Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 năm 2017

Chủ nhật - 25/02/2018 20:08
BÁO CÁO
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 năm 2017 tỉnh Thái Nguyên
 
A. KINH TẾ
I. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
1. Trồng trọt
- Cây lúa: Tổng diện tích gieo cấy lúa vụ Xuân 2017 đạt 30 nghìn ha, bằng 103,4% kế hoạch, giảm 2,2% so cùng kỳ (giảm 681 ha) và giảm ở toàn bộ 9/9 đơn vị cấp huyện; giảm nhiều nhất là TP Sông công và huyện Võ Nhai với mức giảm 8,7%; TP Thái Nguyên giảm 4,6%; còn lại 6/9 địa phương giảm từ 0,26%- 1,9% so với diện tích gieo cấy vụ xuân 2016. Có 6/9 đơn vị hoàn thành và vượt kế hoạch gieo cấy. Hai đơn vị là TP Thái Nguyên và Sông công không đạt kế hoạch diện tích gieo trồng.
Về cơ cấu giống: diện tích giống lúa lai đạt 5 nghìn ha, chiếm 16,7%; giống lúa thuần chất lượng cao khoảng 3,3 nghìn ha, còn lại là các giống lúa khác; hình thức gieo sạ trực tiếp là 3,6 nghìn ha (chiếm 12% diện tích gieo cấy), tăng 590 ha so với cùng kỳ, tập trung nhiều ở huyện Đại từ là 1.560 ha, huyện phú lương 1.060 ha.
Tình hình sâu bệnh trên cây lúa nhìn chung đang xuất hiện rải rác với mật độ thấp. Tổng diện tích nhiễm sâu bệnh khoảng 1,8 nghìn ha, trong đó bệnh khô vằn khoảng 1,5 nghìn ha với tỷ lệ gây hại nặng là khoảng 20 ha;  chuột hại tăng mạnh đầu tháng 4, diện tích bị ảnh hưởng khoảng 136 ha; các loại sâu bệnh hai như châu chấu, sâu đục thân, bướm hai chấm, rầy các loại phát sinh và gây hại thấp. Các địa phương thường xuyên theo dõi và phòng trừ sâu bệnh kịp thời cộng với yếu tố nguồn nước tương đối đầy đủ, thời tiết thuận lợi nên hiện nay các trà lúa sinh trưởng, phát triển tốt.
- Cây hàng năm khác: Diện tích cây màu các loại ước đạt 18 nghìn ha, bằng 94,2% kế hoạch, so với vụ Xuân 2016 giảm 2,2 nghìn ha ở tất cả các loại cây trồng và đều không đạt kế hoạch. Do diện tích đất gieo trồng bị thu hẹp, số lao động đi làm việc tại các doanh nghiệp sản xuất nhiều, mặt khác do hiệu quả kinh tế cây trồng vụ Xuân thấp nên diện tích giảm. Cây ngô có diện tích lớn nhất là 7,5 nghìn ha, giảm 2,8% so cùng kỳ và bằng 98,5% kế hoạch; cây rau các loại đạt 3,5 nghìn ha, giảm 2% cùng kỳ (-72 ha), bằng 92,1% kế hoạch; cây lạc ước đạt 3 nghìn ha, giảm 11,4% cùng kỳ, bằng 97,2% kế hoạch; cây khoai lang 912 ha, giảm 27% so cùng kỳ...
- Cây lâu năm: các địa phương đang chăm sóc, thu hoạch chè xuân và tiến hành chuẩn bị mặt bằng đất, chăm sóc cây con giống để phục vụ cho công tác trồng mới và trồng lại chè năm 2017. Toàn tỉnh hiện có 30 vườn ươm với tổng số hom cắm khoảng 30,4 triệu hom bằng các giống LDP1, Kim tuyên, Tri 777...
Tình hình sâu bệnh trên cây chè: Tổng diện tích bị nhiễm bệnh khoảng 1,3 nghìn ha. Trong đó, rầy xanh nhiễm 611 ha, bọ cánh tơ nhiễm 427 ha, bọ xít muỗi nhiễm 295 ha, ngoài ra bệnh phồng lá, nhện đỏ gây hại thấp.
2. Chăn nuôi
Tháng 4/2017 tình hình chăn nuôi vẫn gặp khó khăn, giá thịt lợn hơi vẫn ở mức thấp, chưa tăng trở lại nên hạn chế tái đàn cho chu kỳ tiếp theo.
Tình hình dịch bệnh: Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong tháng 4 không có dịch bệnh lớn xảy ra. Ngành chức năng và các địa phương đã tổ chức 09 lớp tập huấn cho thú ý cơ sở, 02 lớp cho nông dân, tuyên truyền về công tác phòng, chống dịch bệnh, phát tờ rơi truyền thông đến tay người dân nhằm nâng cao nhận thức đối với công tác phòng, chống các bệnh truyền nhiễm trên động vật.
Thực hiện tiêm phòng vắc xin cho đàn gia súc, gia cầm Đợt I/2017 trên địa bàn tỉnh; các loại Vắc xin như tụ huyết trùng, lở mồm long móng trên đàn trâu, bò và lợn; vắc xin dịch tả lợn, tụ - dấu lợn, tai xanh…kết quả đạt khoảng 60% kế hoạch cả năm. Riêng tiêm vắc xin Dại cho đàn chó đạt 121,6 nghìn liều, bằng 78,5% kế hoạch cả năm; vắc xin Lepto đạt 5,6 nghìn liều, bằng 111% KH năm. Ngoài ra ngành chức năng đã triển khai công tác vệ sinh, tiêu độc, khử trùng phòng, chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm tại các ổ dịch cũ; các cơ sở chăn nuôi, giết mổ; chợ buôn bán gia súc, gia cầm. Tổng số hóa chất khử trùng đã cấp là 4 nghìn lít.
Dự ước số lượng gia súc, gia cầm đến cuối tháng 4/2016 như sau: đàn trâu dự ước khoảng 61 nghìn con, bằng 90,37% so với cùng kỳ; đàn bò ước khoảng 44,3 nghìn con, tăng 15,1% so cùng kỳ; đàn lợn ước khoảng 600 nghìn con, bằng 96,79% cùng kỳ, giảm 3,2%; Đàn gia cầm ước khoảng 10,6 nghìn con, tăng 1,9% so cùng kỳ.
3. Lâm nghiệp
Công tác trồng rừng: Các địa phương đang tích cực triển khai công tác trồng rừng năm 2017. Tính đến cuối tháng 4/2017 diện tích trồng trừng mới tập trung là 2.142 ha, trong đó, địa phương trồng 2.034 (theo chương trình dự án là 1.829 ha, bằng 47% kế hoạch; dân tự trồng 205 ha); trung ương trồng 109 ha, bằng 15,8% kế hoạch.
Tình hình khai thác lâm sản: Bốn tháng đầu năm 2017, ước tính sản lượng gỗ khai thác đạt 37 nghìn m3 gỗ các loại, tăng 5,9% so với cùng kỳ; củi đạt 44,3 nghìn ste và 7,45 tấn củ bình vôi. Riêng tháng 4 khai thác ước đạt 7,6 nghìn m3 gỗ các loại, tăng 4,8% so với cùng kỳ.
Công tác quản lý bảo vệ rừng: Quý I/2017 ngành chức năng đã xử lý 91 vụ vi phạm luật Bảo vệ và phát triển rừng (giảm 38 vụ so cùng kỳ); tịch thu 210 m3 gỗ quy tròn các loại; 13 phương tiện và thu nộp ngân sách nhà nước 560 triệu đồng, giảm 38% so quý I/2016.
4. Thủy sản
Tính chung từ đầu năm đến nay sản xuất cá bột đạt khoảng 150 triệu con, cá giống đạt 3,5 triệu con. Sản lượng thủy sản thương phẩm đạt trên 4 nghìn tấn. Hiện có 04 doanh nghiệp và 1 hợp tác xã nuôi cá lồng với 177 lồng nuôi, thể tích là 26,3 nghìn m3, sản lượng ước đạt 150 tấn, so với cùng kỳ số lồng nuôi tăng 50 lồng và thể tích nuôi tăng 14 nghìn m3. Có 02 doanh nghiệp và 01 hộ gia đình nuôi cá Tầm, sản lượng ước đạt 10 tấn.
II. Sản xuất công nghiệp
Mặc dù mức tiêu thụ sản phẩm công nghiệp trong tháng trước thấp (giảm 19% so với cùng kỳ) nên đã đẩy chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến tăng 71,6% cùng kỳ (trong đó sắt thép tồn kho gấp 2,5 lần; xi măng tồn kho tăng 68,6%), tuy nhiên sang tháng 4/2017, các công trình xây dựng đang đẩy nhanh tiến độ nên nhịp độ sản xuất công nghiệp tương đối tốt. Dự ước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tháng 4/2017 tăng 2,9% so với tháng trước, tăng 30,7% so với cùng kỳ; trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 38%; ngành khai khoáng tăng 20% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 13,4%; ngành sản xuất phân phối điện tăng 11,9%.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2017, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 17,7% so với cùng kỳ; trong đó, ngành công nghiệp chế biến và chế tạo tăng 21,9% (trong đó ngành sản xuất sản phẩm điện tử tăng 23,1%; sản xuất trang phục tăng 49,5%; sản xuất kim loại tăng 14,1); ngành sản xuất và phân phối điện tăng 11%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 13,5%; riêng ngành khai khoáng giảm 2,7% (do khai thác than giảm 2,3%; khai thác quặng sắt tăng 9%) so với cùng kỳ.
Hầu hết các sản phẩm công nghiệp sản xuất tháng 4/2017 đều tăng so với tháng trước và cùng kỳ. Nhóm sản phẩm có sản lượng ước tính tăng trên 15% so với cùng kỳ là: công cụ và dụng cụ các loại ước đạt 2,4 triệu cái, tăng 79,6%; Vonfram và sản phẩm của Vonfram ước đạt 2 nghìn tấn, tăng 73%; điện thoại thông minh 9 triệu sản phẩm, tăng 19,2%; sản phẩm may 5,8 triệu sản phẩm, tăng 51%; than khai thác 102 nghìn tấn, tăng 35,3%; xi măng 259 nghìn tấn, tăng 19,5%; điện sản xuất 155 triệu Kwh, tăng 26,6%; nước máy thương phẩm 2,7 triệu m3, tăng 17,4%…Các sản phẩm có sản phẩm sản xuất trong tháng dự tính tăng dưới 10%  hoặc giảm hơn so với cùng kỳ là: máy tính bảng 1,8 triệu sản phẩm, tăng 9,1%; phân phối điện 350 triệu Kwh, tăng 8%; sắt thép các loại 95,3 nghìn tấn, tăng 1%; quặng sắt và tinh quặng 9,3 nghìn tấn, tăng 0,1%; đồng tinh quặng 3,2 nghìn tấn, giảm 13%; đá khai thác  177,5 nghìn m3, giảm 14,6%; sản phẩm chịu lửa 1,7 nghìn tấn, giảm 37,7% so với tháng cùng kỳ.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2017, nhóm sản phẩm công nghiệp chủ yếu ước tính sản lượng tăng trên 10% so với cùng kỳ năm 2016 là: Vonfram và sản phẩm vonfram ước đạt 7,3 nghìn tấn, tăng 54,4% và bằng 45,9% kế hoạch; sản phẩm may 19,2 triệu sản phẩm, tăng 32,8% và bằng 34,8% kế hoạch; công cụ dụng cụ các loại 9,2 triệu sản phẩm, tăng 30,6%; nước máy thương phẩm 10,1 triệu m3, tăng 17,2% và bằng 32,7% kế hoạch; điện thương phẩm 1.306 triệu Kwh, tăng 14,5% và bằng 23,8% kế hoạch; sản phẩm điện tử khoảng 39,2 triệu sản phẩm, tăng 10,7% và bằng 28,2% kế hoạch (trong đó, điện thoại thông minh 32,1 triệu sản phẩm, tăng 11,6%, máy tính bảng  7,1 triệu sản phẩm, tăng 6,5% cùng kỳ); gạch xây dựng 43,6 triệu viên, tăng 6,8% và bằng 22,4% kế hoạch... Ngoài ra nhóm sản phẩm công nghiệp dự tính sản lượng giảm so với cùng kỳ là: than khai thác ước đạt 359 nghìn tấn, giảm 2,3% và bằng 31,2% kế hoạch; tấm lợp 4,7 triệu m2, giảm 3,1%; thiết bị y tế và dụng cụ khác trong y khoa 274,3 triệu sản phẩm, giảm 3,2%; sắt thép các loại 335,2 nghìn tấn, giảm 5,4% và bằng 30,5% kế hoạch; xi măng 781 nghìn tấn, giảm 11,7% và bằng 28,9% kế hoạch; đồng tinh quặng 11,8 nghìn tấn, giảm 12,8% và bằng 25,2% kế hoạch... nguyên nhân chủ yếu là do lượng tồn kho lớn nên các đơn vị hạn chế sản xuất.
III. Thương mại, dịch vụ, giá cả
1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ phục vụ tiêu dùng
Tháng 4 trùng với các ngày Lễ của đất nước, là tháng giao mùa nên nhu cầu mua sắm tăng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tháng 4/2017 ước đạt 1.984,5 tỷ đồng, tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 8,6% so với cùng kỳ. Trong đó,  khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 121,6 tỷ đồng (chiếm 6,1% tổng mức bán lẻ), tăng 0,9% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 1.860 tỷ đồng (chiếm 93,7% tổng mức bán lẻ) tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 9,1% so với cùng kỳ. Nhóm hàng có sức mua tăng 10% trở lên so với cùng kỳ là: lương thực, thực phẩm; hàng may mặc; trang thiết bị gia đình, gỗ và vật liệu sửa nhà…
Tính chung 4 tháng đầu năm 2017, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn ước đạt 7.968 tỷ đồng, tăng 9,8% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực nhà nước 478,8 tỷ đồng tăng 2,8%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước 7.479 tỷ đồng, tăng 9,1% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động lĩnh vực kinh doanh dịch vụ với doanh thu 10,2 tỷ đồng, tăng 21% cùng kỳ.
Trong tổng mức bán lẻ 4 tháng đầu năm 2017, ngành thương nghiệp ước đạt 6.875 tỷ đồng (chiếm 86,3%), tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước; ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 588,5 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 7,4%), tăng 6,3% so với cùng kỳ; còn lại ngành dịch vụ tiêu dùng khác đạt 500 tỷ đồng, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước. Riêng hoạt động lữ hành du lịch, doanh thu chiếm tỷ trọng nhỏ trong hoạt động dịch vụ của tỉnh.
2. Xuất, nhập khẩu
a. Xuất khẩu
Giá trị hàng hóa xuất khẩu tháng 4/2017 ước đạt 1,96 tỷ USD, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 27% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,94 tỷ USD, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 27,4% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế trong nước ước đạt 19 triệu USD, tăng 4,7% so với tháng trước, giảm 2% so với cùng kỳ (do xuất khẩu mặt hàng kim loại màu giảm).
Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu tháng 4/2017: nhóm sản phẩm điện tử viễn thông đạt 1.912 triệu USD (chiếm 81,9% tổng giá trị xuất khẩu), tăng 28,9% so với cùng kỳ. Bao gồm: nhóm điện thoại thông minh xuất khẩu đạt khoảng 8,3 triệu chiếc, với trị giá 1,3 tỷ USD, tăng 31% về sản lượng, tăng 27,8% giá trị so với cùng kỳ; máy tính bảng khoảng 1,9 triệu chiếc với giá trị 277 triệu USD, tăng 16% về lượng nhưng tăng 34,6% về giá trị; linh kiện điện tử và phụ tùng khác đạt 310,2 triệu USD, tăng 19,6%. Nhóm sản phẩm khác như: Sản phẩm may ước đạt 20,6 triệu USD, tăng 26,3%; kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 16 triệu USD, tăng 4,7%; sản phẩm từ sắt thép đạt 4,3 triệu USD, tăng 12,9% so với cùng kỳ. Riêng mặt hàng chè các loại xuất khẩu tháng 4/2016  đạt 252 tấn với trị giá 0,5 triệu USD, tăng 66,9% về lượng và tăng gấp gần 2 lần về giá trị so cùng kỳ (do yếu tố giá tăng)...
Tính chung 4 tháng đầu năm 2017 giá trị xuất khẩu ước đạt 6,9 tỷ USD, tăng 19,6% so với cùng kỳ và bằng 32,8% kế hoạch cả năm. Trong đó, xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước đạt 76,7 triệu USD, tăng 3,9% cùng kỳ và bằng 23,2% kế hoạch cả năm; xuất khẩu khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 6,81 tỷ USD, tăng 19,8% so với cùng kỳ, bằng 33% kế hoạch cả năm.
Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu đều tăng 10% trở lên so cùng kỳ: kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 65,9 triệu USD, tăng 41,3% so với cùng kỳ, bằng 41,2% kế hoạch. Sản phẩm điện tử đạt 38,3 triệu sản phẩm với giá trị xuất khẩu đạt 5,6 tỷ USD, tăng 18,4% về lượng, tăng 16,9% về giá trị (Bao gồm: điện thoại thông minh đạt 31,3 triệu sản phẩm với giá trị 4,62 tỷ USD tăng 20% về lượng, tăng 16,8% về giá trị; máy tính bảng đạt 7,1 triệu sản phẩm với giá trị 962 triệu USD, tăng 11,5% về lượng và tăng 17,5 về giá trị); linh kiện điện tử và phụ tùng khác đạt 1.149 triệu USD, tăng 33,1% và bằng 36,1% kế hoạch; chè các loại đạt 900 tấn, với giá trị xuất khẩu đạt 1,7 triệu USD, tăng 22,3% về lượng và tăng 32,8% về giá trị, bằng 18% kế hoạch cả năm; sản phẩm may đạt 67,9 triệu USD, tăng 17,8%; phụ tùng vận tải tăng 16,4%…
b. Nhập khẩu
Tổng giá trị nhập khẩu tháng 4/2017 trên địa bàn ước đạt 1,2 tỷ USD, tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 7,6%  so với cùng kỳ. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,18 tỷ USD, tăng 1,6% so với tháng trước, tăng 8,5% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 98,9% tổng giá trị nhập khẩu. Khu vực kinh tế trong nước ước đạt 12,5 triệu USD, giảm 6,3% so với tháng trước, giảm 40% so với cùng kỳ (do giảm nhập khẩu thép phế liệu và phôi thép)
Nhóm mặt hàng nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong tháng là: Nguyên liệu và linh kiện điện tử ước đạt 1.170 triệu USD, chiếm tỷ trọng 98,2% tổng giá trị nhập khẩu, tăng 21,2% so với cùng kỳ; sản phẩm từ sắt thép 2,2 triệu USD, gấp 3 lần; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc 3,7 triệu USD, tăng 87,2%... nhóm nguyên liệu nhập khẩu giảm so cùng kỳ (do tồn kho lớn nên  hạn chế nhập):  vải các loại 7,1 triệu USD, giảm 38,4%; nguyên phụ liệu dệt may 1,3 triệu USD, giảm 24,6%; sắt thép và phôi thép hầu như không phát sinh nhập trong tháng.
Tính chung 4 tháng 2017, tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn ước đạt 4,25 tỷ USD, tăng 9,2% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước ước đạt 58,4 triệu USD, giảm 42,2% so với cùng kỳ. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 4,19 tỷ USD, tăng 10,6% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 98,6% tổng giá trị nhập khẩu.
Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ là: sản phẩm từ sắt thép ước đạt 10,1 triệu USD, tăng gấp 3 lần so với cùng kỳ; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc 18,1 triệu USD, gấp 2,7 lần; nguyên liệu linh kiện điện tử  4,13 tỷ USD, tăng 15,3%; vải các loại đạt 31,7 triệu USD, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm 2016… nhóm mặt hàng nhập khẩu giảm trên 50% cùng kỳ là: máy móc phụ tùng giảm 82%, phế liệu sắt thép giảm 77,7%; phôi thép giảm 88,8%...
3. Giá tiêu dùng
Tháng 4/2017 do tác động của nhiều mặt hàng giảm giá như xăng, dầu, gas chất đốt và đặc biệt là sự giảm giá của nhóm thịt lợn và các sản phẩm từ thịt chế biến đã làm cho chỉ số giá chung giảm 0,6% so với tháng trước, giảm 0,5% so với tháng 12 năm trước, nhưng tăng 3,74% so với cùng kỳ năm trước.
 So với tháng trước, có 03/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chỉ số giá giảm, trong đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,8% (giá thịt gia súc tươi sống giảm 2,68% do giá thịt lợn giảm 3,3%, thịt gà giảm 0,52%; trứng các loại giảm 3,28%, thịt chế biến giảm 0,78%); nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,82%; nhóm giao thông giảm 1,68% (do nhóm phương tiện đi lại giảm 1,05%). Còn lại 8/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có mức tăng nhẹ hoặc tương đương tháng trước
So với tháng 12/2016, có 6/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chỉ số giá  giảm. Trong đó, giảm nhiều nhất là  nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 2,47% (do giá  thịt tươi sống giảm 8,52%, giá thủy sản giảm 2,23%, giá rau giảm 2,86%); có 5/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ giảm nhẹ, từ 0,02% đến 0,46% như nhóm thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,02%, nhóm may mặc, giày dép và mũ nón giảm 0,26%, nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,46% (do thiết bị điện thoại giảm 2,53%); còn lại 4/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng có chỉ số giá tăng như: nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,12%; nhóm Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,91% (giá nhà ở thuê tăng 3,14%, giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 2,53%; nước sinh hoạt tăng 2,93%), nhóm giao thông tăng 1,84% (do giá xăng dầu diezen tăng 5,9%; phương tiện xe máy giảm 2,65%); nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,9% (giá dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 3,97%).
So với cùng kỳ (tháng 4/2016), chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2017 tăng 3,74%. Có 8 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có chỉ số giá tăng, trong đó nhóm chỉ số giá tăng cao nhất là nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 73,8%; nhóm giao thông tăng 9,31% ; nhóm giáo dục tăng 10,53%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,56% (giá đồ dùng cá nhân tăng 0,41%, giá dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 3,97%); còn lại 03/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm như: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 4,3% (do giá thịt  gia súc giảm 2,75%, thịt gia cầm giảm 4,11%), nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,68% (do giá thiết bị điện thoại giảm 3,72%)...
 Chỉ số giá vàng: chỉ số giá vàng tháng 4/2017 tăng 1,67% so với tháng trước và tăng 5,22% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá vàng bình quân 4 tháng đầu năm 2017 tăng 6,92% so với bình quân cùng kỳ.
Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 4/2017 giảm 0,36% so tháng trước và tăng 1,89% so với cùng kỳ. Chỉ số giá Đô la Mỹ bình quân 4 tháng  đầu năm 2017 tăng 1,57% so với bình quân cùng kỳ.
4. Vận tải
Tháng 4 hàng năm là tháng có nhiều ngày nghỉ lễ nên nhu cầu đi lại, thăm quan, du lịch của người dân tăng hơn so với tháng trước.
- Vận chuyển hành khách: Số lượt hành khách vận chuyển tháng 4/2017 ước đạt 1.059 nghìn lượt khách với lượng hành khách luân chuyển là 73,3 triệu hành khách.km; so với tháng trước tăng 9,5% về số hành khách vận chuyển; tăng 9,2% số hành khách luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 7,8% về số lượng hành khách và tăng 9,3% về số hành khách luân chuyển. Tính chung 4 tháng đầu năm 2017 số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 4,1 triệu lượt khách với 289 triệu lượt hành khách.km; so với cùng kỳ tăng 6,4% về số hành khách và tăng 5,9% về số lượng hành khách luân chuyển. Trong đó, kinh tế ngoài nhà nước đạt 3,92 triệu lượt khách với 261,2 triệu hành khách.km (chiếm 95,2% tổng số), tăng trên 6,5% về số hành khách vận chuyển và số hành khách luân chuyển so với cùng kỳ.
- Vận chuyển hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 4/2017 ước đạt 2,1 triệu tấn với  74,4 triệu tấn.km; so với tháng trước tăng trên 5% về cả khối lượng vận chuyển và khối lượng luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 7% về khối lượng vận chuyển và tăng 8% về luân chuyển hàng hóa. Tính chung 4 tháng đầu năm 2017, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 8 triệu tấn với 283,7 triệu tấn.km, tăng 4,1% về khối lượng vận chuyển và  tăng 4,9% khối lượng luân chuyển so với cùng kỳ.
Tổng doanh thu vận tải trên địa bàn tháng 4/2017 ước đạt 188 tỷ đồng, tăng 6,2% so với tháng trước và tăng 6,9% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 38 tỷ đồng, tăng trên 9% so với tháng trước và  cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa khoảng 150 tỷ đồng, tăng 5,4% so tháng trước và tăng 6,4% cùng kỳ. Tính chung 4 tháng 2017, tổng doanh thu vận tải trên địa bàn ước đạt 723 tỷ đồng, tăng 4,2% cùng kỳ (doanh thu vận tải hành khách ước tăng 6,4%, doanh thu vận tải hành hóa tăng 3,6%).
IV. Thu, chi ngân sách
1. Thu ngân sách nhà nước
Thu trong cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn 3 tháng đầu năm 2017 đạt 3.680,2 tỷ đồng, tăng 11,7% so với cùng kỳ và bằng 40,8% dự toán cả năm. Trong đó, thu nội địa đạt 3.080 tỷ đồng, tăng 15,3% so với cùng kỳ và bằng 45,6% so với dự toán cả năm; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 601 tỷ đồng giảm 3,5% so với cùng kỳ và bằng 26,7% so với dự toán cả năm.
Trong thu nội địa, nhìn chung các khoản thu đều tăng cao hơn so với cùng kỳ, có 11/16 khoản thu tăng so với cùng kỳ như: thu từ doanh nghiệp nhà nước đạt 285,9 tỷ đồng, tăng 23,9% so với cùng kỳ và bằng 31,3% dự toán cả năm; thu từ khu vực sản xuất và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 587,7 tỷ đồng, tăng 72,7% so với cùng kỳ và bằng  47,3% so với dự toán; thu tiền cấp quyền sử dụng đất đạt 354,2 tỷ đồng, gấp 3,1 lần cùng kỳ và bằng 54,5% dự toán; thu tiền cho thuê đất đạt 79,3 tỷ đồng, gấp 4 lần cùng kỳ và bằng 25,3% so với dự toán cả năm …có 3/16 khoản thu đạt thấp so với cùng kỳ đó là: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 875,9 tỷ đồng, giảm 29,4% và bằng 55,2% so với dự toán; thu thuế sử dụng đất nông nghiệp đạt 0,3 tỷ đồng, giảm 4,2% cùng kỳ và bằng 32,2% so với dự toán; thu cấp quyền khai thác khoáng sản đạt 50,8 tỷ đồng, giảm 49,4% so với cùng kỳ và bằng 50% dự toán cả năm.
2. Chi ngân sách
Tổng chi ngân sách địa phương 3 tháng đầu năm 2017 đạt 1.675,6 tỷ đồng, giảm 2,9% so với cùng kỳ năm trước và bằng 16,4% dự toán cả năm. Trong đó, chi cân đối ngân sách địa phương đạt 1.630,8 tỷ đồng, tăng 2% so với cùng kỳ và bằng 17,5% dự toán cả năm. Chi chương trình mục tiêu quốc gia mới đạt 44,8 tỷ đồng, bằng 5,2% dự toán cả năm.
Trong khi cân đối; chi đầu tư phát triển đạt 321,3 tỷ đồng, tăng 7% cùng kỳ và bằng 19,6% dự toán; Chi thường xuyên đạt 1.309,5 tỷ đồng, tăng 0,9% cùng kỳ và bằng 18,8% dự toán năm.
Trong tổng chi thường xuyên, lớn nhất là chi sự nghiệp giáo dục và dạy nghề đạt 533,4 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 40,7%), tăng 12,4% và bằng 18,2% dự toán cả năm; chi quản lý hành chính đạt 340,7 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng  25,9% tổng chi thường xuyên), giảm 0,6% so với cùng kỳ và bằng 24,1% dự toán cả năm; riêng chi cho sự nghiệp khoa học và công nghệ 3 tháng đạt 17,7 tỷ đồng, bằng 67% dự toán cả năm. Các khoản chi đạt thấp hơn so cùng kỳ là: chi sự nghiệp văn hóa, thông tin; chi sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp bảo vệ môi trường và chi đảm bảo xã hội.
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Hoạt động văn hoá, thể thao và du lịch
Ngành chức năng tiếp tục triển khai thực hiện theo kế hoạch công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và công tác gia đình; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động quảng cáo, biểu diễn nghệ thuật. Công tác tuyên truyền, các hoạt động văn hoá, thể thao nhân dịp giỗ tổ Hùng Vương (10/3), kỷ niệm 42 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2017), Quốc tế lao động (1/5)… tạo không khí vui tươi, sôi nổi trong đời sống tinh thần của nhân dân các dân tộc trong tỉnh.
Thực hiện kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm 42 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, 131 năm ngày quốc tế lao động (1/5), 63 năm chiến thắng Điện Biên Phủ; cuộc thi sáng tác tranh và triển lãm mỹ thuật thiếu nhi năm 2017. Thành lập đoàn tham dự hội nghị gặp mặt già làng, trưởng thôn, bản, nghệ nhân, người uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và hội thảo giải pháp bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại trong thời kỳ hội nhập và phát triển. Tổ chức Hội thi thiếu nhi kể chuyện theo sách với chủ đề “Uống nước nhớ nguồn”, Ngày Hội sách và Văn hóa đọc với chủ đề Sách và sự phát triển tri thức cộng đồng”…
Hoạt động bảo tàng: Tổ chức trưng bày triển lãm ảnh tư liệu và hiện vật  với chủ đề "Trưng bày những sự kiện nổi bật kinh tế-xã hội tỉnh Thái Nguyên năm 2016” phục vụ Mùa du lịch Thái Nguyên. Lập danh mục tư liệu hiện vật trưng bày triển lãm kỷ niệm 70 năm ngày Trung ương Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh về ATK Thái Nguyên lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (20/5/1947 - 20/5/2017); phục vụ trên 2 nghìn lượt khách tham quan bảo tàng, các triển lãm, không gian Văn hoá trà; tham gia khai quật khảo cổ học tại mái đá Ngườm (xã Thần Sa, huyện Võ Nhai).
Hoạt động chiếu phim, nghệ thuật: Từ đầu năm đã thực hiện 80 buổi chiếu phim, trong đó có 02 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị, 78 buổi phục vụ các xã vùng khó khăn, đối tượng chính sách; phục vụ 1.125 lượt người xem. Tổ chức 14 buổi biểu diễn (02 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị; 12 buổi phục vụ đối tượng chính sách và các xã đặc biệt khó khăn).
Hoạt động thể thao: Từ đầu năm trên địa bàn đã Đăng cai tổ chức 02 giải thể thao toàn quốc (giải cầu lông đồng đội tranh cúp LINING; giải bóng đá Hội khỏe Phù đổng tranh cúp Milo). Phối hợp tổ chức các giải cấp ngành các môn như: bóng đá, tenis; cầu lông, bóng bàn... Phối hợp với các liên đoàn (cầu lông, võ thuật) chuẩn bị tổ chức đại hội; chuẩn bị tổ chức các lớp tập huấn (bơi, cứu nạn, hướng dẫn viên thể dục dưỡng sinh)...
Tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo 161 học sinh năng khiếu hệ nội trú, 40 học sinh bán trú. Tham gia thi đấu đạt 14 huy chương các loại (07HCV, 07HCB) tại giải vật nữ, cờ vua Đông Nam Á và cử tạ thiếu niên toàn quốc.
Thể thao thành tích cao: Duy trì công tác quản lý, huấn luyện, kiểm tra  việc tập luyện của các đội tuyển. Đạt 26  huy chương các loại (06HCV, 10 HCB, 10 HCĐ), đội tuyển đua thuyền xếp thứ 2 toàn đoàn; có 10 VĐV kiện tướng, 10 VĐV cấp I; cung cấp cho đội tuyển Quốc gia 10 VĐV.
2. Hoạt động y tế
 Công tác y tế, phòng chống dịch và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm được duy trì và triển khai. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh không xuất hiện dịch bệnh nguy hiểm, không có tử vong do bệnh dại, không có các ca sốt phát ban dạng sởi/rubella. Số ca mắc bệnh truyền nhiễm giảm hơn cùng kỳ năm trước: Thủy đậu: 355 ca; Quai bị: 194 ca (giảm hơn cùng kỳ 2016: 329 ca); Bệnh Tay chân miệng: 8 ca ; Sốt xuất huyết 1 ca; Ho gà 2 ca (TPTN:01, Phú Lương:01); các bệnh dịch khác không có diễn biến gì đặc biệt.
Công tác khám chữa bệnh: ngành chức năng chỉ đạo công tác khám chữa bệnh ở các cơ sở y tế, đảm bảo xử lý các tình huống cấp cứu khi xảy ra. Tổng số lượt bệnh nhân đến khám chữa bệnh Quý I/2017 toàn tỉnh đạt 286.473 lượt,  tăng 10 nghìn lượt khám bệnh (+3,6%) so với cùng kỳ năm 2016; trong đó có 45.138 lượt người điều trị nội trú, tăng 1,05 nghìn lượt (+2,4%) so cùng kỳ. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân toàn tỉnh đạt 114,66%, giảm hơn cùng kỳ (Quý I/2016 là 118,17%); trong đó tuyến tỉnh là 111,56% và  tuyến huyện là 120%.
- Công tác dân số: Trên địa bàn tỉnh 3 tháng đầu năm 2017 có 3.822 trẻ mới sinh (trẻ nam là 2.040, trẻ nữ là 1.782); Tỷ số giới tính khi sinh là 114,5 trẻ nam/100 trẻ nữ. So với cùng kỳ số trẻ mới sinh giảm 9 trẻ. Có 5/9 đơn vị cấp huyện có số trẻ mới sinh giảm là: TP Sông Công; TX Phổ Yên; huyện Định Hóa; huyện Phú Lương và huyện Đồng Hỷ; có 4/9 đơn vị  số trẻ mới sinh tăng. Tổng số trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên là 287 trẻ (chiếm 7,5% của tổng số trẻ mới sinh), so với cùng kỳ năm 2016 giảm 21 trẻ. Có 2 địa phương sinh con thứ 3 tăng là: TP Thái Nguyên tăng 12 trẻ và huyện Võ Nhai tăng 04 trẻ.
- Tình hình lây nhiễm HIV/AIDS: Thực hiện điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại 5 huyện/thành phố/thị xã cho  2.293 người, đạt 76,4% so với kế hoạch giao; Điều trị thuốc kháng vi rút cho 3.376 người lớn, 126 trẻ em nhiễm HIV/AIDS. Thực hiện tốt công tác giám sát, quản lý người nhiễm HIV/AIDS. Tính đến 1/4/2017 số lũy tích số nhiễm HIV/AIDS là 9.555 người, trong đó có 6.600 người đã chuyển sang AIDS và có 3.386 người đã tử vong do AIDS. Tính riêng trong tháng 3/2017 đã phát hiện mới được 15 người nhiễm HIV.
3. Giáo dục
Trong tháng 4 năm 2017 ngành chức năng chuẩn bị công tác ôn tập, kiểm tra học kỳ 2 cho học sinh các cấp.
Đặc biệt ôn tập và hướng dẫn cho học sinh tham gia kỳ thi học sinh giỏi cấp quốc gia và cuộc thi học sinh giỏi của tỉnh. Kết quả như sau: Thi học sinh giỏi cấp tỉnh: Lớp 9 có 504 giải (12 giải nhất; 85 giải nhì; 159 giải ba; 248 giải khuyến khích). Lớp 10 có 1.506 giải (38 giải nhất; 308 giải nhì; 481 giải ba; 667 giải khuyến khích). Lớp 11 có 1.518 giải (40 giải nhất; 298 giải nhì; 475 giải ba; 705 giải khuyến khích).
Tình hình đăng ký dự thi tốt nghiệp quốc gia trung học phổ thông. Tính đến ngày 18/4/2017 tỉnh Thái Nguyên có 13.176 học sinh đăng ký dự thi. Dự kiến trên địa bàn sẽ có 31 điểm thi.
4. Tình hình trật tự, an toàn xã hội
- An toàn giao thông: Trong những tháng đầu năm cơ quan chức năng, phối hợp với các đơn vị, địa phương thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm trật tự an toàn giao thông, trong đó tập trung làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật; tăng cường công tác thanh tra, tuần tra, kiểm soát xử lý vi phạm đường bộ, đường sắt và đường thủy; quản lý hoạt động kinh doanh vận tải và tải trọng phương tiện, rà soát xử lý các điểm đen về ùn tắc, tai nạn giao thông. Tuy nhiên do trong tháng 4/2017 có nhiều ngày lễ lớn, mật độ tham gia giao thông tăng cao, tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh trong tháng 4 đã tăng cả 3 chỉ tiêu về số vụ, số người chết và số người bị thương so với cùng kỳ năm trước.
Theo báo cáo của Ban An Toàn giao thông tỉnh Thái Nguyên, trong tháng 4/2017 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 15 vụ tai nạn giao thông, làm chết 5 người, làm bị thương 11 người (trong đó liên quan đến ô tô là 5 vụ chiếm 33,3%, liên quan đến  xe máy là 9 vụ chiếm 60%). So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn tăng 8 vụ (+114,2%); số người chết tăng 1 người (+25%); và số  người bị thương tăng 8 người (+266,7%). Tổng trị giá tài sản thiệt hại khoảng 140 triệu đồng.
 Tính chung 4 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 54 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 26 người và làm bị thương 43 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn tăng 5 vụ (+10,2%), số người bị chết giảm 4 người (-13,3%) và số người bị thương tăng 2 người (+4,9%). Trong đó địa bàn thành phố Thái Nguyên xảy ra 23 vụ tai nạn (chiếm 42,6% tổng số), làm 5 người chết (chiếm 19,2%) và 24 người bị thương (chiếm 55,8% tổng số toàn tỉnh).
Nguyên nhân gây tai nạn giao thông chủ yếu do ý thức chấp hành quy định pháp luật An toàn giao thông của người dân chưa cao, các lỗi chủ yếu là đi quá tốc độ quy định, đi sai làn đường, lái xe sử dụng rượu bia. Ngoài ra lưu lượng phương tiện giao thông tăng cao trong khi cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng cũng được xác định là những nguyên nhân chính gây tai nạn giao thông.
-  Phòng chống cháy nổ: Công tác phòng cháy chữa cháy đã được cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra và nhắc nhở nhằm hạn chế các vụ cháy, nổ xảy ra. Trong kỳ (từ 15/3-15/4/2017) trên địa bàn tỉnh xảy ra 7 vụ cháy nhỏ, không có vụ nổ và không có thiệt hại về người, trong đó có 4 vụ cháy xảy ra tại thành phố Thái Nguyên, 1 vụ tại thị xã Phổ Yên, 1 vụ tại huyện Phú Lương và 1 vụ tại huyện Phú Bình. Ước tính giá trị thiệt hại khoảng 36,5 triệu đồng.
Tính từ đầu năm đến 15/4/2017 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 38 vụ cháy và 1 vụ nổ nhưng không có thiệt hại về người. Ước tổng trị giá tài sản thiệt hại khoảng 1,9 tỷ đồng. Các địa phương xảy ra là: thành phố Thái Nguyên 24 vụ, huyện Phú Lương 4 vụ, thị xã Phổ Yên 3 vụ, huyện Đại Từ 1 vụ, huyện Định Hóa 1 vụ, huyện Phú Bình 3 vụ, huyện Đồng Hỷ 2 vụ, chủ yếu là do thời tiết ẩm thấp, mưa gió là nguyên nhân gây chập điện.
5. Vi phạm môi trường
Tính chung 4 tháng đầu năm 2017, các ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra và xử lý 24 vụ vi phạm môi trường, nguyên nhân do các cơ sở sản xuất kinh doanh không có bản cam kết bảo vệ môi trường và không thực hiện chương trình giám sát môi trường định kỳ. Tổng số tiền thu và nộp vào ngân sách nhà nước 340 triệu đồng
Trên đây là một số tình hình chủ yếu về kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên tháng 4 và 4 tháng đầu năm năm 2017./.
 
                                                                                                           

 
 
 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây