải, nước thải tăng 17%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 15,4% (trong đó, sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính tăng 19%); ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước tăng 8,7% so với cùng kỳ. Riêng ngành công nghiệp khai khoáng sản xuất giảm 5,1% so với cùng kỳ (do khai thác than giảm 9%; khai thác đá, cát sỏi giảm 20,8%).
Nếu tính theo giá so sánh năm 2010, Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn ước đạt 122,8 nghìn tỷ đồng, bằng 21,82% kế hoạch cả năm. Trong đó, giá trị sản xuất công nghiệp địa phương là 4,6 nghìn tỷ đồng, bằng 23,5% kế hoạch, tăng 28,8% cùng kỳ; công nghiệp nhà nước trung ương 4 nghìn tỷ đồng, bằng 24,12% kế hoạch, tăng 11,7% cùng kỳ; công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 114,2 nghìn tỷ đồng, bằng 21,7% kế hoạch và tăng 11% so cùng kỳ.
Về sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất tháng 3/2017: hầu hết các sản phẩm đều có sản lượng sản xuất tăng cao so với tháng trước. Nhóm sản phẩm tăng trên 10% so với cùng kỳ là:  quặng và tinh quặng ước đạt 12,5 nghìn tấn, tăng 91%; Vonfram và sản phẩm của Vonfram đạt 1,9 nghìn tấn, tăng 77,5%; điện thoại thông minh đạt 9 triệu sản phẩm, tăng 11,9%; máy tính bảng đạt 1,9 triệu sản phẩm, tăng 10,6%; nước máy thương phẩm đạt 2,7 triệu m3, tăng 29,8%; sản phẩm may đạt 5,7 triệu sản phẩm, tăng 24,9%... Nhóm sản phẩm có sản lượng dự tính sản xuất tháng 3/2017 tăng thấp là: điện sản xuất đạt 141 triệu Kwh, tăng 6,8%; điện thương phẩm đạt 308 triệu Kwh, tăng 5,1%; đồng tinh quặng đạt 3 nghìn tấn, tăng 0,6%. Nhóm sản phẩm sản lượng giảm so với cùng kỳ (chủ yếu do tồn kho đến đầu tháng 3/2017 lớn nên các đơn vị chủ động giảm sản lượng). Cụ thể: sắt thép các loại dự ước sản xuất khoảng 100 nghìn tấn, giảm 4,3%; xi măng đạt 256,2 nghìn tấn, giảm 10,8%; đá khai thác đạt 39,7 nghìn m3, giảm 5,7%; than khai thác đạt 103,6 nghìn tấn, giảm 12,7%; phụ tùng khác của xe có động cơ đạt 505 tấn, giảm 12,9%; sản phẩm chịu lửa đạt 1,7 nghìn tấn, giảm 15,3%; gạch xây dựng giảm 30,9%...
Tính chung Quý I năm 2017, nhóm các sản phẩm tăng trên 5% so với cùng kỳ và đạt trên 15% kế hoạch cả năm là: Nhóm sản phẩm điện tử viễn thông ước đạt 28,4 triệu sản phẩm, tăng 8,6% cùng kỳ và bằng 20,5% kế hoạch (trong đó, điện thoại thông minh ước đạt 23,2 triệu sản phẩm, tăng 9,6%; máy tính bảng 5,2 triệu sản phẩm, tăng 4,2%); sản phẩm may 13,6 triệu sản phẩm, tăng 28,5% cùng kỳ và bằng 24,7% kế hoạch; Vonfram và sản phẩm của Vonfram 5,5 nghìn tấn, tăng 51,1% cùng kỳ và bằng 34,3% kế hoạch; điện thương phẩm 940 triệu Kwh, tăng 14,9% cùng kỳ và bằng 17,1% kế hoạch; nước máy thương phẩm 7,7 triệu m3, tăng 21,4% cùng kỳ và bằng 24,9% kế hoạch...
Nhóm các phẩm dự ước sản xuất giảm so với cùng kỳ là: sắt thép các loại 237 nghìn tấn, giảm 8,8% và bằng 21,5% kế hoạch; than khai thác 266 nghìn tấn, giảm 9,1%; điện sản xuất 363 triệu Kwh, giảm 9,7%; gạch xây dựng 25 triệu viên, giảm 11,7% và bằng 12,8% kế hoạch; đồng tinh quặng 8,7 nghìn tấn, giảm 12%; xi măng 545 nghìn tấn, giảm 18,3% và bằng 20,2% kế hoạch; thiết bị và dụng cụ khác trong y khoa 169 triệu sản phẩm, giảm 20%; đá khai thác 101 nghìn m3, giảm 21,9% so với cùng kỳ.
III. Xây dựng - Vốn đầu tư
1. Vốn đầu tư
Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn Quý I/2017 thực hiện ước đạt  6.696 tỷ đồng, tăng 1,1% so với quý I/2016, trong đó, vốn đầu tư của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước thực hiện 2.388 tỷ đồng (chiếm 36% tổng mức đầu tư trên địa bàn), giảm 30,8% so cùng kỳ; vốn đầu tư của khu vực kinh tế trong nước (doanh nghiệp, cá thể và hộ dân cư) đạt trên 4.308 tỷ đồng, tăng 36% so với cùng kỳ.
* Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Tính lũy kế từ đầu năm đến đầu tháng 3/2017, có thêm 03 dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, tổng vốn đăng ký khoảng 8 triệu USD. Các dự án này đều thuộc lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo (sản xuất, lắp ráp linh kiện điện thoại di động, phục vụ cho Tập đoàn Samsung). Đến nay, trên địa bàn tỉnh hiện có 119 dự án FDI, tổng vốn đăng ký khoảng 7,2 tỷ USD (tương đương khoảng 158 nghìn tỷ đồng), vốn giải ngân trên 6,4 tỷ USD.
2. Xây dựng
Giá trị sản xuất xây dựng thực hiện Quý I/2017 do các đơn vị xây dựng thường trú trên địa bàn thực hiện đạt 3.810 tỷ đồng, tăng 2,5% so với so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, khối doanh nghiệp thực hiện 2.255 tỷ đồng, tăng 0,6% cùng kỳ và loại hình xây dựng khác (bao gồm cả cá thể, hộ dân cư, xây dựng xã phường, thị trấn) thực hiện 1.554 tỷ đồng, tăng 5,3% cùng kỳ.
IV. Tài chính, ngân hàng
1. Thu, chi ngân sách
- Thu ngân sách nhà nước: Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hai tháng đầu năm 2017 đạt 2.191,1 tỷ đồng, tăng 0,9% so với cùng kỳ và bằng 24,3% so với dự toán cả năm. Trong đó, thu nội địa đạt 1.820 tỷ đồng, tăng 3,1% so với cùng kỳ và bằng 26,9 so với dự toán; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 370,9 tỷ đồng, giảm 8,8% so với cùng kỳ và bằng 16,5% so với dự toán cả năm 2017.
Trong thu nội địa, có 8 trong tổng số 16 khoản thu tăng trên 20% cùng kỳ, trong đó thuế thu nhập cá nhân đạt 295,6 tỷ đồng, gấp 2,2 lần cùng kỳ và bằng 37% dự toán cả năm; thu từ khu vực sản xuất, dịch vụ ngoài nhà nước đạt 444,3 tỷ đồng (chiếm 24,4%), gấp 2,1 lần so với cùng kỳ và đạt 35,7% dự toán; thu từ doanh nghiệp nhà nước 190 tỷ đồng, tăng 29,4% so cùng kỳ và bằng 20,8% dự toán; thu cấp quyền sử dụng đất 107,3 tỷ, gấp 2,6 lần cùng kỳ, bằng 16,5% dự toán…các khoản thu tăng dưới 5% so cùng kỳ là: thuế bảo vệ môi trường 108,3 tỷ đồng, bằng 21,7% dự toán; lệ phí trước bạ 66,4 tỷ đồng, bằng 19% dự toán. Riêng thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng cao nhất trong thu nội địa, đạt 500,3 tỷ đồng, bằng 31,6% so với dự toán nhưng giảm 46,8% cùng kỳ (giảm chủ yếu từ các dự án đầu tư, xây dựng do nhà thầu nước ngoài thực hiện).
Dự ước quý I/2017, tổng thu ngân sách trong cân đối trên địa bàn khoảng 3.300 tỷ đồng, tăng 0,2% cùng kỳ và bằng 36,6% dự toán cả năm (Quý I/2016 đạt 50,7% dự toán năm và tăng 50,1% cùng kỳ). Trong đó, dự ước thu nội địa là 2.732 tỷ đồng, tăng 2,3% cùng kỳ và bằng 40,4% dự toán. Thu hoạt động xuất nhập khẩu 568 tỷ đồng, giảm 8,7% cùng kỳ và bằng 25,2% dự toán cả năm.
- Chi ngân sách địa phương: Chi cân đối ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh Hai tháng đầu năm 2017 đạt 1.040,6 tỷ đồng, tăng 5,3% so cùng kỳ và bằng 10,2% dự toán cả năm, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 211,7 tỷ đồng (chiếm 20,3% trong tổng chi cân đối ngân sách địa phương), tăng 26,3% so với cùng kỳ và bằng 12,9% dự toán cả năm; chi thường xuyên đạt 828,9 tỷ đồng (chiếm 79,7%) tăng 1% so với cùng kỳ và bằng 11,9% dự toán cả năm. Trong chi thường xuyên, chi sự nghiệp giáo dục đào tạo và dạy nghề 350,9 tỷ đồng tăng 14,3% so với cùng kỳ và bằng 12% so với dự toán cả năm; chi quản lý hành chính 264,7% tỷ đồng, tăng 15% so với cùng kỳ và bằng 18,7% dự toán cả năm. Nhìn chung, chi thường xuyên 2 tháng đầu năm 2017 đã đáp ứng được các yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương, đảm bảo tốt công tác an sinh xã hội trên địa bàn trong dịp Tết Nguyên đán.
2. Ngân hàng:
- Lãi suất: Mặt bằng lãi suất tiếp tục ổn định, phổ biến ở mức 0,8-1%/năm đối với lãi suất huy động tiền gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng, từ 4,5-5,4%/năm đối với kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng, từ 5,4-7,2%/năm đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Lãi suất cho vay VNĐ ở mức 7-9%/năm đối với ngắn hạn, từ 9-11%/năm đối với trung và dài hạn. Đối với nhóm khách hàng tốt, tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch, lãi suất cho vay từ 5-6%/năm. Lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 2,8-6,2%/năm.
- Nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng đến 28/02/2017 đạt 40.892 tỷ đồng, tăng 5,65% so với 31/12/2016 (cao hơn so với mức tăng 3,5% của huy động vốn thời điểm cùng kỳ). Ước đến 31/3/2017 đạt 41.200 tỷ đồng, tăng 6,45% so với 31/12/2016.
- Dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đến 28/02/2017 đạt 40.247 tỷ đồng, tăng 2,07% so với 31/12/2016. Ước đến 31/3/2017 đạt 40.700 tỷ đồng, tăng 3,22% so với 31/12/2016 (cao hơn so với mức tăng 1,22% của thời điểm cuối tháng 3/2016). Riêng dư nợ cho vay ưu đãi đầu tư phát triển ước đến 31/3/2017 đạt 5.000 tỷ đồng, tăng 1,17% so với thời điểm 31/12/2016.
Nợ xấu đến 28/2/2017 là 314 tỷ đồng chiếm 0,78%/tổng dư nợ. Ước đến 31/3/2017 nợ xấu là 310 tỷ đồng, chiếm 0,76%/ tổng dư nợ.
- Cho vay xây dựng nông thôn mới: Hệ thống ngân hàng trên địa bàn tiếp tục cân đối nguồn vốn cho vay xây dựng nông thôn mới, trong đó tập trung vào 11 xã đăng ký xây dựng nông thôn mới năm 2017 và 09 xã nông thôn mới kiểu mẫu giai đoạn 2016-2020.
Dư nợ cho vay đầu tư xây dựng nông thôn mới đến hết tháng 02/2017 đạt 8.280 tỷ đồng tăng 2,29% so với 31/12/2016 chiếm 18,34%/tổng dư nợ toàn địa bàn với 132.080 hộ dân, 142 doanh nghiệp và 12 hợp tác xã còn dư nợ. Doanh số cho vay lũy kế từ đầu năm đạt 737 tỷ đồng, doanh số thu nợ đạt 389 tỷ đồng.
V. Thương mại, giá cả, dịch vụ
1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn tỉnh tháng 3/2017 đạt 1.933 tỷ đồng, tăng 2% so với tháng trước và tăng 8,2% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 113,8 tỷ đồng, tăng 3,9% so với tháng trước; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 1.816,7 tỷ đồng, tăng 1,86% so với tháng trước và tăng 8,8% so với cùng kỳ.
Tính chung Quý I/2017 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước đạt gần 6 nghìn tỷ đồng, tăng 9,8% so với quý I/2016. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 350 tỷ đồng (chiếm 5,9% tổng mức bán lẻ), tăng 1,37%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 5.603,4 tỷ đồng (chiếm 94%), tăng 10,4%. Còn lại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 7,3 tỷ đồng (toàn bộ là từ dịch vụ lưu trú và dịch vụ khác), tăng 12,8% so với cùng kỳ.
Nếu phân theo loại hình kinh tế, ngành thương nghiệp quý I/2017 ước đạt 5.137,7 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 86,2% trong tổng số), tăng 10,4% so cùng kỳ; ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch đạt 447,6 tỷ đồng (chiếm 7,5%), tăng 6,65%; còn lại ngành dịch vụ tiêu dùng khác ước đạt 375,3 tỷ đồng (chiếm 6,2%), tăng 6% so với cùng kỳ.
* Công tác đảm bảo hàng hóa và kiểm tra, kiểm soát thị trường:
Các ngành chức năng tăng cường công tác quản lý, điều hành nhằm bình ổn thị trường, giá cả, đảm bảo trật tự an toàn xã hội trong dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán. Phối hợp với các địa phương thực hiện công tác tuyên truyền, đấu tranh chống buôn lậu, hàng cấm, hàng giả và gian lận thương mại; kiểm tra chấp hành các quy định về đăng ký kinh doanh, việc chấp hành điều kiện kinh doanh và ghi nhãn hàng hóa... Kết quả, tổng số vụ đã kiểm tra và xử lý trong quý I/2017 là 386 vụ, giảm 27 vụ so với cùng kỳ. Tổng số tiền thu phạt hành chính, bán hàng tịch thu, giá trị hàng tiêu huỷ là 1,7 tỷ đồng.
2. Giá tiêu dùng
Do giá các nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống và nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm nên chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2017 giảm 0,12% so với tháng trước, tăng 0,1% so với tháng 12/2016 và tăng 4,81% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân Quý I/2017 tăng 6,26% so với  bình quân cùng kỳ, cao hơn mức tăng 1,36% của bình quân 3 tháng đầu năm 2016.
So với tháng trước có 3/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chỉ số giá tăng như: nhóm Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,29% (do giá ga tăng 1,26%); Nhóm giao thông tăng 0,34% (do giá xăng, dầu tăng 1,01%); nhóm may mặc, giày dép và mũ nón tăng 0,06%. Có 05/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,39% (giá gạo giảm 0,1%, thịt bò giảm 2,29%; thịt gà giảm 1,6%, cá tươi giảm 1,34%); Nhóm thiết bị và đồ dùng giảm 0,14%; Nhóm thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,02%; nhóm văn hóa giải trí và du lịch giảm 0,53%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,46%. Còn lại  3 nhóm  hàng hóa và dịch vụ như nhóm Giáo dục, đồ uống và thuốc lá, hàng hóa và dịch vụ khác tương đương tháng trước.
So với cùng kỳ năm trước (tháng 3/2016), chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2017 tăng 4,81% trong đó có 8/11 nhóm hàng hóa và dịch tăng, nhóm Thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất, tăng 73,84% (do khám chữa bệnh nội trú gấp hơn 2 lần; khám chữa bệnh ngoại trú tăng 22,78%);  có 2 nhóm hàng hóa và dịch tăng trên 10% như nhóm giao thông tăng 13,15% (giá xăng dầu tăng 34,27%); nhóm giáo dục tăng 10,53% (do giá học phí, dịch vụ giáo dục tăng 13,13%); còn lại 5 nhóm hàng hóa và dịch tăng từ 0,22% đến 3,62% như nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,22%; nhóm may mặc, giày dép tăng 0,55%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,48%, nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,81%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 3,62%. Còn lại 03/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ giảm như nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 2,79% (giá thịt lợn giảm 10,2%, giá thịt gà giảm 3,41%; giá thịt chế biễn sẵn giảm 4,12%; giá rau giảm 13,48%); Nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,68% (do giá máy điện thoại di động giảm 3,96%); Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,72% (giá ti vi màu giảm 3,66%; giá hoa, cây cảnh giảm 1,32%).
So với tháng 12/2016, chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2017 tăng 0,1%. Có 4/11 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá tăng hơn so với tháng 12/2016, tăng cao nhất là nhóm giao thông tăng 3,58% (giá xăng, dầu tăng 9,12%); nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,75% (giá nước sinh hoạt tăng 4,58%, nhà ở thuê tăng 3,14%, giá gas tăng 13,02%); Nhóm  đồ uống và thuốc lá, nhóm hàng hóa và dịch vụ khác có chỉ số giá tăng trong khoảng 0,12% đến 0,87%. Nhóm giáo dục có chỉ số tương đương. Còn lại 6/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giảm từ 0,02% đến 1,69%; nhóm giảm nhiều nhất là nhóm hàng hóa và dịch vụ ăn uống giảm 1,69% (giá thịt lợn giảm 7,29%; giá thịt gà giảm 3,44%, giá rau giảm 5,68%).
Chỉ số giá vàng: Chỉ số giá vàng tháng 3/2017 tăng 0,09% so với tháng trước, tăng 2,24% so với tháng 12/2016 và tăng 3,96% so với cùng kỳ năm 2016. Chỉ số giá vàng bình quân quý I/2017 tăng 7,49% so với cùng kỳ.
Chỉ số giá Đô la Mỹ: Chỉ số giá Đô la Mỹ trong tháng 3/2017 tăng 0,55% so với tháng trước, tăng 0,5% so với tháng 12/2016 và tăng 2,15% so với cùng kỳ. Chỉ số giá Đô la Mỹ bình quân quý I/2017 tăng 1,45% so bình quân cùng kỳ.
3. Xuất, nhập khẩu
a, Xuất khẩu
Tổng trị giá hàng hóa xuất khẩu tháng 3/2017 ước đạt 1,73 tỷ USD, tăng 14,2% so tháng trước, tăng 1,1% so với cùng kỳ, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 21,4 triệu USD, tăng 5,8% cùng kỳ; còn lại là do khu vực  có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu (chiếm 98,8% tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn). Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là: điện thoại các loại và linh kiện ước đạt 1,69 tỷ USD, tăng 14,5% tháng trước, tăng 0,7% cùng kỳ; kim loại màu và tinh quặng kim loại màu 21,7 triệu USD, tăng 41,7% so với cùng kỳ năm 2016; chè các loại dự ước xuất được 208 tấn với trị giá 427 nghìn USD, tăng 26,8% về lượng và tăng 53,6% về giá trị; sản phẩm may 14,5  triệu USD, giảm 11,3% so với giá trị xuất khẩu cùng kỳ...
Tính chung Quý I/2017, tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn ước đạt 4,74 tỷ USD, bằng 22,6% kế hoạch cả năm (Quý I/2016 bằng 20,1% kế hoạch) và tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Xuất khẩu do địa phương quản lý 60 triệu USD, bằng 18,8% kế hoạch và tăng 11,8% so với cùng kỳ; xuất khẩu của các đơn vị nhà nước Trung ương đạt 1,2 triệu USD, bằng 12,1% kế hoạch, tăng 20,3% cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu đạt 4,68 tỷ USD, tăng 12,3% so với cùng kỳ và bằng 22,6% kế hoạch cả năm.
Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu Quý I/2017 đều tăng so với cùng kỳ. Tăng cao nhất là nhóm kim loại màu và tinh quặng kim loại màu ước đạt 55,5 triệu USD, tăng 77,2% cùng kỳ và bằng 34,7% kế hoạch; điện thoại các loại và linh kiện 4.626 triệu USD, tăng 11,9% cùng kỳ và bằng 22,6% kế hoạch (bao gồm: điện thoại thông minh 3,1 tỷ USD, tăng 6,5%; máy tính bảng 640 triệu USD, tăng 4,4%; sản phẩm điện tử khác 880,3 triệu USD, tăng 45,8%); chè các loại 1,4 triệu USD, tăng 40%; sản phẩm từ sắt thép 11,5 triệu USD, tăng 2,7%; sản phẩm may đạt 41,4 triệu USD, tăng 0,1% so với cùng kỳ.
Giá trị xuất khẩu trên địa bàn trong quý I/2017 toàn bộ là xuất khẩu theo hình thức trực tiếp. Thị trường xuất khẩu lớn nhất là Châu Âu chiếm tỷ trọng 33% tổng giá trị xuất khẩu, đứng thứ hai là thị trường Châu Á chiếm tỷ trọng 31,4%. Trên thị trường Châu Âu, hàng hóa xuất khẩu tập trung chủ yếu ở khu vực Tây Âu và Đông Âu như: Slô-va-ki-a khoảng 341,8 triệu USD; Đức đạt 190 triệu USD. Trên thị trường Châu Á, hàng hóa xuất khẩu tập trung chủ yếu ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á các nước như: Hàn Quốc 526 triệu USD (chiếm 11% tổng kim ngạch xuất khẩu), Thái Lan 210,6 triệu USD, Indonesia  133 triệu USD. Ngoài ra, Châu Mỹ chiếm 22,7% tổng giá trị xuất khẩu, trong đó nước Mỹ chiếm chủ yếu với 485 triệu USD...
b, Nhập khẩu
Giá trị hàng hóa nhập khẩu trên địa bàn tháng 3 năm 2017 ước đạt 981 triệu USD, giảm 7,5% so với cùng kỳ. Trong đó, mặt hàng nhập khẩu chiếm tỷ trọng chủ yếu là nguyên liệu và linh kiện điện tử với giá trị 947 triệu USD, giảm 3% cùng kỳ; vải các loại và nguyên phụ liệu hàng may mặc 8,5 triệu USD, giảm 5%; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc 3,9 triệu USD, tăng 51,3%, chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 6,4 triệu USD, gấp 6,6 lần so với cùng kỳ (do tăng năng lực sản xuất so cùng kỳ).
Tính chung quý I/2017, giá trị hàng hóa nhập khẩu ước đạt 2,9 tỷ USD, tăng 2,9% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước ước đạt 45,4 triệu USD (chiếm 1,4% tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn), giảm 43,3% so với cùng kỳ (do nhập khẩu phôi thép giảm); khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 2,8 tỷ USD, tăng 4,2% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 98,6% tổng giá trị nhập khẩu.
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu Quý I/2017 ước tính tăng so với cùng kỳ là: chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 14,5 triệu USD, gấp 6,2 lần; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 13,6 triệu USD, gấp gần 3 lần; vải các loại đạt 25 triệu USD, tăng 34,6%; nguyên liệu và linh kiện điện tử 2,76 tỷ USD, tăng 5,4%... Bên cạnh đó các loại mặt hàng nhập khẩu chủ yếu giảm nhiều là: máy móc thiết bị và dụng cụ phụ tùng 24,1 triệu USD, giảm 5,3%; phôi thép 31 nghìn tấn với trị giá 8,4 triệu USD, giảm trên 83% về lượng và giá trị nhập khẩu; nguyên phụ liệu dệt may đạt 3,4 triệu USD, giảm 44,8%...
Nguồn nguyên liệu và hàng hóa nhập khẩu trên địa bàn trong quý I/2017 toàn bộ được nhập khẩu theo hình thức trực tiếp và chủ yếu nhập khẩu từ thị trường Châu Á với 2,78 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 97,1% tổng số); trong đó tập trung chủ yếu ở các nước là Hàn Quốc 1,11 tỷ USD, Trung Quốc đạt 1,1 tỷ USD, Nhật Bản đạt 158 triệu USD.
4. Vận tải
- Vận chuyển hành khách: Số lượt hành khách vận chuyển tháng 3/2017 ước đạt 962 nghìn lượt khách với lượng hành khách luân chuyển là 68,3 triệu hành khách.km; so với tháng trước giảm 8,4% cả về vận chuyển và luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 4,1% về vận chuyển, tăng 3,8% về luân chuyển. Tính chung quý I/2017 số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 3,06 triệu lượt với 217 triệu lượt hành khách.km; so với cùng kỳ tăng 5,7% về số lượng vận chuyển, tăng 5,4% về số lượng luân chuyển. Trong đó, kinh tế ngoài nhà nước đạt 2,9 triệu lượt khách với 196,9 triệu hành khách.km (chiếm 95,2% tổng số), so với cùng kỳ tăng 6,2% về số hành khách vận chuyển và tăng 6,5% số hành khách luân chuyển.
- Vận chuyển hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 3/2017 ước đạt 2 triệu tấn với  71,5 triệu tấn, tăng trên 10% so với tháng trước về khối lượng vận chuyển và luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 4,3% về vận chuyển và tăng 5,8% về luân chuyển hàng hóa. Tính chung quý I/2017, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 5,8 triệu tấn với 210 triệu tấn.km, tăng 3,2% về khối lượng vận chuyển và  tăng 4,4% khối lượng luân chuyển so với cùng kỳ.
Tổng doanh thu vận tải trên địa bàn tháng 3/2017 ước đạt 178,2 tỷ đồng, tăng 5,68% so với tháng trước và tăng 3,8% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 35,1 tỷ đồng, giảm 8,4% so với tháng trước và tăng 4,4% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa là 143,1 tỷ đồng, tăng 9,8% so tháng trước và tăng 3,7% cùng kỳ. Tính chung quý I/2017, tổng doanh thu vận tải trên địa bàn ước đạt 536 tỷ đồng, tăng  3,48% cùng kỳ (doanh thu vận tải hành khách ước tăng 5,8%, doanh thu vận tải hành hóa tăng 2,9%).
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Đời sống dân cư
Do giá tiêu dùng các mặt hàng thiết yếu cơ bản ổn định, sản xuất công nghiệp tăng trên 10%, cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư phát triển, đặc biệt là các xã thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới. Các chính sách hỗ trợ phát triển được triển khai thực hiện góp phần cải thiện đời sống dân cư trên địa bàn từ khu vực thành thị đến nông thôn. Tuy nhiên trong sản xuất nông nghiệp, ngành chăn nuôi gặp khó khăn do giá bán sản phẩm giảm, hiệu quả chăn nuôi thấp, ảnh hưởng đến một bộ phận dân cư trên địa bàn.
2. Tình hình thực hiện chính sách xã hội, giảm nghèo và cứu trợ xã hội
Các ngành, các địa phương, các tổ chức đoàn thể trên địa bàn đã tổ chức triển khai nhiều hoạt động cho các đối tượng chính sách xã hội đón Tết Nguyên đán như: Tổ chức đoàn đại biểu của Tỉnh viếng, dâng hương tại Nghĩa trang liệt sĩ Thái Nguyên - Bắc Kạn thuộc nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn; dâng hương tại Đài tưởng niệm, nghĩa trang liệt sĩ của tỉnh. Tổ chức thăm, tặng quà 5 trung tâm điều dưỡng Người có công ở tỉnh ngoài và 01 trung tâm trong tỉnh. Đi thăm tặng quà các đối tượng thương bệnh binh, gia đình liệt sỹ, người có công tiêu biểu ở các huyện, thành phố, thị xã. Phát động phong trào Tết vì người nghèo; thực hiện việc chuyển quà tặng của Chủ tịch nước, quà tặng của địa phương, các cơ quan, đơn vị nhân dịp Tết Nguyên đán Đinh Dậu, cho các đối tượng: Người có công với cách mạng; bảo trợ xã hội; trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn là 60.624 xuất quà và cứu trợ đột xuất 11.021 nhân khẩu; hỗ trợ 75 nhà ở hộ nghèo. Tổng trị giá trên 21,2 tỷ đồng. Trong đó, thăm và tặng quà cho đối tượng người có công với cách mạng 47.696 suất  quà với tổng số tiền 11,08 tỷ đồng; tặng quà và cứu trợ đột xuất cho các đối tượng bảo trợ xã hội trị giá 6,4 tỷ đồng…
Các cấp, các ngành đã kịp thời quan tâm, san sẻ và chăm lo Tết cho các đối tượng xã hội đặc biệt khó khăn như: Người già cô đơn, trẻ mồ côi, người tàn tật, nạn nhân chất độc màu da cam, địa phương có đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống… để mọi người, mọi nhà đều có Tết.
Quý I/2017 ngành chức năng đã làm thủ tục đề nghị Nhà nước tặng thưởng Huân chương độc lập cho 07 gia đình có nhiều liệt sĩ hi sinh vì độc lập, tự do của tổ quốc, 01 trường hợp truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Kiểm tra rà soát đối với 346 trường hợp còn tồn đọng đề nghị xác nhận liệt sỹ đề nghị cấp Bằng Tổ quốc ghi công và những hồ sơ còn tồn đọng sau chiến tranh...
Quý I năm 2017 thực hiện trợ cấp thường xuyên trên 36.000 đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng và tổ chức thăm hỏi tặng quà mừng thọ, chúc thọ cho người cao tuổi.
Tỉnh Thái Nguyên đã phối hợp với Trung tâm tin tức VTV24, Đài truyền hình Việt Nam xây dựng và thực hiện Chương trình truyền hình trực tiếp “Cặp lá yêu thương” tại tỉnh Thái Nguyên, chương trình  là cầu nối để các nhà hảo tâm hỗ trợ các hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong cuộc sống, góp phần lan tỏa tình yêu thương trong cộng đồng.
Các địa phương rà soát, phân loại, xác định và lập danh sách hộ nghèo theo tiêu chí thu nhập và hộ nghèo thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản dựa vào kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo cuối năm 2016; triển khai hướng dẫn thực hiện cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người dân tộc thiểu số sống ở vùng khó khăn, người sinh sống ở địa bàn đặc biệt khó khăn...
3. Lao động, việc làm và An toàn lao động
Quý I năm 2017 ngành chức năng và các đơn vị đã tổ chức Ngày hội việc làm Xuân Đinh Dậu năm 2017, tham gia ngày hội có 31 đơn vị, doanh nghiệp và các trường nghề trong và ngoài tỉnh; với nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp là hơn 23 nghìn người. Trong ngày hội đã diễn ra các hoạt động tư vấn giới thiệu việc làm, tư vấn học nghề, tuyên truyền chính sách pháp luật về lao động, việc làm, dạy nghề… thu hút được sự tham gia của hơn 2.000 lượt người lao động.
Thực hiện các bước xây dựng kế hoạch triển khai Chương trình quốc gia về An toàn - vệ sinh lao động năm 2017; Kế hoạch tổ chức Tháng hành động về an toàn - vệ sinh lao động lần thứ 1 năm 2017.
4. Hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin tuyên truyền
Quý I/2017 trên địa bàn tỉnh đã diễn ra nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, mừng Đảng, mừng Xuân, tạo nên không khí vui tươi, phấn khởi trong những ngày đầu năm như: các phong trào thi đua yêu nước để lập thành tích chào mừng kỷ niệm 87 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 65 năm Ngày Bác Hồ về ATK Định Hóa, 100 năm khởi nghĩa Thái Nguyên, 20 năm Ngày tái lập tỉnh Thái Nguyên, 86 năm thành lập Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; tổ chức Lễ hội “Hương sắc trà xuân-Vùng chè đặc sản Tân Cương”… vận động nhân dân tiếp tục giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc trong dịp đón Xuân vui Tết cổ truyền, bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan; thực hiện nếp sống văn minh trong hoạt động lễ hội.
Thực hiện xây dựng kế hoạch các hoạt động kỷ niệm 70 năm ngày Trung ương Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh về Thái Nguyên lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; chuẩn bị các công việc phục vụ lễ tôn vinh doanh nhân xuất sắc, doanh nghiệp tiêu biểu…
- Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm: Ngành chức năng và đội kiểm tra liên ngành cấp tỉnh tổ chức kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước tại 9 lễ hội, 05 buổi biểu diễn nghệ thuật,việc thực hiện quảng cáo của 20 tổ chức, cá nhân; 22 cơ sở karaoke, 06 cơ sở lưu trú du lịch… tại các địa phương đã tổ chức kiểm tra các cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hoá, du lịch, nhằm chấn chỉnh kịp thời các hành vi sai phạm, góp phần đưa các cơ sở kinh doanh hoạt động theo đúng quy định.
- Hoạt động bảo tàng: Tổ chức triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu “Hoàng Sa,Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử” tại Lễ hội Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ. Hoàn thành kế hoạch, đề cương, danh mục ảnh triển lãm với chủ đề: “Chủ tịch Hồ Chí Minh từ ATK Thái Nguyên đến Phủ Chủ tịch Hà Nội (1947- 1969); kỷ niệm 70 năm Ngày Trung ương Đảng, Chính phủ, Bác Hồ về ATK Thái Nguyên lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; sưu tầm 60 hiện vật, 20 ảnh phục vụ trưng bày triển lãm…
Hoạt động phát hành phim và chiếu bóng: Thực hiện 259 buổi chiếu phim, trong đó có 05 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị, 254 buổi phục vụ các xã vùng khó khăn, đối tượng chính sách; phục vụ 15.540 lượt người xem.
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật: Tổ chức 21 buổi biểu diễn (06 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị; 11 buổi phục vụ  đối tượng chính sách và các xã đặc biệt khó khăn; biểu diễn doanh thu 04 buổi).
Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở: Thực hiện 52 buổi tuyên truyền tại chỗ và cơ sở. Tổ chức chương trình nghệ thuật mừng Đảng mừng Xuân; biểu diễn văn nghệ phục vụ các lễ hội, ngày kỷ niệm, đón nhận đạt chuẩn Nông thôn mới…
Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, Chung tay xây dựng Nông thôn mới: triển khai thực hiện Kế hoạch truyền thông Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016 - 2020. Thực hiện chuyên mục truyền hình tuyên truyền phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá và nếp sống văn hoá, gia đình; tổ chức tuyên  truyền nhân Ngày Quốc tế hạnh phúc 20/3…
Thể thao thành tích cao: Thành lập đoàn vận động viên tham gia thi đấu các giải toàn quốc (vật cổ điển, vật tự do,taekwondo). Duy trì công tác quản lý, huấn luyện, kiểm tra  việc tập luyện của các đội tuyển; tham gia thi đấu giải thể thao đạt 07 huy chương các loại (02 huy chương Vàng, 03 huy chương Bạc, 02 huy chương Đồng) tại giải vật toàn quốc, đội tuyển vật nữ xếp thứ 2 toàn đoàn.
5. Công tác y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng chống dịch bệnh
- Công tác y tế, phòng chống dịch và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm được ngành chức năng và các địa phương triển khai thực hiện có hiệu quả. Trong 3 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn tỉnh không có dịch bệnh lớn xảy ra. Các bệnh truyền nhiễm như Lỵ, Tiêu chảy, Thủy đậu, Tay chân miệng không có diễn biến gì đặc biệt.
Riêng trong tháng 2/2017, tại xã Bình Long, Võ Nhai  đã xuất hiện gia cầm chết hàng loạt tại nhiều hộ gia đình; qua giám sát, lấy mẫu bệnh phẩm xét nghiệm, có 2 mẫu dương tính với cúm A (H5N1). Ngành chức năng đã kiểm tra, chỉ đạo; phối hợp với địa phương thực hiện các biện pháp bao vây dập dịch, xử lý tiêu hủy số gia cầm bị chết, lập danh sách theo dõi sức khỏe cho những người có nguy cơ mắc bệnh và tuyên truyền, hỗ trợ bà con vệ sinh, khử khuẩn môi trường kịp thời, nên dịch bệnh không lây lan, phát sinh mới.
- Ngộ độc thực phẩm:  Ngày 13/3/2017 xảy ra 1 vụ ngộ độc thực phẩm với 27 người mắc tại xã Ký Phú và xã Bình Thuận huyện Đại Từ sau khi ăn đám cưới, nguyên nhân được xác định do vi sinh vật (độc tố tụ cầu vàng), không có trường hợp tử vong. Ngành chức năng đã có các biện pháp chỉ đạo, xử lý cụ thể nhằm hạn chế các vụ việc tương tự trên địa bàn tỉnh.
- Công tác khám chữa bệnh: Ngành chức năng đã tổ chức kiểm tra, giám sát công tác khám chữa bệnh, công tác dược  tại các các đơn vị y tế trước, trong và sau dịp Tết ; trong các ngày Tết không có dịch bệnh xảy ra, không có ngộ độc thực phẩm hàng loạt, các đơn vị hoàn thành nhiệm vụ khám, cấp cứu cho bệnh nhân và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; tiếp tục triển khai các quy trình khám, chữa bệnh; thực hiện đúng quy chế chuyên môn, thực hành quy tắc ứng xử và nâng cao đạo đức nghề nghiệp.
- Công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình: Năm 2017 là năm thứ hai thực hiện giai đoạn 2 của Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản (2011-2020); triển khai thực hiện cung cấp dịch vụ dân số - kế hoạch hóa gia đình; ngành chức năng phối hợp với các cơ quan, đơn vị thông tấn báo chí đã triển khai các hoạt động và tăng cường công tác tuyên truyền.
Tính từ đầu năm đến đến hết tháng 2/2017, tổng số trẻ em mới sinh là 2.456 trẻ, trong đó có 1.316 trẻ  nam và 1.140 trẻ nữ (tỷ số giới tính khi sinh nam/ nữ là 115,4/100); trong đó có 188 trường hợp sinh con thứ 3 trở lên, chiếm 7,6% tổng số trẻ mới sinh. So với 2 tháng đầu năm 2016, số trẻ em mới sinh giảm 147 trẻ; trường hợp sinh con thứ 3 trở lên giảm 20 trẻ.
- Tình hình lây nhiễm HIV/AIDS: Tính từ ca phát hiện đầu lũy kế đến đầu tháng 3/2017, trên địa bàn tỉnh có 9.540 trường hợp nhiễm HIV/AIDS được phát hiện, chuyển sang giai đoạn AIDS là 6.600 người và số người tử vong do HIV/AIDS là 3.386 người. Riêng 2 tháng đầu năm 2017 có 8 trường hợp nhiễm HIV/AIDS mới được phát hiện, chuyển sang giai đoạn AIDS là 5 người và có 4 người tử vong do HIV/AIDS.
6. Giáo dục phổ thông
- Công tác phổ cập giáo dục: Ngành chức năng duy trì nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở; khắc phục tình trạng quá tải về  trường, lớp, học sinh cấp học mầm non, tiểu học trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016-2020; Triển khai thực hiện đề án xây dựng hệ thống trường  đạt chuẩn quốc gia tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016-2020.
Tổ chức hội nghị hướng dẫn thi Trung học phổ thông quốc gia năm 2017 trong toàn ngành. Tiếp tục chuẩn bị tốt các điều kiện cho kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh cho học sinh lớp 9,10,11 theo kế hoạch.
Kết quả Hội thi giáo viên dạy giỏi cấp trung học cơ sở các môn khoa học tự nhiên và môn thể dục cấp tỉnh năm học 2016-2017: Có 157/198 giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh; 10 giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi xuất sắc cấp tỉnh.
Quý I/2017 đã kiểm tra công nhận mới 4 trường; công nhận lại 3 trường  đạt chuẩn quốc gia. Tính lũy kế đến ngày 20/3/2017, toàn tỉnh có 526/677 trường đạt chuẩn quốc gia (chiếm 77,7%). Trong đó, mầm non có 172/228 trường đạt chuẩn (chiếm 75,43%), tiểu học có 214/227 trường đạt chuẩn (94,27%), trung học cơ sở có 124/189 trường đạt chuẩn (65,61%), trung học phổ thông có 16/33 trường đạt chuẩn (48,48%). Có 19 trường mầm non và 29 trường tiểu học đạt mức độ 2, chiếm tỷ lệ 12,43% số trường mầm non tiểu học đạt chuẩn quốc gia.
7. Tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội
- Tình hình an ninh trật tự Quý I/2017 trên địa bàn cơ bản ổn định, lực lượng an ninh đã tổ chức tăng cường xuống cơ sở, nắm bắt tình hình và triển khai các biện pháp công tác, chủ động phương án đối phó, giải quyết kịp thời các vấn đề có liên quan…
Tình hình an ninh trật tự, an toàn trong dịp Tết: Về cơ bản tình hình an ninh, chính trị trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên dịp Tết Nguyên đán 2017 ổn định. Trước Tết đã kiểm tra, chấn chỉnh 425 cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự trên địa bàn, lập biên bản xử phạt 129 cơ sở vi phạm, thu 360 triệu đồng nộp ngân sách nhà nước. Triển khai Đội đặc công đặc biệt 252 tuần tra 24/24h trên các tuyến đường, trong đó tập trung chủ yếu tại địa bàn thành phố Thái Nguyên, phát hiện và xử lý nhiều trường hợp vi phạm trật tự an toàn giao thông, trật tự công cộng.
Phát hiện một hộ tại huyện Đồng Hỷ tổ chức văn hoá, văn nghệ vui Xuân (có treo phông xanh, chữ vàng bằng tiếng Mông cùng biểu tượng hình mặt trời của tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình, có khoảng 100 người bị ảnh hưởng tham dự).
Tội phạm về trật tự xã hội: Xảy ra 07 vụ, làm chết 01 người, bị thương 05 người, thiệt hại tài sản khoảng 15 triệu đồng (giảm 04 vụ so với dịp Tết Nguyên đán năm 2016). Gồm các loại án: Hiếp dâm trẻ em: 01 vụ; Hiếp dâm: 01 vụ; Trộm cắp tài sản: 01 vụ; Cố ý gây thương tích: 02 vụ; Sử dụng trái phép vật liệu nổ: 02 vụ. Đã điều tra làm rõ 06 vụ. Bắt 01 đối tượng truy nã (Võ Nhai).
Tội phạm về ma tuý: Phát hiện, bắt giữ 04 vụ, 04 đối tượng có hành vi tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy, thu giữ 1,249g Hêrôin, 0,101g hồng phiến, 0,112g ma túy đá và một số vật chứng khác liên quan.
Đánh bạc: Phát hiện bắt giữ 01 vụ, 04 đối tượng (Phú Bình). Thu giữ 6,36 triệu đồng.
Về quản lý, sử dụng pháo: Dịp trước Tết, đã phát hiện, bắt giữ 14 vụ, 25 đối tượng có hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép hàng cấm (pháo nổ), thu giữ 318,2 kg pháo các loại. Trong những ngày Tết Nguyên đán phát hiện 01 vụ, 01 đối tượng có hành vi đốt pháo trái phép trong đêm giao thừa (Đồng Hỷ).
- An toàn giao thông: Ban An toàn giao thông tỉnh đã tổ chức lễ ra quân hưởng ứng năm An toàn giao thông 2017 đến các cơ quan, đơn vị liên quan và đông đảo sinh viên. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giao thông bằng nhiều hình thức, nội dung đến mọi đối tượng; quan tâm tới đối tượng đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa và thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên…
Theo báo cáo của Ban an toàn giao thông tỉnh, trong tháng 3/2017 trên địa bàn xảy ra 12 vụ tai nạn giao thông làm 3 người chết, 19 người bị thương. So với cùng kỳ, số vụ tai nạn giảm 3 vụ, giảm 3 người chết và tăng 4 người bị thương. Trong tháng đã kiểm tra lập biên bản xử lý vi phạm 3.539 trường hợp; tước 342 giấy phép lái xe; tạm giữ 120 xe ô tô, 325 xe mô tô, 68 phương tiện khác; số tiền xử phạt 3,83 tỷ đồng, tăng 0,9 tỷ đồng (+32%) so cùng kỳ.
Tính chung 03 tháng đầu năm 2017, tình hình trật tự an toàn giao thông đường sắt, đường thủy ổn định, không xảy ra tai nạn giao thông. Trên đường bộ, đã xảy ra 39 vụ tai nạn giao thông, làm chết 21 người và bị thương 32 người. So với cùng kỳ năm 2016, số vụ tai nạn giao thông giảm 3 vụ (-,14%); số người chết giảm 05 người (-19,23%); người bị giảm 6 người (-15,8%). Trong đó, huyện Võ Nhai không xảy ra vụ tai nạn giao thông nào; Thành phố Thái Nguyên xảy ra 14 vụ (chiếm 36% tổng số), có 04 người chết (giảm 4 người chết so với cùng kỳ) và 15 người bị thương; Thị xã Phổ Yên xảy ra 06 vụ, làm chết 02 người và 01 người bị thương (tăng 4 vụ và tăng 1 người chết)...
- Công tác phòng, chống tệ nạn xã hội: Tính từ đầu năm đến ngày 15/3/2017 toàn tỉnh đã tổ chức cai nghiện cho 223 người, bằng 14,2% kế hoạch năm; trong đó, cai nghiện tự nguyện tại gia đình 35 người (cai bằng thuốc Cedemex 13 người); cai nghiện tại các Cơ sở cai nghiện là 188 người.
Tổng số học viên đang quản lý tại các cơ sở điều trị nghiện ma túy cấp tỉnh và cấp huyện là 296 người (cơ sở tỉnh: 123 người; cơ sở tự nguyện tỉnh: 2 người; cơ sở TP Thái Nguyên: 83 người; cơ sở huyện Đại Từ: 48 người; cơ sở huyện Phú Lương: 14 người; cơ sở TX Phổ Yên: 7 người và cơ sở huyện Đồng Hỷ: 19 người).
8. Vi phạm môi trường
Tính chung 3 tháng đầu năm 2017, các ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra và xử lý 19 vụ vi phạm môi trường, nguyên nhân do các cơ sở sản xuất kinh doanh không có bảng cam kết bảo vệ môi trường và không thực hiện chương trình giám sát môi trường định kỳ. Tổng số tiền thu và nộp vào ngân sách nhà nước 262,8 triệu đồng.
9.  Phòng chống cháy nổ
Ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra phòng cháy chữa cháy tại các cơ quan đơn vị trên địa bàn toàn tỉnh; qua kiểm tra đã nhắc nhở những thiếu sót trong phòng cháy chữa cháy và lập biên bản xử lý các trường hợp vi phạm nhằm hạn chế các vụ cháy nổ xảy ra.
Trong tháng qua trên địa bàn tỉnh xảy ra 18 vụ cháy,1 vụ nổ; trong đó có 11 vụ cháy xảy ra tại thành phố Thái Nguyên, 2 vụ tại huyện Phổ Yên, 3 vụ tại huyện Phú Lương, 1 vụ tại huyện Đại Từ và 1 vụ tại huyện Phú Bình. 1 vụ nổ xảy ra tại huyện Phú Lương. Ước thiệt hại của các vụ cháy, nổ khoảng 633,4 triệu đồng.    
Tính chung 3 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 31 vụ cháy, 01 vụ nổ, không có thiệt hại về người. Ước tính, tổng trị giá tài sản thiệt hại khoảng 1,83 tỷ đồng. Trong đó xảy ra tại thành phố Thái Nguyên 20 vụ cháy.
10. Thiên tai
Ngày 18/3/2017 trên địa bàn 2 huyện Đại Từ và huyện Đồng Hỷ đã xảy ra mưa kèm gió lốc, làm tốc mái và hư hại nhiều tài sản của người dân ở 6 xã và 1 thị trấn của Huyện Đại Từ và 1 xã ở huyện Đồng Hỷ. Cụ thể, tổng số có 243 nhà bị tốc mái (huyện Đại Từ có 242 nhà, huyện Đồng Hỷ có 1 nhà); gây ảnh hưởng đến 1 trạm y tế, 2 điểm trường mầm non, 1 nhà văn hóa và 1 khu di tích lịch sử; làm đứt dây điện sau trạm biến áp của xóm Chùa xã Khôi Kỳ huyện Đại Từ và 3,1 ha hoa màu, 3 ha lúa bị ảnh hưởng... Tổng ước tính thiệt hại về tài sản khoảng 4,1 tỷ đồng.
Ngay trong ngày 19/3/2017 ngành chức năng đã đi kiểm tra khu vực và các công trình bị thiệt hại nặng, chỉ đạo các địa phương xử lý sự cố, đánh giá thiệt hại, huy động lực lượng tại chỗ, tích cực triển khai giúp các hộ dân khắc phục thiệt hại. Đến sáng ngày 19/3, đường dây điện đã được khắc phục xong; hiện các hộ dân cơ bản ổn định tạm thời sinh hoạt.
Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên tháng 3 và quý I/2017./.
 
 
 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây