Tình hình kinh tế - xã hội tháng 1 năm 2017

Chủ nhật - 25/02/2018 17:09
BÁO CÁO
Rà soát kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu cả năm 2016 và tình hình kinh tế xã hội tháng 01 năm 2017
tỉnh Thái Nguyên
 
 A. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ XÃ HỘI CHỦ YẾU NĂM 2016
Ngày 30/10/2016 Cục Thống kê Thái Nguyên đã có báo cáo dự ước kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội cả năm 2016 trên địa bàn tỉnh. Từ đó đến nay Cục Thống kê tiếp tục rà soát, cập nhật báo cáo của các đơn vị cơ sở đến hết tháng 12 năm 2016; kết quả tổng hợp cho thấy nhìn chung các chỉ tiêu đến nay không thay đổi nhiều so với ước tính ban đầu; đến nay có 5 chỉ tiêu thay đổi so với dự ước kỳ 1 là: Giá trị xuất khẩu trên địa bàn; Thu ngân sách; Một số chỉ tiêu về Nông, lâm nghiệp và thủy sản;Tỷ lệ giảm nghèo; Tạo việc làm tăng thêm cho người lao động có thay đổi theo xu hướng tăng hơn so với ước tính. Cục Thống kê báo cáo đánh giá bổ sung 5 chỉ tiêu kinh tế xã hội tổng hợp cả năm 2016 có thay đổi so với báo cáo kỳ trước như sau:
1. Giá trị xuất khẩu trên địa bàn đạt 19.100,4 triệu USD, bằng 91% kế hoạch, tăng 19,74% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu địa phương là 252 triệu USD, bằng 78,8% kế hoạch, giảm 7,7% so với cùng kỳ.
2. Tổng thu trong cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 9.535 tỷ đồng, bằng 146,7% dự toán, tăng 30,3% với năm 2015; trong đó thu nội địa 7.838,2 tỷ đồng, bằng 160% dự toán đầu năm, tăng 32,9% so với năm 2015; thu hoạt động xuất nhập khẩu 1.696,8 tỷ đồng, bằng 106% dự toán, tăng 19,4% cùng kỳ.
3. Chỉ tiêu về Nông, lâm nghiệp và thủy sản:
Tốc độ tăng giá trị sản xuất ngành Nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2016 so với năm 2015 là 5,4%, vượt mục tiêu kế hoạch (kế hoạch tăng 5%); trong đó ngành trồng trọt tăng 0,5%; ngành chăn nuôi tăng 9,1%.
Giá trị sản phẩm/1 ha đất nông nghiệp trồng trọt năm 2016 đạt 88,2 triệu đồng, bằng chỉ tiêu kế hoạch, tăng 3,4 triệu đồng so với năm 2015.
Sản lượng lương thực có hạt cả năm 2016 đạt 470,9 nghìn tấn (tăng 1,5 nghìn tấn so với dự báo trước) do có số liệu chính thức sản lượng vụ mùa; bằng 108,3% kế hoạch và tăng 0,3% (+1,6 nghìn tấn) so với năm 2015. Trong đó, sản lượng lúa đạt 384,8 tấn và sản lượng ngô đạt 86,1 tấn.
4. Số lao động được tạo việc làm tăng thêm cả năm 2016 đạt 22.089 lao động, bằng 147,3% kế hoạch (trong đó xuất khẩu lao động được 1.633 người, bằng 163,3% kế hoạch).
5. Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh năm 2016 là 11,21%, giảm 2,19% so với năm 2015, vượt chỉ tiêu tiêu kế hoạch.
Ngoài 5 chỉ tiêu có sự thay đổi trên, các chỉ tiêu chủ yếu khác cơ bản vẫn giữ nguyên theo như báo cáo ngày 30/10/2016. Trong thời gian tới, Cục Thống kê tiếp tục cập nhật và số liệu chính thức 2016 sẽ được công bố trong Niên giám thống kê hàng năm của ngành.
B. Tình hình kinh tế xã hội tháng 1/2017
I. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản và thực hiên chương trình Xây dựng Nông thôn mới
1. Trồng trọt
a. Sản xuất vụ Đông
Hiện nay các địa phương bắt đầu thu hoạch đại trà cây trồng vụ Đông, nhìn chung thời tiết vụ Đông năm nay ấm áp, tương đối thuận lợi nên hầu hết các loại cây trồng đều cho sản lượng cao hơn vụ đông năm trước. Tuy nhiên do giá bán sản phẩm cây hàng năm thấp hơn so cùng kỳ, đặc biệt là giá ngô và rau giảm trên 10%, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế nên các hộ nông dân không mở rộng thêm diện tích gieo trồng.
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông 2016-2017 ước đạt 15,1 nghìn ha, bằng 97% kế hoạch nhưng giảm 7,7% so với vụ Đông năm trước ở hầu hết các loại cây trồng. Trong đó, diện tích cây ngô 5,3 nghìn ha, giảm 18,6% so cùng kỳ và bằng 91,8% kế hoạch; cây rau, đậu các loại đạt 6,4 nghìn ha, giảm 2,5% so với cùng kỳ và bằng 98,2% kế hoạch; cây lạc đạt 98 ha, chỉ bằng 62% cùng kỳ và bằng 57,6% kế hoạch;  khoai lang 2,4 nghìn ha, giảm 4,3% so với cùng kỳ, bằng 98,2% kế hoạch; đỗ tương 54 ha, bằng 63,5% kế hoạch.
Tính đến ngày 17/01/2017, diện tích thu hoạch cây hàng năm vụ Đông đạt khoảng 6,6 nghìn ha (chiếm 44% tổng diện tích gieo trồng), bằng 91,6%  cùng kỳ. Trong đó, cây ngô thu hoạch khoảng 2 nghìn ha; cây rau các loại thu hoạch khoảng 3,4 nghìn ha; cây khoai lang đạt 1.200 ha; cây lạc đạt 50 ha…
Năm 2017 tỉnh Thái Nguyên tiếp tục duy trì chính sách hỗ trợ phát triển cây hàng năm như hỗ trợ giá giống, diện tích lúa, ngô cao sản, lúa thuần, hỗ trợ phát triển cây chè, chăn nuôi, thủy sản...Riêng đối với cây vụ Đông, tỉnh Thái Nguyên có chính sách hỗ trợ khuyến khích phát triển diện tích gieo trồng, tuy nhiên, hiệu quả cây trồng hàng năm vụ Đông không cao nên người nông dân chưa chú trọng để phát triển.
b. Chuẩn bị sản xuất vụ Xuân 2017
Kế hoạch diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Xuân năm 2017 toàn tỉnh là 47,96 nghìn ha. Trong đó, cây lúa 29 nghìn ha; cây ngô 7,7 nghìn ha và cây rau màu hàng năm khác 11,26 nghìn ha. So với kế hoạch vụ Xuân 2016, diện tích gieo trồng giảm 1,26 nghìn ha, trong đó, cây lúa tương đương năm trước, cây ngô giảm 0,2 nghìn ha và cây rau màu hàng năm khác giảm 1,16 nghìn ha.
Hiện nay các địa phương đang tích cực chuẩn bị công tác sản xuất Vụ Xuân. Tính đến ngày 17/01/2017 diện tích đất đã cày ải phục vụ gieo trồng lúa đạt 70% diện tích và một số địa phương đang triển khai gieo cấy lúa.
c. Cây lâu năm
Kế hoạch năm 2017, tỉnh Thái Nguyên dự kiến cây chè trồng mới và trồng thay thế 1.000 ha. Bao gồm, chè trồng mới 214 ha và trồng thay thế là 786 ha.
Hiện nay thời tiết ấm áp, có mưa, đủ độ ẩm nên cây chè được đốn cành sẽ cho búp trong vụ Xuân; nhiều vùng chè được tưới nước nên kéo dài thời gian thu hoạch, năng suất ổn định, giá bán cao hơn.
2. Chăn nuôi
Hiện nay đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh phát triển ổn định, không có dịch bệnh xảy ra. Các ngành chức năng và các địa phương chỉ đạo hộ nông dân thực hiện phòng chống rét, dịch bệnh trong chăn nuôi, tăng cường kiểm soát việc vận chuyển gia súc, gia cầm.
Thời gian gần đây giá bán các sản phẩm chăn nuôi có xu hướng ngày một giảm, đặc biệt thời điểm Tết Nguyên đán đang cận kề, người chăn nuôi đang gặp khó khăn. Chỉ số giá bán sản phẩm từ chăn nuôi tháng 1/2017 giảm 7,7% so với tháng trước và giảm 12% so với cùng kỳ (tháng 1/2016). Trong đó thịt lợn hơi giảm 17% so tháng trước, giảm 18% cùng kỳ; thịt gà hơi tăng 4,6% so với tháng trước nhưng giảm 6,12% cùng kỳ. Giá thức ăn gia súc, gia cầm tháng 1/2017 giảm 0,74% so tháng trước, giảm 3% so với cùng kỳ.
Với giá bán sản phẩm chăn nuôi như hiện nay, người nông dân đang bị lỗ, như vậy rất khó khăn trong việc tái đàn cho chu kỳ sản xuất tiếp theo.
3. Lâm nghiệp
Theo kế hoạch diện tích rừng trồng mới tập trung năm 2017 do địa phương quản lý là 3.990 ha. Bao gồm, diện tích trồng rừng tập trung là 3.890 ha; trồng rừng thay thế là 100 ha. Ngoài ra trồng cây phân tán 500 nghìn cây... đảm bảo tỷ lệ che phủ rừng toàn tỉnh là trên 50%.
Hiện nay các địa phương đang chuẩn bị công tác thiết kế diện tích trồng rừng, xử lý thực bì; ươm, chăm sóc cây con giống phục vụ cho công tác trồng rừng năm 2017. Ngoài ra, các địa phương đang tích cực chuẩn bị cho tết trồng cây nhân dịp đầu xuân Đinh Dậu.
4. Thủy sản
Năm 2017 kế hoạch diện tích nuôi trồng thủy sản trên địa bàn toản tỉnh là 6.000 ha với sản lượng thủy sản là 10.500 tấn. Sản xuất, cung ứng giống thủy sản khoảng 500 triệu cá bột và 55 triệu cá giống các loại.
Hiện nay các địa phương đang thu hoạch vụ cá cuối năm và chuẩn bị nạo vét, vệ sinh ao hồ thả cá vụ mới; tuy nhiên giá bán sản phẩm thủy sản nước ngọt tháng 01/2017 giảm 5% so với tháng trước, giảm 17,7% so cùng kỳ, ảnh hưởng đến hiệu quả người chăn nuôi.
5. Thực hiên chương trình Xây dựng Nông thôn mới
- Xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu: Xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn tiếp tục là phong trào sâu rộng, phát huy hiệu quả và là động lực chính thúc đẩy các nội dung khác trong xây dựng Nông thôn mới. Từ nguồn vốn Trung ương phân bổ, ngân sách tỉnh (kinh phí, xi măng), lồng ghép với vốn các chương mục tiêu, ngân sách huyện, xã, hỗ trợ của các doanh nghiệp, tổ chức và đóng góp của nhân dân, đã đầu tư xây dựng được: 660,6 km đường giao thông (xây mới: 412,6 km; cải tạo, nâng cấp: 248 km), 47,39 km kênh mương thủy lợi, 32 trạm điện, 122 công trình trường lớp học, 7 trạm y tế xã, 25 trụ sở xã, 49 nhà văn hóa và khu thể thao xã, 298 nhà văn hóa xóm, 11 chợ nông thôn, 105 điểm thu gom rác và một số công trình khác.
- Kết quả thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia xây dựng Nông thôn mới : Tỉnh Thái Nguyên đã có Quyết định công nhận 16 xã đạt chuẩn Nông thôn mới trong năm 2016, vượt 01 xã so với kế hoạch; lũy kế đến hết năm 2016, toàn tỉnh có 56 xã đạt chuẩn Nông thôn mới (trong đó bao gồm 03 xã đã chuyển thành phường, thị trấn). Bình quân số tiêu chí toàn tỉnh đến tháng 12/2016 đạt 14,44 tiêu chí/xã.
- Số xã đạt từ 15 - 18 têu chí: 13 xã.
- Số xã đạt từ 10 - 14 tiêu chí: 55 xã.
- Số xã đạt từ 7 - 9 tiêu chí: 19 xã. ([1])
Riêng đối với 10 xã đăng ký đạt chuẩn năm 2016: Có 03 xã đạt 16 tiêu chí; 01 xã đạt 15 tiêu chí; 05 xã đạt 14 tiêu chí và 02 xã đạt 13 tiêu chí.
Năm 2017, Thái Nguyên có 10 xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới; ngoài ra, năm nay, toàn tỉnh dự kiến có 9 xã đăng ký xây dựng xã nông thôn kiểu mới trong giai đoạn 2016-2020; nhằm hỗ trợ các xã này hoàn thành toàn bộ 19/19 tiêu chí Nông thôn mới, tỉnh Thái Nguyên đã chỉ đạo các cấp, ngành lồng ghép nhiều nguồn vốn, ưu tiên bố trí kinh phí hỗ trợ các xã. Ngành chức năng liên quan quan đang hướng dẫn những xã này xây dựng kế hoạch chi tiết triển khai thực hiện việc nâng cao chất lượng các tiêu chí Nông thôn mới, trọng tâm là tiêu chí về tổ chức sản xuất, môi trường và an toàn thực phẩm.
II. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp tháng 12/2016 tăng 45,2% so với tháng trước và tăng 53% so cùng kỳ, trong đó sắt thép tiêu thụ tăng 75%; xi măng tiêu thụ tăng 20%; bê tông và các sản phẩm từ xi măng tăng 26,6% so với tháng trước... nhưng do sản lượng sản xuất tăng cao để phục vụ nhu cầu cuối năm nên chỉ số tồn kho của các sản phẩm công nghiệp tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 18,7% so với cùng kỳ. Tính đến đầu tháng 1/2017 sắt thép tồn kho 71,7 nghìn tấn (tăng 33,5% so cùng kỳ); xi măng tồn kho 100 nghìn tấn (tăng 66,9% so cùng kỳ); sản phẩm may tồn kho 6 triệu sản phẩm; điện thoại thông minh tồn kho 885 nghìn chiếc; máy tính bảng tồn kho 31,5 nghìn sản phẩm, tăng cao hơn so với tháng trước và cùng kỳ.
Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 1/2017 giảm 2% so với tháng trước (chủ yếu giảm ở ngành khai thác và ngành chế biến chế tạo), nhưng so với cùng kỳ chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 13,6%. Trong đó, sản xuất phân phối điện tăng 20,9%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 12,6%; ngành cung cấp nước và hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,2%; riêng ngành khai khoáng giảm 0,4% (do ngành khai thác than và khai thác đá, cát sỏi giảm).
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất trong tháng 1/2017: do vào tháng Tết nên nhìn chung các nhóm sản phẩm công nghiệp chủ yếu đều có sản lượng giảm so với tháng trước. Tuy nhiên so với cùng kỳ thì cơ bản vẫn đạt mức tăng trên trên 9% như: điện thương phẩm đạt 330 triệu Kwh, tăng 29,4%; sắt thép các loại đạt 82,2 nghìn tấn, tăng 18,3%; nước máy thương phẩm đạt 2,5 triệu m3, tăng 17,9%; gạch xây dựng đạt 9 triệu viên, tăng 10,7%; Vonfram và sản phẩm của Vonfram đạt 1,5 nghìn tấn, tăng 10,2%; điện thoại thông minh đạt 7,8 triệu sản phẩm, tăng 9,2%... Nhóm sản phẩm ước tính tăng thấp hoặc giảm hơn so với cùng kỳ là: than khai thác đạt 102,4 nghìn tấn, giảm 0,1%; công cụ các loại đạt 1,4 triệu sản phẩm, giảm 2,3%; sản phẩm may đạt 4,3 triệu sản phẩm, giảm 4,1%; xi măng giảm 7,3%; thiết bị dụng cụ y khoa giảm 7,9%; đá khai thác giảm 10,9%; máy tính bảng giảm 17,5%; đồng tinh quặng (Cu>20%) giảm 26,4%; sản phẩm chịu lửa đạt 1,4 nghìn tấn, tăng 6,6%…
III. Thương mại, giá cả và dịch vụ
1. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội
Tháng 1 năm nay trùng với Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017, do vậy nhu cầu mua sắm của dân cư tăng. Để đảm bảo cung cầu hàng hoá, ổn định thị trường, các cơ sở sản xuất kinh doanh và các doanh nghiệp thương mại chủ động chuẩn bị  nguồn hàng phong phú về mẫu mã và chủng loại, đáp ứng tốt cho nhu cầu mua sắm trong dịp tết. Bên cạnh đó trên địa bàn tỉnh tố chức Hội chợ xuân Thái Nguyên 2017, với chủ đề “Mừng Đảng, đón xuân - Giao thương mua sắm” với hơn 200 gian hàng, nhằm đẩy mạnh giao lưu kinh tế, văn hóa, tạo môi trường xúc tiến thương mại, góp phần bình ổn giá cũng như phục vụ nhu cầu mua sắm nhân dịp Tết Nguyên đán của nhân dân.
Nhằm đảm bảo cân đối cung cầu, bình ổn thị trường cuối năm 2016 và dịp trước, trong và sau Tết Đinh Dậu 2017, các ngành chức năng tăng cường thực hiện kế hoạch bình ổn thị trường trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và kế hoạch của Ban chỉ đạo 389 của tỉnh về kế hoạch cao điểm đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả. Thực hiện kiểm tra, kiểm soát hàng hóa lưu thông trên thị trường, để kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các đại lý, cửa hàng kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, hạn chế tình trạng hàng giả, kém chất lượng, hàng lậu xâm nhập vào thị trường nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa tiêu dùng và doanh thu dịch vụ tháng 01/2017 đạt 2.076 tỷ đồng, tăng 7% so với tháng trước và tăng 13,1% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, kinh tế Nhà nước đạt 120,5 tỷ đồng (chiếm 5,8% tổng mức bán lẻ), tăng 1,7% so với tháng trước và tăng 1,5% so với cùng kỳ; kinh tế ngoài nhà nước đạt 1.952,8 tỷ đồng, tăng 7,3% so với tháng trước và tăng 14% so cùng kỳ (trong đó kinh tế cá thể đạt 1.337,1 tỷ đồng chiếm thị phần lớn nhất trên địa bàn với mức 64,4%), tăng 9,3% so với tháng trước và tăng 16,5% cùng kỳ; còn lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, tăng 2% so với tháng trước, tăng 6% so cùng kỳ.
Những mặt hàng có sức mua tăng so với tháng trước tập trung vào các nhóm như: nhóm hàng lương thực, thực phẩm doanh thu tăng 16%; hàng may mặc, tăng 5,4%; đồ dùng dụng cụ trang thiết bị gia đình, tăng 7,5%; ô tô các loại, tăng 6,1%...
Phân theo ngành hoạt động, ngành thương nghiệp có tỷ trọng lớn nhất (chiếm 85,9% tổng số), ước tính doanh thu đạt 1.783,5 tỷ đồng, tăng 7,7% so với tháng trước, tăng 14,4% so cùng kỳ; ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 157,4 tỷ đồng (chiếm 7,6%), tăng 3,8% so với tháng trước và tăng 6,3% so với cùng kỳ; ngành du lịch lữ hành 1 tỷ đồng, tăng 3,5% so cùng kỳ; nhóm ngành dịch vụ tiêu dùng còn lại 134 tỷ đồng, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm 2016.
2. Xuất, nhập khẩu
a. Xuất khẩu
Giá trị xuất khẩu hàng hóa tháng 01/2017 ước đạt 1.558 triệu USD, tăng 21,9% so với cùng kỳ nhưng giảm 1,3% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu ước đạt 16,6 triệu USD, giảm 6,6% so với tháng trước, giảm 21% so với cùng kỳ (chủ yếu giảm ở hàng may mặc và quặng kim loại mầu). Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1.541 triệu USD (chiếm tỷ trọng 98,9% tổng giá trị xuất khẩu toàn tỉnh), tăng 22,6% so với cùng kỳ năm trước.
Nhóm hàng xuất khẩu có mức tăng cao so với cùng kỳ là: linh kiện điện tử và phụ tùng khác ước đạt 323 triệu USD, tăng 86,4%; kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 16,7 triệu USD, tăng 75,6%; điện thoại thông minh đạt 1.008 triệu USD, tăng 22,1%; giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 7,5%; chè các loại đạt 308 tấn, tăng 7,3% so với cùng kỳ. Nhóm sản phẩm có giá trị xuất khẩu đạt thấp và giảm so với cùng kỳ là: sản phẩm từ sắt thép ước đạt 4 triệu USD, giảm 0,2%; sản phẩm may đạt 8,9 triệu USD, giảm 17,2%; máy tính bảng đạt 194 triệu USD, giảm 23,1% so với cùng kỳ.
b. Nhập khẩu
Giá trị nhập khẩu tháng 01/2017 trên địa bàn ước đạt 949 triệu USD, tăng 15% so với cùng kỳ, nhưng giảm 17,4% so với tháng trước. Khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 12,3 triệu USD, bằng 28,3% so với cùng kỳ (chủ yếu do nhập khẩu sắt thép giảm); Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 937 triệu USD, tăng 19,8% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 97,7% tổng giá trị nhập khẩu.
Nhóm mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tháng 1/2017 là linh kiện điện tử (phục vụ cho lắp ráp điện thoại thông minh và máy tính bảng) ước đạt 927 triệu USD (chiếm tỷ trọng 91,6% tổng giá trị nhập khẩu), tăng 20% so với cùng kỳ nhưng giảm 17,8% so với tháng trước; vải và phụ liệu hàng may mặc ước đạt 11,3 triệu USD, tăng 77,6% cùng kỳ; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 2,6 triệu USD, tăng 48,2%... Nhóm hàng có giá trị nhập khẩu giảm so với cùng kỳ là chất dẻo (plastic) giảm 31,5%; phế liệu sắt thép giảm 42,9%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng, bằng 27,3% so với cùng kỳ năm trước; sắt thép các loại đạt 0,3 triệu USD, chỉ bằng 1% cùng kỳ...
3. Chỉ số giá tiêu dùng
Tuy tháng 1/2017 trùng với dịp Tết Nguyên đán, nhưng do nguồn hàng hóa dồi dào, các ngành chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát nên không xảy ra tình trạng tăng giá đột biến. Tính chung chỉ số giá tháng 1/2017 chỉ tăng 0,09% so với tháng trước (chủ yếu do giá thịt lợn giảm) và tăng 7,16% so với cùng kỳ.
Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có 5 nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng hơn so với tháng trước. Tăng cao nhất là nhóm giao thông tăng 3,06% (do giá xăng, dầu diezen tăng 6,53%; giá vé tàu hỏa tăng 6,57%; giá xe máy tăng 2,23%); nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,71% (giá gas tăng 3,86%; giá nhà ở thuê và nhà chủ sở hữu tính quy đổi tăng 2,73%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 1,79%) nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,90% (giá bia các loại tăng 1,18%; giá rượu các loại tăng 1,07%; thuốc hút tăng 0,93%); nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,83% (giá dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 3,97%; giá đồ dùng cá nhân giảm 0,03%); nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,12% (giá hàng thủy tinh, sành, sứ tăng 3,36%)... Nhóm thuốc và dịch vụ y tế, nhóm bưu chính viễn thông và nhóm giáo dục có chỉ số giá tương đương so với tháng trước. Có 3 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giảm là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,48% (giá lương thực tăng 0,89%; giá thực phẩm giảm 2,17%); nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,18% (trong đó giá hoa, cây cảnh, vật cảnh tăng 3,93%; giá tivi giảm 1,89%); giá may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,08% (giá quần áo may sẵn giảm 0,11%) so với tháng trước.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 1/2017 tăng 7,16% so với cùng kỳ. Có 3 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có chỉ số giá giảm là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,24%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,22%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,07%. Có 8 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có chỉ số giá tăng, trong đó tăng cao nhất là nhóm thuốc và dịch vu y tế tăng gấp 2,6 lần; nhóm giáo dục tăng 10,53%; nhóm giao thông tăng 4,97%. Còn lại các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng trong khoảng từ 0,9 đến 2,23%.
Chỉ số giá vàng: giá vàng trong tháng 1/2017 có chiều hướng giảm. Chỉ số giá vàng tháng 1/2017 giảm 0,84% so với tháng trước và giảm tăng 9,92% so với cùng kỳ.
Chỉ số giá Đô la Mỹ: Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 1/2017 bằng 99,85% so với tháng trước, nhưng tăng 0,82% so với cùng kỳ.
4. Giao thông - Vận tải
Nhằm đảm bảo lưu thông thông suốt, an toàn; ngành chức năng phối hợp với các địa phương xây dựng, thực hiện các phương án ngăn ngừa tình trạng ùn tắc giao thông; kiểm tra thực hiện kê khai giá cước, niêm yết giá cước vận tải, vé xe theo quy định; phối hợp với các doanh nghiệp kinh doanh vận tại có biện pháp tổ chức vận chuyển, điều động, tăng cường phương tiện và kiểm tra, kiểm soát chất lượng, an toàn kỹ thuật các phương tiện tham gia giao thông.
Vận tải hành khách: Số lượt hành khách vận chuyển tháng 01/2017 ước đạt 1,2 triệu lượt hành khách với số lượng luân chuyển là 78,7 triệu lượt khách.km, so với tháng trước tăng trên 10% về cả số khách vận chuyển và số hành khách luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 12,8% về số khách vận chuyển và tăng 12% về số hành khách luân chuyển. Trong đó, khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước ước khoảng 1,2 triệu lượt hành khách (chiếm tỷ trọng 96,2% tổng số lượng vận chuyển), với 72,1 triệu lượt khách.km, so với cùng kỳ tăng đều tăng trên 13%về số lượt vận chuyển và số lượng hành khách luân chuyển; còn lại khối doanh nghiệp nhà nước vẫn duy trì được số hành khách vận chuyển và số hành khách luân chuyển so với tháng trước và cùng kỳ.
Vận chuyển hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 01/2017 ước đạt 2,1 triệu tấn với khối lượng luân chuyển 75,5 triệu tấn.km; tăng 1,1% so với tháng trước và tăng khoảng 6% so với cùng kỳ về khối lượng vận chuyển và khối lượng luân chuyển. Trong đó, khối doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 2,1 triệu tấn (chiếm 99,9% tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển); Còn lại khối doanh nghiệp nhà nước, khối lượng vận chuyển hàng hóa và khối lượng luân chuyển bằng 93% so với cùng kỳ.
Doanh thu vận tải trên địa bàn tháng 01/2017 ước đạt 197 tỷ đồng, tăng 2,9% so với tháng trước và tăng 7,1% so cùng kỳ, trong đó, vận tải hàng hóa là 157 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 79,6% tổng doanh thu vận tải), tăng 5,8% so với cùng kỳ và tăng 1,1% so với tháng trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 40,1 tỷ đồng, tăng 10,4% so với tháng trước và tăng 12,6% so với cùng kỳ.
IV. Một số vấn đề xã hội
1. Đời sống dân cư và các hoạt động xã hội
Tình hình Kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2016 chuyển biến tích cực, tăng trưởng kinh tế cao, giá cả hàng hóa tiêu dùng nhìn chung ổn định, là yếu tố thuận lợi cho việc giảm chi phí đầu vào, phát triển sản xuất và kích thích tiêu dùng, đời sống dân cư đã được cải thiện, không xảy ra tình trạng thiếu đói trong nông dân.
Các địa phương đã và đang xây dựng, triển khai các chương trình xây dựng nông thôn mới, có kế hoạch giảm nghèo ở các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, tổ chức các lớp tập huấn nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, cho vay vốn xóa đói giảm nghèo; Thực hiện hiệu quả các chính sách hỗ trợ về dạy nghề, việc làm, giáo dục, y tế, tín dụng, nhà ở; mở rộng các hoạt động nhân đạo, từ thiện; trợ cấp và trợ giúp xã hội cho người nghèo, đặc biệt là nhóm người nghèo có khó khăn, rủi ro…đã góp phần đảm bảo đời sống nhân dân, do đó tình trạng thiếu đói trên địa bàn tỉnh không xảy ra. Tính đến hết năm 2016, toàn tỉnh đã có 56 xã được công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới. Hoàn thành dự án "cấp điện cho các hộ nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa” khu vực xã Văn Lăng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
Nhân dịp Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017, các Ban ngành, đoàn thể và các địa phương, các đơn vị trên địa bàn đã tổ chức đi thăm hỏi, tặng quà người có công với cách mạng, người thuộc đối tượng chính sách, người già neo đơn, người thuộc hộ nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn; Tổ chức lễ viếng, đặt vòng hoa tại nhà tưởng niệm, nghĩa trang liệt sỹ. Thực hiện kịp thời đầy đủ các chế độ, chính sách theo quy định để mọi người đều no đủ, vui xuân đón Tết. Tổ chức gặp mặt chúc Tết người Việt Nam ở nước ngoài về thăm quê hương và các tổ chức, cá nhân người nước ngoài đang sinh sống làm việc tại Thái Nguyên nhân dịp Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017. Tổ chức chương trình Tết sum vầy năm 2017 tại địa phương có nhiều người lao động tại các khu công nghiệp…
2. Văn hóa, thông tin
Trên địa bàn tỉnh đã có kế hoạch tổ chức nhiều các hoạt động tuyên truyền, biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, triển lãm, thể thao mừng Đảng, mừng xuân, chào mừng các ngày lễ, kỷ niệm, chào mừng kỷ niệm 87 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2017), mừng xuân Đinh Dậu - Tết Nguyên đán 2017 và phục vụ nhu cầu tham quan, vui chơi giải trí. Các hoạt động được tổ chức bằng nhiều hình thức phù hợp, thiết thực, an toàn, tiết kiệm, tạo được không khí vui tươi, phấn khởi cho nhân dân đón tết. Nội dung ca ngợi Đảng, Bác Hồ, quê hương, đất nước, ca ngợi truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc; vận động nhân dân tiếp tục giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong dịp đón Xuân vui tết cổ truyền, thực hiện nếp sống văn minh trong hoạt động lễ hội.
Các địa phương đã tổ chức tổng kết phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá năm 2016, triển khai nhiệm vụ năm 2017. Năm 2016, toàn tỉnh có 291,4/308 nghìn hộ gia đình đạt 94,5%  gia đình văn hoá; 2.918/3.032 đạt 96,2% làng, bản, tổ dân phố đạt văn hoá; 1.617/1.636 đạt 98,8% cơ quan đạt danh hiệu cơ quan văn hoá. Phong trào tiếp tục được triển khai và nhân rộng khắp các địa bàn dân cư trong tỉnh, được các cấp, các ngành và nhân dân hưởng ứng nhiệt tình.
Công tác thanh tra, kiểm tra:  Ngành chức năng tiếp tục triển khai công tác thanh, kiểm tra hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch, lễ hội, các cơ sở karaoke... Nhằm chấn chỉnh kịp thời các hành vi sai phạm, góp phần đưa các cơ sở kinh doanh hoạt động theo đúng quy định. 
Hoạt động thư viện: Tháng 1 năm 2017 cấp 46 thẻ; phục vụ 3.020 lượt bạn đọc. Hoạt động chiếu phim: Tổ chức 104 buổi chiếu phim, phục vụ các xã thuộc vùng khó khăn, ATK, đối tượng chính sách và phục vụ nhiệm vụ chính trị. Hoạt động biểu diễn nghệ thuật: Tổ chức các chương trình biểu diễn  nghệ thuật, trên địa bàn tỉnh. Đặc biệt Chương trình nghệ thuật mừng Đảng mừng Xuân năm Đinh Dậu 2017 với chủ đề: “Thái Nguyên đón mùa Xuân về” tại Trung tâm Văn hoá tỉnh.
3. Hoạt động Y tế và dân số
* Công tác phòng chống dịch bệnh và khám chữa bệnh
Công tác tuyên truyền phòng chống dịch, bệnh được duy trì thường xuyên. Hiện nay trên địa bàn tỉnh không có dịch lớn xẩy ra, không xẩy ra các vụ ngộ độc thực phẩm hàng loạt. Ngành chức năng nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, cải tiến chất lượng bệnh viện, đảm bảo việc khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.
Tại thời điểm cuối tháng 12/2016 tại 1 trường Tiểu học của Thành phố Thái Nguyên đã xảy ra hiện tượng học sinh bị đau bụng, buồn nôn và nôn, mệt mỏi. Tính đến 15h ngày 29/12/2016 có 81 em bị mắc, trong đó có 14 em không ăn bán trú tại trường; ngoài ra có 1 trường hợp học sinh cùng 03 người trong gia đình cũng bị đau bụng, buồn nôn như trên. Một số trường hợp đã đi khám và điều trị tại bệnh viện, kết quả đã ổn định. Ngành chức năng phối hợp với địa phương lấy mẫu bệnh phẩm và mẫu thức ăn để xét nghiệm tìm nguyên nhân, đồng thời thực hiện xử lý môi trường, khử khuẩn tại khu vực trường và các gia đình có trẻ bị mắc bệnh.
- Tình hình dịch bệnh: Năm 2016, trên địa bàn tỉnh không có dịch lớn xảy ra, tuy nhiên vẫn xuất hiện rải rác một số trường hợp mắc bệnh tay chân miệng, quai bị, thủy đậu, viêm não, đặc biệt là bệnh dại, sốt xuất huyết dengue. Trong năm có 05 trường hợp tử vong do bệnh dại (so với năm 2015 giảm 01 ca); 21 ca sốt xuất huyết lâm sàng (năm 2015 có 32 ca); 1.797 trường hợp mắc quai bị, tăng 1.213 trường hợp so với năm 2015; 01 trường hợp viêm màng não do não mô cầu, 4 trường hợp mắc viêm não Nhật Bản B; 42 ca sốt phát ban dạng Sởi/ Rubella; 358 ca mắc bệnh Tay chân miệng.
- Chương trình Tiêm chủng mở rộng: Hoạt động tiêm chủng tại các huyện, thành, thị được duy trì thường xuyên, đảm bảo an toàn. Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 1 tuổi năm 2016 ước đạt trên 95 % (năm 2015 đạt 95,47%); tỷ lệ trẻ được tiêm phòng uốn ván sơ sinh, tiêm vắc xin viêm não Nhật bản B ước đạt 95 %; tỷ lệ tiêm vắc xin viêm gan B sơ sinh ước đạt 67%;  tiêm vắc xin sởi - rubella cho trẻ 16-17 tuổi đạt tỷ lệ 95,7%; số mũi tiêm vắc xin các loại đạt 42 nghìn mũi, tăng 24,% so với  năm 2015. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em <5 tuổi  thể nhẹ cân ước đạt 13%.
- Triển khai uống vitamin A: Duy trì hoạt động giám sát Ngày uống VitaminA và cân trẻ trên địa bàn tỉnh, thực hiện tốt các hoạt động truyền thông và thực hành dinh dưỡng theo kế hoạch. Tại 180 xã/phường/thị trấn trên địa bàn  , tỷ lệ trẻ 6-36 tháng tuổi được uống vitamin A cả hai đợt đều đạt 100%; bà mẹ sau đẻ trong vòng 1 tháng được uống vitamin A đợt 1đạt 99,8%; đợt 2 đạt 82,6%.
- Công tác khám chữa bệnh: Năm 2016, các hoạt động khám chữa bệnh, thực hiện quy chế chuyên môn tại các bệnh viện, trạm y tế được duy trì tốt tại bệnh viện, trạm y tế. Tổng số lượt bệnh nhân đến khám chữa bệnh toàn tỉnh 2.952,3 nghìn lượt người, tương đương với năm 2015. Trong đó khám tại cơ sở nhà nước 2.188,9 nghìn lượt người. Trong đó tuyến tỉnh 458,8 nghìn lượt người, tuyến huyện 798,5 nghìn lượt người, tuyến xã 931,6 nghìn lượt người. Tổng số lượt bệnh nhân điều trị nội trú năm 2016 là 198 nghìn lượt người, tăng hơn 15 nghìn lượt người. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân toàn tỉnh đạt 143,37%, tăng 2,11% so với năm 2015 (năm 2015 là 141,26%), tính theo giường bệnh thực kê đạt 83,01%.
- Chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm: Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm được các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh duy trì thường xuyên. Tăng cường công tác truyền thông, kiểm tra công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng ngừa ngộ độc thực phẩm. Năm 2016, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 3 vụ ngộ độc thực phẩm có 29 người mắc, có 1 trường hợp tử vong.
- Chương trình phòng chống HIV/AIDS: Tiếp tục thực hiện các chương trình thông tin, tuyền thông tại cộng đồng. Hoạt động phòng chống HIV/AIDS triển khai có hiệu quả, duy trì các điểm điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone; điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con. Thực hiện điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone được duy trì, tại đã có 8 cơ sở điều trị và 11 cơ sở cấp phát thuốc. Điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone cho 2.278 người, đạt 85% so với kế hoạch giao; Điều trị thuốc kháng vi rút cho 3.362 người lớn, 125 trẻ em nhiễm HIV/AIDS. Luỹ tích đến 31/12/2016, tổng số người nhiễm HIV/AIDS toàn tỉnh là 9.530 người, chuyển sang giai đoạn AIDS 6.590 người và 3.381 người đã tử vong do HIV/AIDS. Số người bị nhiễm HIV đang quản lý có mặt tại địa phương 4.816 người. Năm 2016, số người nhiễm HIV quản lý mới 191 người, chuyển sang AIDS 263 người, tử vong do AIDS 53 người.
* Công tác dân số: Năm 2016 là năm thứ 6 thực hiện Chiến lược dân số và sức khoẻ sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020, các ngành chức năng tăng cường hoạt động truyền thông, kiểm tra, giám sát tại cơ sở. Đảm bảo cung cấp đủ, kịp thời phương tiện tránh thai cho các đối tượng; duy trì thực hiện đề án sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh, đề án can thiệp giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh. Tính đến hết tháng 12 năm 2016 trên địa bàn tỉnh có 18.590 trẻ mới sinh, giảm 1.486 trẻ so với năm 2015 (số trẻ nam 10.002, số trẻ nữ 8.588, tỷ số giới tính khi sinh 117). Trong tổng số trẻ em mới sinh có 1.263 trường hợp sinh con thứ 3 trở lên, chiếm 6,8% (giảm 40 trẻ so với  2015). Trong đó có 4 địa phương là huyện Đồng Hỷ, huyện Đại Từ, Thị xã Phổ Yên và huyện Phú Bình có số trẻ sinh là con thứ 3 trở lên là lớn nhất, chiếm 61,3% số trẻ sinh thứ 3 trở lên của toàn tỉnh.
* Xã đạt chuẩn quốc gia về Y tế: Đến hết năm 2016 toàn tỉnh có 180/180 (đạt 100%) xã đạt Chuẩn Quốc gia về Y tế, trong đó có có 153 xã đạt tiêu chí Quốc gia về y tế đạt 85% (năm 2015 có 120 xã  đạt tiêu chí Quốc gia về y tế bằng 66,7%).
4. Tình hình trật tự, an toàn giao thông
­ Nhằm bảo đảm trật tự an toàn giao thông, trật tự xã hội trên các tuyến giao thông, phục vụ việc vận tải hành khách, hàng hoá, đi lại và vui chơi của nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán Đinh Dậu và các lễ hội đầu Xuân 2017, cơ quan chức năng đã mở đợt cao điểm tuần tra kiểm soát, đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên địa bàn. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến các quy định của pháp luật về trật tự an toàn giao thông. Xử lý nghiêm các hành vi, vi phạm sử dụng phương tiện giao thông chở hàng hóa cấm, chở quá khổ, quá tải, chở hàng cồng kềnh, chạy quá tốc độ, tránh vượt sai quy định vi phạm về nồng độ cồn và không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông. Chỉ đạo các đơn vị doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành khách, hàng hóa, tăng cường phương tiện phục vụ nhân dân, học sinh đi lại trước, trong và sau dịp Tết Nguyên đán, giảm bớt ùn tắc tại các bến tàu, bến xe.
Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông, tính từ 16/12/2016 đến 15/01/2017, trên địa bàn tỉnh xảy ra 15 vụ tai nạn giao thông, làm 11 người chết và 6 người bị thương. So với cùng kỳ số vụ tai nạn tăng 3 vụ (+25%), số người chết tăng 1 người (+10%) và số người bị thương giảm 2 người (-25%). Tai nạn liên quan đến ô tô 7 vụ (46,67%), liên quan đến mô tô 8 vụ (53,33%).
Công tác kiểm tra, xử lý vi phạm trật tự an toàn giao thông: trong tháng 1/2017 các lực lượng chức năng đã lập biên bản và xử lý vi phạm 4.303 trường hợp; tước 428 giấy phép lái xe; tạm giữ 171 xe ô tô; 401 mô tô. Tổng số tiền xử phạt trên 4 tỷ đồng.
5. Phòng chống cháy nổ: Công tác phòng cháy chữa cháy đã được cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra và nhắc nhở nhằm hạn chế các vụ cháy nổ xảy ra. Tháng 1 năm 2017 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 5 vụ cháy, không có người chết và không có người bị thương. Trong đó xảy ra 4 vụ ở thành phố Thái Nguyên, 1 vụ ở  huyện Phú Bình, ước tổng trị giá tài sản thiệt hại khoảng 45,6 triệu đồng.
6. Vi phạm môi trường
Trong tháng 1 năm 2017 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên các ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra và xử lý 9 vụ vi phạm môi trường, nguyên nhân do các cơ sở sản xuất kinh doanh không có bảng cam kết và không thực hiện đầy đủ nội dung trong bảng cam kết  bảo vệ môi trường, xả bụi, khí thải ra môi trường vượt quá quy định. Tổng tiền thu và nộp ngân sách nhà nước 232,3 triệu đồng.
Trên đây là báo cáo rà soát kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu cả năm 2016 và tình hình kinh tế xã hội tháng 01 năm 2017 tỉnh Thái Nguyên./.
 
 
([1])  - Đạt 07 tiêu chí: xã Linh Thông - huyện Định Hóa;
- Đạt 08 tiêu chí: xã Phủ Lý - huyện Phú Lương; xã Phú Tiến, xã Lam Vỹ - huyện Định Hóa; xã Văn Lăng - huyện Đồng Hỷ; xã Tràng Xá, xã Thượng Nung, xã Sảng Mộc, xã Phương Giao - huyện Võ Nhai;
- Đạt 09 tiêu chí: xã Bàn Đạt - huyện Phú Bình; xã Yên Trạch - huyện Phú Lương; xã Hợp Tiến, xã Quy Kỳ, xã Bình Thành, xã Tân Dương - huyện Định Hóa; xã Thần Sa, xã Dân Tiến, xã Nghinh Tường, xã Cúc Đường - huyện Võ nhai.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây