Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 năm 2019 tỉnh Thái Nguyên

Thứ năm - 30/05/2019 08:00
A. KINH TẾ
I. Sản xuất nông, lâm nghiệp
1. Trồng trọt
Tổng diện tích gieo trồng các cây hàng năm vụ Xuân 2019 đạt khoảng 50 nghìn ha, bằng 105,4% kế hoạch và giảm 0,8% so cùng kỳ; trong đó diện tích lúa Xuân đạt gần 30 nghìn ha, đạt tương đương diện tích lúa Xuân năm 2018 và bằng 103,5% kế hoạch; diện tích cây hoa màu các loại đạt gần 20 nghìn ha, giảm 1,1% cùng kỳ. Trong đó, diện tích cây ngô và cây rau (chiếm 62% tổng diện tích cây mầu), tăng 1,1% so với cùng kỳ và bằng 110,1% kế hoạch đề ra.
Tình hình sâu bệnh: Công tác phòng chống sâu bệnh được các địa phương triển khai và phòng trừ kịp thời. Tổng diện tích Lúa bị nhiễm sâu bệnh hại khoảng 7,3 nghìn ha (chiếm 25% tổng diện tích) và cao hơn khoảng 1,6 nghìn ha so với thời điểm năm 2018; trong đó chủ yếu là nhiễm bệnh khô vằn với diện tích là 6,8 nghìn ha; ngoài ra các sâu bệnh rải rác như: rầy các loại 455 ha; đạo ôn 12 ha; sâu đục thân 15 ha; châu chấu, chuột, sâu cuốn lá... phát sinh mức độ thấp. Trên cây Ngô xuất hiện rải rác diện tích nhiễm bệnh khô vằn, sâu cắn lá khoảng 15 ha. Ngành chức năng đã chủ động giám sát sinh vật hại và hướng dẫn các địa phương phòng trừ sâu bệnh.
Đến thời điểm hiện nay một số diện tích lúa sớm đã cho thu hoạch. Nhìn chung cây lúa năm nay phát triển bình thường, sâu bệnh nhiều hơn. Nếu từ nay đến cuối vụ không có diễn biến thời tiết bất lợi phát sinh, dự ước năng suất lúa tương đương cùng kỳ; sản lượng lúa đạt và vượt kế kế hoạch.
- Cây lâu năm: Hiện nay các loại cây lâu năm trên địa bàn đều phát triển tốt. Cây chè đang vào giai đoạn thu hoạch rộ; một số cây ăn quả như vải, xoài... đang chuẩn bị cho thu hoạch.
Trồng mới chè: Hiện nay các địa phương đang triển khai cho các hộ nông dân đăng ký nhu cầu trồng mới và trồng thay thế chè năm 2019. Tính đến ngày 15/5/2019, kết quả đăng ký trồng chè năm 2019 được 650 ha, bằng 87% kế hoạch. Một số địa phương đã triển khai nghiệm thu diện tích đất, kết quả nghiệm thu được 70 ha/650 ha đăng ký.
Ngành chức năng tiếp tục hướng dẫn các hộ nông dân chăm sóc cây chè mới trồng, hướng dẫn các vườn ươm chè giống chăm sóc đảm bảo số lượng, chất lượng và sản xuất chè giống năm 2019. Duy trì công tác triển khai tập huấn về kỹ thuật trồng, chăm sóc và sản xuất chè theo quy trình VietGap.
Tình hình sâu bệnh trên cây chè: Tổng diện tích bị chè nhiễm bệnh khoảng 138 ha, thấp hơn so với cùng kỳ; chủ yếu do rầy xanh diện tích nhiễm khoảng 67 ha, bọ cánh tơ khoảng 20 ha, bọ xít muỗi 41 ha, bệnh phồng lá, nhện đỏ diện tích nhiễm 10 ha...
2. Chăn nuôi
- Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm
Tình hình bệnh Dịch tả lợn Châu phi trên địa bàn tỉnh vẫn diễn biến phức tạp. Tính lũy kế từ ngày 5/3/2019 khi mới phát sinh ổ dịch đến ngày 21/4/2019, trên địa bàn tỉnh có 03 địa phương là huyện Phú Bình, Thị xã Phổ Yên và Thành phố Sông Công có lợn dương tính với Dịch tả lợn Châu Phi. Tuy nhiên từ cuối tháng 4 và đầu tháng 5/2019 bệnh Dịch tả lợn Châu phi đã lây lan rất nhanh ra toàn bộ 9/9 huyện, thành phố, thị xã của tỉnh đều xuất hiện Dịch tả lợn Châu phi. Tính đến ngày 21/5/2019, tổng số lợn mắc bệnh, nghi mắc bệnh tại ổ dịch và các hộ liền kề có nguy cơ lây nhiễm cao buộc phải tiêu hủy là 16,4 nghìn con lợn (chiếm khoảng 2,4% tổng đàn lợn hiện có của tỉnh), với trọng lượng khoảng 1.010 tấn của 1.691 hộ thuộc 569 thôn, 112 đơn vị cấp xã trên địa bàn.
Công tác phòng trừ dịch bệnh: Trên toàn tỉnh có 57 chốt kiểm dịch tạm thời (5 chốt tỉnh, 52 chốt huyện). Tổng số lít hóa chất cấp tỉnh đã cấp 25,7 nghìn lít hóa chất. Cấp huyện, xã đã chủ động mua thêm hóa chất, vôi bột cấp cho các hộ chăn nuôi để sát trùng, tiêu độc chuồng trại, lối đi lại, môi trường chăn nuôi.
Ngành chức năng tăng cường công tác tuyên truyền, đề nghị các xã, phường tiếp tục tăng cường hơn nữa công tác phòng, chống dịch bệnh Dịch tả lợn Châu phi; các địa phương có chốt kiểm dịch đảm bảo lực lượng, phương tiện kiểm soát chặt chẽ các phương tiện vận chuyển động vật, sản phẩm động vật qua chốt; tăng cường phun thuốc khử trùng tiêu độc, tránh lây lan dịch bệnh sang các khu vực lân cận.
Công tác tuyên truyền, tập huấn kỹ thuật: Tổ chức các hội nghị về phòng chống bệnh dịch tả lợn Châu Phi; tổ chức tập huấn 30 lớp cho các hộ chăn nuôi trên địa bàn về chăn nuôi an toàn sinh học và các biện pháp phòng chống dịch với trên 2,5 nghìn người tham gia; in 6 nghìn tờ rơi, xây dựng tin bài tuyên truyền, in sao đĩa gửi các sở, ngành, các địa phương để phối hợp tuyên truyền về công tác phòng, chống bệnh Dịch tả lợn Châu phi.
Công tác giám sát, chẩn đoán xét nghiệm, xử lý dịch bệnh: Tính đến thời điểm ngày 21/5/2019 có 786 mẫu gửi xét nghiệm (16 mẫu phủ tạng, 768 mẫu huyết thanh, 02 mẫu thức ăn chăn nuôi) thuộc 274 hộ của 112 xã, 09 huyện, thành phố, thị xã. Tổng số 162 hộ có mẫu cho kết quả dương tính (+) với Dịch tả lợn Châu Phi.
Các đội kiểm tra liên ngành: 09 đội kiểm tra liên ngành (01 đội cấp tỉnh, 08 đội cấp huyện) đã phối hợp với chính quyền cơ sở kiểm tra 12 cơ sở giết mổ động vật, đồng thời kiểm tra hoạt động buôn bán, vận chuyển động vật, sản phẩm động vật tại các chợ và các địa bàn; kiểm tra công tác phòng, chống bệnh Dịch tả lợn Châu Phi tại các xã, phường, thị trấn trên địa bàn quản lý … Xử phạt vi phạm hành chính 5 trường hợp, nộp ngân sách trên 24 triệu đồng.
Nhận định tình hình: Bệnh dịch tả lợn châu Phi hiện nay chưa có thuốc chữa, chưa có vắc-xin phòng bệnh nên nguy cơ dịch tiếp tục phát sinh trong thời gian tới là rất cao. Bệnh có khả năng lây lan sang các xã, phường khác chưa có dịch với nhiều hình thức, đặc biệt là bệnh có khả năng lây nhiễm vào các cơ sở chăn nuôi lợn có quy mô đàn lớn. Vì vậy, các địa phương cần tăng cường chốt kiểm dịch, tổ chức tuyên truyền và phát động tổng vệ sinh khử trùng, tiêu độc thường xuyên ở cấp độ cao trên địa bàn toàn tỉnh.
Giá bán sản phẩm chăn nuôi: Do bệnh Dịch tả lợn Châu phi lây lan nhanh trên 9/9 huyện, thành phố, thị xã của tỉnh nên thị trường tiêu thụ lợn bị ảnh hưởng. So với tháng trước, giá bán bình quân sản phẩm thịt lợn hơi tháng 5/2019 giảm 4,5%, giá thịt gà hơi công nghiệp bình quân tăng 1,65%. Do dịch bệnh nên công tác tái đàn giảm. Hiện nay, giá lợn giống giảm 6,17% so với tháng trước, giá gà giống bình quân tương đương tháng trước. Nhưng nếu so với thời điểm cùng kỳ năm 2018, giá bán bình quân thịt lợn hơi vẫn cao hơn 9,95%; thịt gà ta hơi tăng 15% và giá bán bình quân gà công nghiệp tăng 7,82% so cùng kỳ.
3. Lâm nghiệp
Công tác trồng rừng: Hiện nay các địa phương đang khẩn trương triển khai công tác trồng rừng. Tính đến ngày 15/5/2018 trên địa bàn toàn tỉnh trồng được khoảng 850 ha rừng tập trung, bằng 33% kế hoạch cả năm.
Tình hình khai thác lâm sản: ước tính tháng 5/2019 sản lượng gỗ khai thác ước đạt 11,1 nghìn m3 gỗ tròn các loại, tăng 2,8% so cùng kỳ; củi khai thác khoảng 12,9 nghìn ste, tăng 5,5%. Tính chung 5 tháng 2019, sản lượng gỗ khai thác đạt khoảng 56 nghìn m3, tăng 3,3%; củi khai thác ước đạt 67,2 nghìn ste, tăng 5,2% so với cùng kỳ.
Công tác quản lý và bảo vệ rừng: Từ đầu năm 2019 đến nay trên địa bàn  toàn tỉnh không xảy ra cháy rừng. Trong tháng 4/2019, xử lý 16 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, tịch thu 35m3gỗ quy tròn các loại, thu nộp ngân sách 72 triệu đồng. Lũy kế 4 tháng 2019 trên địa bàn tỉnh đã phát hiện, xử lý 61 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, giảm 33% so cùng kỳ, tịch thu 100m3 gỗ quy tròn các loại và thu nộp ngân sách nhà nước 386 triệu đồng.
4. Thủy sản
Các địa phương tiếp tục chăm sóc, phòng bệnh cho thủy sản và tiêu thụ cá giống cung cấp cho thả cá năm 2019. Dự ước đến hết tháng 5 năm 2019 sản xuất cá bột đạt hơn 250 triệu con, cá giống 8 triệu con và sản lượng thủy sản thu hoạch ước đạt 6,2 nghìn tấn.
II. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp trên địa bàn tháng 4/2019 tăng 8,8% so với cùng kỳ đã thúc đẩy nhịp độ sản xuất công nghiệp trong tháng 5/2019. Cụ thể lượng tồn kho của các đơn vị sản xuất công nghiệp tính đến đầu tháng 5/2019 là sắt thép các loại tồn 167 nghìn tấn, tuy cao hơn sản lượng sản xuất bình quân 1 tháng nhưng đã giảm 24,4% so cùng kỳ; điện thoại thông minh và máy tính bảng tồn khoảng 2 triệu sản phẩm, giảm so với tồn kho cùng kỳ; sản phẩm may tồn 6,3 triệu sản phẩm, tăng 9,5%; xi măng tồn 90 nghìn tấn, gấp 2,1 lần tồn kho cùng kỳ…
Do tiêu thụ sản phẩm tốt nên sản xuất công nghiệp trên địa bàn tháng 5/2019 tăng khá cao so tháng trước và so cùng kỳ. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tháng 5/2019 dự ước tăng 13,2% so với tháng trước, tăng 9,5% so với cùng kỳ. Trong đó công nghiệp chế biến chế tạo tăng 9,9% so với tháng trước và tăng 13,4% so với cùng kỳ; sản xuất phân phối điện tăng 10,8% so với tháng trước và tăng 4% so với cùng kỳ; cung cấp nước và hoạt động quản lý và xử lý rác thải giảm 15,7% so với cùng kỳ; ngành khai khoáng giảm 16,7% so với cùng kỳ.
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất trong tháng 5/2019: Nhóm sản phẩm sản xuất ước tính tăng trên 10% so với cùng kỳ là: điện thoại thông minh 10,1 triệu sản phẩm, tăng 15,5% (trong đó, nhóm điện thoại có giá dưới 3 triệu đồng/1 sản phẩm, sản lượng tăng 9,7%; nhóm điện thoại có giá từ 6 triệu trở lên/1 sản phẩm, sản lượng tăng 13,2% so cùng kỳ); mạch điện tử tích hợp đạt 8 triệu sản phẩm, cao gấp 2 lần; camera truyền hình đạt 6,5 triệu sản phẩm, tăng 95,3%; sản phẩm may đạt 6,7 triệu sản phẩm, tăng 12,8%;  phụ tùng khác của xe có động cơ đạt 5,4 triệu sản phẩm, tăng 11,4%; điện thương phẩm đạt 420 triệu Kwh, tăng 10,9%; điện sản xuất đạt 155 triệu Kwh, tăng 10,7% ... Nhóm sản phẩm tăng thấp hoặc giảm hơn so với cùng kỳ là: xi măng đạt 180,8 nghìn tấn, tăng 3,9%; sắt thép các loại đạt 134,4 nghìn tấn, giảm 6,5%; máy tính bảng đạt 1,7 triệu sản phẩm, giảm 38,3%; tai nghe điện thoại 3,7 triệu sản phẩm, giảm 10%; vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 1,4 nghìn tấn, giảm 14,4%; đồng tinh quặng đạt 3 nghìn tấn, giảm 25,7%; gạch xây dựng bằng gốm, sứ đạt 6,1 triệu viên, giảm 9,6%;nước máy thuơng phẩm đạt 2,5 triệu m3, giảm 16,6%; than khai thác đạt 113,7 nghìn tấn, giảm 23,6%.
Tính chung 5 tháng đầu năm 2019, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7,9% so với cùng kỳ (thấp hơn mức tăng 12,1% của chỉ số 5 tháng 2018). Trong đó, công nghiệp chế biến chế tạo tăng cao nhất với mức tăng 8,1% (riêng nhóm sản xuất sản phẩm điện tử tăng 8,7%; sản xuất trang phục tăng 27,8%; sản xuất kim loại giảm 16,5%; chế biến gỗ giảm 10%); nhóm ngành sản xuất, phân phối điện tăng tăng 6,1%; ngành công nghiệp khai khoáng giảm 3,5% (do khai thác than giảm 14%); cung cấp nước và hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 12,4%...
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu tính chung 5 tháng đầu năm 2019, nhóm các sản phẩm công nghiệp tăng từ 7% trở lên so với cùng kỳ là: điện thoại thông minh đạt 41,8 triệu sản phẩm, tăng 9,5% (nhóm điện thoại có giá dưới 3 triệu tăng 18%; điện thoại có giá từ 6 triệu trở lên tăng 7,9%; điện thoại có giá từ 3 đến 6 triệu giảm 1,6%); camera truyền hình đạt 34 triệu sản phẩm, tăng 65,5%; mạch điện tử tích hợp đạt 42,3 triệu sản phẩm, tăng 37,6%; sản phẩm may đạt 34,8 triệu sản phẩm, tăng 27,8%; đá khai thác 1.881 nghìn m3, tăng 30,3%; điện thương phẩm đạt 1.935 triệu Kwh, tăng 7,2%...
Nhóm sản phẩm có sản lượng sản xuất 5 tháng 2019 tăng thấp so với cùng kỳ là: xi măng đạt 867,6 nghìn tấn, tăng 3,5%; phụ tùng khác của xe có động cơ 25,2 triệu cái, tăng 6,1%; điện sản xuất 745 triệu Kwh, tăng 5,7%; thiết bị và dụng cụ khác trong y khoa đạt 632,6 triệu sản phẩm, tăng 2,7%... Nhóm sản phẩm sản xuất 5 tháng 2019 giảm do tiêu thụ gặp khó khăn là: sắt thép các loại đạt 555 nghìn tấn, giảm 16,9%; đồng tinh quặng đạt 16,8 nghìn tấn, giảm 4,6%; vonfram và sản phẩm của vonfram đạt 6,5 nghìn tấn, giảm 13,8%; máy tính bảng đạt 7,2 triệu sản phẩm, giảm 14%; than khai thác đạt 571,8 nghìn tấn, giảm 14,1%; nước máy thương phẩm 12 triệu m3, giảm 13,3%; gạch xây dựng bằng gốm, sứ đạt 27,4 triệu viên, giảm 0,8%...
III. Thương mại, dịch vụ, giá cả
1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn tỉnh tháng 5 năm 2019 ước đạt 3.035,7 tỷ đồng, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 13,7% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 165,8 tỷ đồng, tăng 15,1% cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 2.853,3 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 94% thị phần bán lẻ), tăng 13,6% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 16,6 tỷ đồng, tăng 8,9% so với cùng kỳ.
Nếu phân theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ tháng 5 năm 2019 ước đạt 2.392, 1 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 78,8%), tăng 14,8% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 295,1 tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ tiêu dùng còn lại ước đạt 338,2 tỷ đồng, tăng 9,2% cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành chỉ chiếm một phần rất nhỏ (đạt khoảng 10,4 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,34% trong tổng mức), tăng 37,6% so với cùng kỳ.
Tính chung 5 tháng đầu năm 2019 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn ước đạt gần 15 nghìn tỷ đồng, tăng 13% so với cùng kỳ (nếu loại trừ yếu tố giá thì mức tăng là 9,7%); trong đó: khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 806,7 tỷ đồng, tăng 15,4% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 14.106,7 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 94,1% thị phần bán lẻ), tăng 12,9% cùng kỳ; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 76,6 tỷ đồng, tăng 8,8% so với cùng kỳ.
Nếu phân theo ngành kinh tế, nhóm ngành thương nghiệp bán lẻ ước đạt 11.952 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 79,7%), tăng 13,8% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống doanh thu ước đạt 1.403 tỷ đồng, tăng 10,5% so với cùng kỳ; nhóm du lịch lữ hành chỉ chiếm rất nhỏ đạt 34 tỷ đồng, tăng 36,7% (do kỳ nghỉ lễ 30/4- 1/5 kéo dài, hơn nữa thời tiết chuyển mùa nóng, bắt đầu vào mùa du lịch nên nhu cầu du lịch tăng cao hơn); nhóm dịch vụ tiêu dùng khác ước đạt 1.600,8 tỷ đồng, tăng 9,2% cùng kỳ.
Trong cơ cấu doanh thu bán lẻ, tất cả các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng 5 tháng đầu năm 2019 đều tăng. Nhóm mặt hàng đạt doanh thu bán lẻ lớn nhất là nhóm lương thực, thực phẩm đạt 3.936,2 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 33,2% doanh thu bán lẻ), tăng 14,4% so với cùng kỳ; tiếp đến là nhóm xăng, dầu các loại ước đạt 1.426,6 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 11,9%), tăng 14,9%; nhóm đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 1.360,6 tỷ đồng, tăng 13,8% cùng kỳ; nhóm ô tô các loại đạt 1.257,4 tỷ đồng, tăng 15,2%; nhóm hàng may mặc đạt 924,9 tỷ đồng, tăng 12,3%...
2. Xuất nhập khẩu
a. Xuất khẩu
Giá trị xuất khẩu trên địa bàn tháng 5/2019 ước đạt 2,43 tỷ USD, tăng 21,5% so với cùng kỳ. Trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu đạt 37 triệu USD, giảm 7,8% so với cùng kỳ (do sản phẩm may địa phương xuất khẩu giảm); khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2,4 tỷ USD (bằng 98,5% tổng kim ngạch xuất khẩu), tăng 22,1% so với cùng kỳ.
Nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trong tháng 5/2019 dự ước tăng trên 15% so với cùng kỳ là: điện thoại thông minh đạt 8,3 triệu sản phẩm với giá trị đạt 1,8 tỷ USD, tăng 28% về lượng và tăng 32,8% về giá trị; máy tính bảng đạt 1,6 triệu sản phẩm với giá trị đạt 264 triệu USD, tăng 3% về lượng và tăng 17,7% về giá trị; sản phẩm từ sắt thép đạt 7 triệu USD, tăng 40%; chè các loại đạt 152 tấn với giá trị đạt 219 nghìn USD, tăng 35,7% về lượng và tăng 24,4% về giá trị; phụ tùng vận tải đạt 0,6 triệu USD, tăng 42,6%...Bên cạnh đó, nhóm sản phẩm xuất khẩu tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ như: sản phẩm may đạt 27,7 triệu USD, tăng 1%; linh kiện điện tử và sản phẩm điện tử khác đạt 280 triệu USD, giảm 9%; kim loại màu và tinh quặng kim loại màu đạt 19 triệu USD, giảm 30,3%...
Tính chung 5 tháng đầu năm 2019, tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn ước đạt 11,52 tỷ USD, tăng 10,5% so với cùng kỳ, bằng 41,8% kế hoạch cả năm. Riêng xuất khẩu địa phương quản lý ước đạt 196,4 triệu USD, tăng 40,8% cùng kỳ và bằng 32,7% kế hoạch cả năm.
Trong tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn 5 tháng đầu năm 2019, khu vực kinh tế trong nước ước đạt 200 triệu USD, tăng 40,5% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài khoảng 11,32 tỷ USD, tăng 10,1% so cùng kỳ. 
Mặt hàng xuất khẩu 5 tháng 2019 chiếm tỷ trọng lớn nhất về giá trị xuất khẩu là nhóm hàng điện thoại, máy tính bảng các loại và sản phẩm điện tử khác giá trị xuất khẩu đạt 11,17 tỷ USD (chiếm 97% tổng số), tăng 10% so với cùng kỳ và bằng 45,6% kế hoạch cả năm (bao gồm: điện thoại xuất khẩu 37,1 triệu sản phẩm với giá trị đạt 8,35 tỷ USD, tăng 19,6%; máy tính bảng 7,2 triệu sản phẩm với giá trị đạt 1,17 tỷ USD, tăng 1,4% cùng kỳ; linh kiện điện tử và sản phẩm điện tử khác đạt 1,64 tỷ USD, giảm 18% cùng kỳ); sản phẩm may đạt 131 triệu USD, tăng 36%; sản phẩm từ sắt thép đạt 35,1 triệu USD, tăng 61,7% và bằng 67,5% kế hoạch... Riêng nhóm kim loại màu và tinh quặng kim loại màu ước đạt 110 triệu USD, tăng 0,4% cùng kỳ và bằng 60,8% kế hoạch cả năm
b. Nhập khẩu
Giá trị nhập khẩu trên địa bàn tháng 5/2019 ước đạt 1,42 tỷ USD, tăng 20,5% so với cùng kỳ và tăng 3,1% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước ước đạt 28,5 triệu USD, tăng 10,9% so với tháng trước nhưng giảm 17,5% so với cùng kỳ (do không phát sinh nhập khẩu phế liệu sắt thép); khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,39 tỷ USD (bằng 98% tổng giá trị nhập khẩu), tăng 21,7% so với cùng kỳ .
Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tháng 5/2019 tăng trên 20% so với cùng kỳ: nguyên liệu và linh kiện điện tử đạt 1,36 tỷ USD, tăng 24%; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 16,2 triệu USD, gấp 3 lần; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 8,6 triệu USD, tăng 84,1%; nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 4 triệu USD, tăng 46,4%. Bên cạnh đó còn có một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tăng thấp hơn hoặc giảm so với cùng kỳ như: giấy các loại đạt 0,5 triệu USD, tăng 9,8%; vải và nguyên phụ liệu dệt may đạt 14,2 triệu USD, giảm 23,7%; sắt thép các loại đạt 2,7 triệu USD, giảm 19,5%; sản phẩm từ sắt thép đạt 2,4 triệu USD, bằng 8,3% cùng kỳ.
Tính chung 5 tháng đầu năm 2019, giá trị nhập khẩu trên địa bàn ước đạt 6,68 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ. Chia theo khu vực kinh tế, khu vực kinh tế trong nước đạt 118,5 triệu USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 6,56 tỷ USD, chiểm tỷ trọng 98,2% tổng giá trị nhập khẩu.
Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu 5 tháng đầu năm 2019: nguyên liệu và linh kiện điện tử đạt 6,39 tỷ USD, tăng 8,3%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 59,7 triệu USD, cao gấp 2,8 lần; chất dẻo (plastic) nguyên liệu đạt 68,6 triệu USD, gấp 2,1 lần; vải và nguyên phụ liệu dệt may đạt 73,7 triệu USD, tăng 21,9%; giấy các loại đạt 2,5 triệu USD, tăng 16,4%... Nhóm mặt hàng nhập khẩu đạt thấp hơn so với cùng kỳ như: nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc đạt 12,3 triệu USD, giảm 4,8%; sắt thép các loại đạt 8,9 triệu USD, giảm 33,2%; sản phẩm từ sắt thép đạt 17 triệu USD, giảm 54,6%...
3. Chỉ số giá tiêu dùng
Mặc dù giá các mặt hàng lương thực và thực phẩm giảm nhưng do tác động của các mặt hàng như xăng dầu và nhóm điện, gas tăng giá nên chỉ số giá tiêu dùng tháng 5/2019 tính chung trên địa bàn tăng 0,02% so với tháng trước; tăng 1,98% so với cùng kỳ; tăng 0,87% so với tháng 12/2018. Bình quân 5 tháng đầu năm tăng 2,54% so với bình quân cùng kỳ.
So với tháng trước, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,04% (do giá lương thực giảm 0,26%; nhóm thực phẩm giảm 1,38% như: thịt lợn giảm 4%; thịt chế biến giảm 2,2%; giá trứng các loại giảm 6%; giá dầu mỡ ăn và chất béo giảm 4,07%; quả tươi chế biến giảm 0,92%...). Có 6/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ đều có chỉ số giá tăng, trong đó, tăng nhiều nhất là nhóm giao thông tăng 2,31% (do giá nhiên liệu xăng, dầu diezen tăng tăng 5,77%); nhóm Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,89% (giá điện bình quân và dịch vụ điện tăng 5,42%; ga và các loại chất đốt tăng 0,47%); nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình; nhóm đồ uống và thuốc lá; nhóm văn hóa giải trí và du lịch; nhóm may mặc, giày dép và mũ nón tăng nhẹ từ khoảng 0,05 đến 0,15%. Có 3 nhóm có chỉ số giá tương đương so với tháng trước là nhóm thuốc và dịch vụ y tế; nhóm bưu chính viễn thông và nhóm giáo dục.
So với cùng kỳ (tháng 5/2018), chỉ số giá tiêu dùng tháng 5/2019 tăng 1,98%. Có 9/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có chỉ số giá tăng, trong đó nhóm chỉ số giá tăng cao nhất là nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,66% (trong đó nhóm nhà ở tăng 5,13%; nhóm nước sinh hoạt và dịch vụ nước tăng 4,4%; điện sinh hoạt tăng 4%; gas tăng 4,84%); tiếp đến là nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 3,08% (trong đó nhóm dịch vụ khám sức khỏe tăng 4,18%); nhóm giáo dục tăng 2,96% (do nhóm văn phòng phẩm tăng 2%, dịch vụ giáo dục tăng 3,18%); nhóm giao thông tăng 1,75%; nhóm may mặc, giày dép và mũ nón tăng 1,52%; còn lại các nhóm tăng trong khoảng từ 0,55% đến 0,99% như nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,55% (do nhóm lương thực giảm 2,5%; nhóm thực phẩm giảm 0,02%; nhóm rau tươi, khô và chế biến tăng 19,2%); nhóm đồ uống và thuốc lá; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,99%. Có 2/11 nhóm có chỉ số giảm như:  nhóm bưu chính viễn thông giảm 1,47% (do nhóm thiết bị điện thoại giảm 8,2%); nhóm văn hóa giải trí và du lịch giảm 0,54% (do nhóm thiết bị văn hóa giảm 3,7%; giải trí tăng 4,2%).
So với tháng 12/2018, chỉ số giá tiêu dùng tăng 0,87%. Riêng nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,87% (do giá lương thực giảm 1,75%; nhóm thực phẩm giảm 0,9%). Có 7/11 nhóm chỉ số giá tăng; trong đó, tăng nhiều nhất là nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,04% (do nhà ở thuê  tăng 4,98%; nhóm điện và dịch vụ điện tăng 9,06%); nhóm giao thông tăng 4,63% (do giá nhiên liệu tăng 13,7%); còn lại 04/11 nhóm tăng nhẹ trong khoảng từ 0,02% đến 0,38% như  đồ uống và thuốc lá, nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,07%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,38%. Còn lại 4/11 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm nhẹ trong khoảng từ 0,05% đến 0,87% như: nhóm may mặc, giày dép và mũ nón giảm 0,05%;  nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,1%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,11% (do giá thiết bị điện thoại giảm 0,57%).
Chỉ số giá Vàng tháng 5/2019 giảm 0,47% so với tháng trước và giảm 1,02% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá vàng bình quân 5 tháng đầu năm 2019 giảm nhẹ, giảm 0,45% so với cùng kỳ.
Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 5/2019 tăng 0,46% so tháng trước và tăng 2,44% so với cùng kỳ. Chỉ số giá Đô la Mỹ bình quân 5 tháng đầu năm 2019 tăng 2,16% so với cùng kỳ.
4. Vận tải
- Vận tải hành khách: tháng 5 bắt đầu vào mùa du lịch nên hoạt động vận tải tăng hơn so với tháng trước. Dự ước, số lượng hành khách vận chuyển tháng 5/2019 đạt 1,6 triệu lượt hành khách với khối lượng luân chuyển là 93,5 triệu hành khách.km, so với tháng trước tăng 3,2% về số lượng hành khách vận chuyển và số hành khách luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 9,5% về số lượng hành khách vận chuyển và tăng 9,1% số hành khách luân chuyển.
Tính chung 5 tháng đầu năm 2019 số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 8,8 triệu lượt hành khách, tăng 9,6% so với cùng kỳ (trong đó, vận tải đường thủy 48 nghìn lượt người, tăng 9%). Khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 503,1 triệu lượt hành khách.km, tăng 9,2% so cùng kỳ.
- Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 5/2019 ước đạt 3,4 triệu tấn với khối lượng luân chuyển ước đạt 136,3 triệu tấn.km; so với tháng trước tăng 5,5% về khối lượng hàng hóa vận chuyển và tăng 8,1% khối lượng hàng hóa luân chuyển; so với cùng kỳ tăng 5,4% khối lượng hàng hóa vận chuyển và tăng 6,7% khối lượng hàng hóa luân chuyển. Tính chung 5 tháng đầu năm 2019, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 17,5 triệu tấn, tăng 9,5% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 694,3 triệu tấn.km, tăng 8,7% so cùng kỳ.
- Doanh thu vận tải trên địa bàn tháng 5/2019 ước đạt 349,6 tỷ đồng, tăng 7,1% so với tháng trước và tăng 9,9% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 66,5 tỷ đồng, tăng 3,2% so với tháng trước và tăng 12,1% so cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 265 tỷ đồng, tăng 8,1% so với tháng trước và tăng 9,2% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 18,1 tỷ đồng, tăng 6,9% so với tháng trước và tăng 13% so với cùng kỳ.
Tính chung 5 tháng đầu năm 2019, doanh thu vận tải trên địa bàn ước đạt 1.828,7 tỷ đồng, tăng 11,4%; trong đó, doanh thu vận tải hàng hóa chiếm tỷ trọng cao nhất (73,8%) và đạt 1.350,4 tỷ đồng, tăng 11,3% so cùng kỳ; doanh thu vận tải hành khách đạt 357,6 tỷ đồng, tăng 12,2%; doanh thu từ dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 120,7 tỷ đồng, tăng 10,1%.
IV. Thu chi ngân sách, ngân hàng
1. Thu ngân sách
- Thu ngân sách nhà nước: Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh 4 tháng đầu năm 2019 đạt 4.925 tỷ đồng, tăng 6,2% so với cùng kỳ và bằng 32,8% so với dự toán cả năm. Trong đó thu nội địa đạt 3.913 tỷ đồng, tăng 5,2% so với cùng kỳ và bằng 33,6% so với dự toán; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 991,4 tỷ đồng, tăng 9,7% so với cùng kỳ và bằng 29,6% so với dự toán cả năm 2019.
Trong thu nội địa, có 9/14 khoản thu tăng so với cùng kỳ, trong đó có 5 khoản thu tăng đồng thời đạt trên 33% dự toán cả năm như: thu tiền cấp quyền sử dụng đất đạt 521,6 tỷ đồng, tăng 56,5% và bằng 33,7% dự toán; Thu từ doanh nghiệp Nhà nước trung ương và địa phương đạt 438,7 tỷ đồng, tăng 25,6% so cùng kỳ và bằng 45,2% dự toán; thu lệ phí trước bạ đạt 172,3 tỷ đồng, tăng 31,7%, bằng 46,6% dự toán; thu phí lệ phí đạt 67,6 tỷ đồng, tăng 3,1%, bằng 33,8% dự toán; thu hoạt động xổ số kiến thiết đạt 4,3 tỷ đồng, tăng 12,4%, bằng 35,8% dự toán.
Các khoản thu tăng so cùng kỳ nhưng đạt dưới 30% so dự toán như: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.247 tỷ đồng, tăng 14,8%, bằng 29,8% dự toán cả năm; thu tiền cho thuê đất tăng 6,8% cùng kỳ, bằng 23,3% dự toán... Các khoản thu giảm so với 4 tháng 2018 như: Thu từ khu vực dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 598,9 tỷ đồng, giảm 23,5% cùng kỳ và bằng 32,4% dự toán; thuế thu nhập cá nhân đạt 462,2 tỷ đồng, giảm 12,7%, bằng 39,2% dự toán; thu thuế bảo vệ môi trường giảm 7,6% và bằng 25,3% dự toán; thu cấp quyền khai thác khoáng sản giảm 1,6% cùng kỳ...
- Chi ngân sách địa phương: Tổng chi cân đối ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh 4 tháng đầu năm 2019 đạt 3.332,9 tỷ đồng, tăng 29,2% so với cùng kỳ và bằng 24,4% dự toán cả năm; trong đó, chi đầu tư phát triển 921,2 tỷ đồng (chiếm 27,6% trong tổng chi cân đối ngân sách địa phương), tăng 91% so với cùng kỳ và bằng 28,6% dự toán cả năm; chi thường xuyên đạt 2.411,6 tỷ đồng (chiếm 72,4%), tăng 14,9% so với cùng kỳ và bằng 29,1% dự toán cả năm.
Trong tổng chi thường xuyên, 8/11 khoản chi tăng hơn so cùng kỳ; chiếm tỷ trọng lớn nhất là chi sự nghiệp giáo dục đào tạo và dạy nghề đạt 904,6 tỷ đồng (chiếm 37,5%), tăng 12% so với cùng kỳ và bằng 25% dự toán cả năm; chi sự nghiệp kinh tế đạt 315,1 tỷ đồng, tăng 61% và bằng 35,7% dự toán năm; chi sự nghiệp phát thanh truyền hình đạt 29,1 tỷ đồng, tăng 86%; chi khác của ngân sách đạt 39,7 tỷ đồng, gấp 5,2 lần so với cùng kỳ và bằng 46,1% dự toán; chi quản lý hành chính tăng 1,6% cùng kỳ và bằng 33,1% dự toán cả năm... một số khoản chi giảm so với cùng kỳ như: Chi sự nghiệp khoa học và công nghệ đạt 18,6 tỷ đồng, giảm 2%; chi đảm bảo xã hội đạt 102,9 tỷ đồng, giảm 1,7%; chi sự nghiệp y tế, dân số và gia đình đạt 250,3 tỷ đồng, giảm 2%.
2. Ngân hàng
- Tình hình thực hiện lãi suất:
Về lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam phổ biến ở mức 0,5-1%/năm đối với lãi suất huy động tiền gửi kỳ hạn dưới 1 tháng; từ 4,5-5,5%/năm đối với kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; từ 5,5-8%/năm đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Về lãi suất cho vay bằng Việt Nam đồng đối với các lĩnh vực ưu tiên là 6,5%/năm. Lãi suất cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,8%-9%/năm đối với ngắn hạn, từ 9%-11%/năm đối với trung và dài hạn.
- Hoạt động huy động vốn: Nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (không bao gồm ngân hàng Phát triển) đến thời điểm ngày 30/4/2019 đạt 58.646 tỷ đồng, tăng 8,63% so với 31/12/2018. Ước đến 31/5/2019 đạt 59.200 tỷ đồng, tăng 9,65% so với 31/12/2018.
- Dư nợ cho vay của các TCTD, chi nhánh ngân hàng (không bao gồm ngân hàng Phát triển) đến 30/4/2019 đạt 51.056 tỷ đồng, tăng 1,17% so với 31/12/2018. Ước đến 31/5/2019 đạt 51.500 tỷ đồng, tăng 2,05% so với 31/12/2018.
Nợ xấu đến 30/4/2019 là 475 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,93%/tổng dư nợ.
Chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp và Cho vay đối với ngành chăn nuôi lợn và thiệt hại do dịch tả lợn Châu Phi
- Chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp: tính đến thời điểm báo cáo, các ngân hàng trên địa bàn đã tổ chức được đã tổ chức được 5 hội nghị đối thoại/kết nối với số tiền cam kết hỗ trợ là 4.735tỷ đồng cho 202 doanh nghiệp, dư nợ là 3.481 tỷ đồng.
- Dư nợ cho vay đối với ngành chăn nuôi lợn đến hết tháng 4/2019 là 1.872 tỷ đồng, trong đó các ngân hàng trên địa bàn đã thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ với dư nợ 12 tỷ đồng nhằm tháo gỡ khó khăn cho người chăn nuôi lợn khi xảy ra dịch tả lợn Châu Phi.
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin tuyên truyền
Trong tháng 5/2019, Ngành chức năng tiếp tục triển khai thực các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, luân chuyển sách phục vụ nhân dân đặc biệt là đồng bào vùng sâu, vùng xa, các đối tượng chính sách được thực hiện đảm bảo kế hoạch đề ra. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, xây dựng Nông thôn mới, “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”; tiếp tục thực hiện công tác giới thiệu, quảng bá du lịch Thái Nguyên trên các phương tiện truyền thông.
Hoạt động bảo tàng: Tổ chức triển lãm "Những phát hiện mới khảo cổ học thời Tiền sử tại Thái Nguyên" và Hội thảo "Những phát hiện mới khảo cổ học thời Tiền sử tại Thái Nguyên và kinh nghiệm trong việc phát huy giá trị hiện vật khảo cổ học tại bảo tàng"; sưu tầm tài liệu, hiện vật đợt II/ 2019 với chủ đề "Cách mạng kháng chiến và lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên”; phục vụ 3.813 lượt khách tham quan bảo tàng, triển lãm.
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật, phát hành phim và chiếu bóng: Thực hiện 15 buổi biểu diễn (01 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị; 14 buổi phục vụ đối tượng chính sách và các xã đặc biệt khó khăn). Thực hiện 90 buổi chiếu phim (05 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị, 85 buổi phục vụ các xã vùng khó khăn, đối tượng chính sách); phục vụ 5.800 lượt người xem.
Hoạt động thư viện: Tham gia Liên hoan, tuyên truyền giới thiệu sách kỷ niệm 65 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đạt giải Ba toàn đoàn. Cấp 32 thẻ, phục vụ 3.095 lượt bạn đọc, luân chuyển 5.095 lượt sách báo; thực hiện 04 cuộc giới thiệu sách trên Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh. Xây dựng kế hoạch tổ chức Triển lãm ảnh và giới thiệu tài liệu với chủ đề “50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”; số hóa tài liệu địa chí và nâng cao chất lượng phục vụ của hệ thống thư viện 4.0.
Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở: Tổ chức 11 buổi tuyên truyền, cổ động, triển lãm (kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc và 129  năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh…); triển khai thực hiện 05 điểm mô hình, mẫu hình hoạt động văn hóa văn nghệ, nhà văn hóa theo kế hoạch;  tổng duyệt 02 chương trình thông tin lưu động (diễn xướng dân gian và kịch ngắn “Giới tuyến”); duy trì hoạt động của các Câu lạc bộ văn hoá, văn nghệ.
Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, chung tay xây dựng Nông thôn mới: In và phát hành 3.290 cuốn sách Nét đẹp quê hương tuyên truyền cho phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, chung tay cây dựng nông thôn mới” năm 2019. Phối hợp thực hiện chuyên mục truyền hình phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”,“Nếp sống văn hóa và gia đình” số tháng 05/2019.
Thể thao thành tích cao: Duy trì công tác quản lý, huấn luyện, kiểm tra  việc tập luyện của các đội tuyển. Đạt 01 Huy chương đồng tại giải Cúp các Câu lạc bộ boxing toàn quốc. Các đội tuyển (đua thuyền, muay, bóng đá…) tập luyện tham gia thi đấu các giải toàn quốc theo kế hoạch.
2. Công tác y tế và phòng chống dịch bệnh
 Công tác phòng chống dịch bệnh: Công tác phòng chống dịch và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm được ngành chức năng duy trì thực hiện. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 20/5 có 11 ca sốt xuất huyết (cùng kỳ có 3 ca), 80 ca quai bị (cùng kỳ 156 ca), sốt phát ban dạng sởi 54 ca (cùng kỳ 03 ca), bệnh tay chân miệng 33 ca (cùng kỳ 23 ca); tử vong do bệnh dại có 2 người. Tính riêng trong 20 ngày đầu tháng 5/2019 có 15 ca sốt phát ban dạng sởi, 2 ca tay chân miệng, 2 ca sốt xuất huyết, 01 trường hợp viêm não nhật bản B, 01 trường hợp tử vong do bệnh dại (huyện Đồng Hỷ). Các bệnh truyền nhiễm thông thường khác không có diễn biến đặc biệt.
Công tác khám, chữa bệnh: Hoạt động khám chữa bệnh tại tuyến xã, phường tiếp tục duy trì thực hiện tốt, chú trọng công tác khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế, đối tượng chính sách, trẻ em dưới 6 tuổi. Chất lượng khám chữa bệnh tại các bệnh viện tiếp tục được nâng lên. Ngành chức năng thực hiện thẩm định và bổ sung các trạm y tế đủ điều kiện khám, điều trị ngoại trú bệnh tăng huyết áp; tính đến tháng 4/2019 đã có 92 trạm y tế cấp xã đủ điều kiện khám, điều trị ngoại trú bệnh cao huyết áp, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh nhân cao tuổi trong việc khám chữa bệnh.  
 Trong tháng 5/2019, kỷ niệm 129 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/8/1890 - 19/5/2019), các ngành chức năng phối hợp cùng Sở Y Tế tổ chức Hành trình Thầy thuốc trẻ làm theo lời Bác, tình nguyện vì sức khỏe cộng đồng. Gần 40 bác sĩ trong đoàn đã khám sàng lọc các bệnh về mắt, hô hấp, tim mạch, tiêu hóa, dị tật bẩm sinh và cấp phát thuốc miễn phí cho hơn 300 người thuộc đối tượng chính sách, người cao tuổi và trẻ em của xã Điềm Mặc (Định Hóa); cắt tóc miễn phí và tặng tranh thư pháp… và  Đoàn đã đến dâng hương và báo công với Bác tại Nhà tưởng niệm Người trên đỉnh Đèo De, xã Phú Đình (Định Hóa).
Ngoài ra, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên phối hợp với Tổ chức phòng chống mù lòa Châu Á-APBA tổ chức chương trình phẫu thuật thay thủy tinh thể nhân tạo miễn phí cho 116 người thuộc đối tượng chính sách, người cao tuổi trên địa bàn;  tổ chức chương trình khám, sàng lọc các bệnh lý nhãn khoa và cấp thuốc miễn phí cho gần 1.000 người thuộc đối tượng chính sách ở huyện Đồng Hỷ và T.P Thái Nguyên, lựa chọn trên 100 người bệnh để phẫu thuật thay thủy tinh thể miễn phí.
  Hoạt động tiêm chủng tại các huyện, thành, thị được duy trì thường xuyên, đảm bảo đúng quy trình.
Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm được quan tâm triển khai. Trong tháng 5/2019 không có vụ ngộ độc thực phẩm tập thể xảy ra.
Công tác quản lý hành nghề y dược: Duy trì việc thẩm định đủ điều kiện cấp phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh cho các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân. Thẩm định hồ sơ cấp mới, cấp lại, thay đổi bổ sung chứng chỉ hành nghề y, dược, cơ sở đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm; cấp phép hoạt động phòng khám tư nhân.
Dân số và trẻ em: Bốn tháng đầu năm 2019, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 4.930 trẻ mới sinh, giảm 79 trẻ so với cùng kỳ (cùng kỳ 5.009 trẻ); trong đó, số trẻ em nam sinh ra là 2.600 (chiếm 52,7% tổng số trẻ sinh ra); số trẻ em nữ sinh ra là 2.330 trẻ (chiếm 47,3% tổng số trẻ sinh ra). Tỷ số giới tính khi sinh nam/nữ là 111 trẻ nam/100 trẻ nữ (cùng kỳ năm trước tỷ lệ này là 111,5/100). Trong tổng số trẻ mới sinh, có 545 trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên, chiếm 11% tổng số trẻ sinh. Trong đó, Huyện Phú Bình có trẻ sinh ra là con thứ 3 nhiều nhất với 139 trẻ (chiếm 25,5% tổng số trẻ sinh ra là con thứ 3); Huyện Đại Từ có 83 trẻ; TP Thái Nguyên 75 trẻ.
Tình hình lây nhiễm HIV/AIDS: Tính luỹ tích đến hết tháng 4/2019, tổng số người nhiễm HIV/AIDS toàn tỉnh là 10.204 người, trong đó đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 6.752 người và 3.494 người đã tử vong do HIV/AIDS. Riêng trong tháng 4/2019 số người nhiễm HIV/AIDS mới phát hiện là 14 người, trong đó đã chuyển sang giai đoạn AIDS  là 3 người và 3 người đã tử vong do HIV/AIDS.
3. Giáo dục phổ thông
Ngành chức năng đã tổ chức triển khai, thực hiện khung kế hoạch thời gian năm học 2018-2019 theo quy định. Tháng 5/2019, ngành chức năng tổ chức công tác ôn tập, thi học kỳ II cho học sinh các cấp; chuẩn bị công tác bế giảng đối với với khối giáo dục phổ thông và mầm non; thực hiện các điều kiện cần thiết chuẩn bị cho công tác thi tuyển vào lớp 10 và kỳ thi Trung học phổ thông Quốc gia năm 2019.
Trong tháng 5/2019, một số địa phương đã tổ chức Đại hội Cháu ngoan Bác Hồ và tuyên dương các cháu có thành tích xuất sắc trong học tập, trong công tác Đội và phong trào thanh thiếu nhi.
Tình hình đăng ký dự thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia năm học  2018- 2019: toàn tỉnh  có 14.404 hồ sơ đăng ký dự thi (chia ra: có 5.098 hồ hơ đăng ký chỉ thi tốt nghiệp (chiếm 35,4%); có 8.899 hồ sơ thi tốt nghiệp và tuyển sinh vào các trường chuyên nghiệp; 407 chỉ thi tuyển sinh), giảm 101 hồ sơ so với năm học 2017-2018. Trên địa bàn toàn tỉnh có 31 điểm thi với 610 phòng thi.
Thực hiện đề án xây dựng hệ thống trường đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 2016-2020: tính đến thời điểm đầu tháng 5/2019 toàn tỉnh có 562/680 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 82,65%, tăng 19 trường so với cùng kỳ năm trước, vượt mục tiêu trước 1 năm (Nghị quyết đặt ra đến năm 2020 là đạt 80%). Trong đó, Mầm non 185/233 trường, tỷ lệ 79,4%; Tiểu học 215/224 trường đạt tỷ lệ 95,98%; Trung học cơ sở có 144/191 trường đạt tỷ lệ 75,39%; Trung học phổ thông có 18/32 trường đạt tỷ lệ 56,25%.
4. Thực hiện chính sách ưu đãi Người có công; chính sách giảm nghèo và cứu trợ xã hội
- Thực hiện chính sách ưu đãi Người có công: Trong tháng, ngành chức năng thực hiện chi trả trợ cấp hàng tháng cho các đối tượng chính sách người có công theo quy định. Hướng dẫn, chỉ đạo các địa phương thực hiện điều dưỡng cho người có công và thân nhân người có công năm 2019. Ngành chức năng phối hợp Ban chỉ đạo 515 thực hiện tìm kiếm, quy tập một liệt sĩ trên địa bàn theo Kế hoạch của Ban chỉ đạo tỉnh.
- Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững:  Ngành chức năng ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững năm 2019 tỉnh Thái Nguyên; hướng dẫn các địa phương thực hiện dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo năm 2019 tại các địa bàn các xã thuộc Chương trình 135 và các xã ngoài Chương trình 135.
Ngành chức năng phối hợp các địa phương tổ chức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tự lực cho người nghèo, cộng đồng và xã hội về giảm nghèo; tập huấn triển khai chính sách Bảo trợ xã hội tại 09 huyện, thành phố, thị xã.
5. Lao động, việc làm và An toàn lao động
Trong tháng 5/2019, trên địa bàn tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch thu thập, lưu trữ, tổng hợp thông tin thị trường lao động năm 2019; Tổ chức Lễ hưởng ứng phát động Tháng hành động về an toàn vệ sinh lao động năm 2019; tổ chức kiểm tra công tác an toàn vệ sinh lao động trong tháng hàng động an toàn vệ sinh lao động; thăm hỏi, tặng quà người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; tổ chức các lớp tập huấn chính sách Bảo hiểm xã hội cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
 Hưởng ứng tháng Công nhân, ngành chức năng trong tỉnh triển khai nhiều hoạt động thiết thực, hiệu quả hướng về cơ sở như: đối thoại chính sách; thăm tặng quà; hỗ trợ các cơ chế chính sách chăm lo cho Công nhân lao động; Tổ chức thăm hỏi, tặng quà, tặng nhà “Mái ấm công đoàn” cho đoàn viên công đoàn có hoàn cảnh khó khăn, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp… quan tâm, hướng về người lao động mọi lúc, mọi nơi, chăm lo, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích, hợp pháp, chính đáng của công nhân viên chức, lao động; hỗ trợ thiết thực cho cơ quan, doanh nghiệp trong việc xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ, góp phần vào sự phát triển chung của tỉnh.
6. Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em
 Trong tháng, ngành chức năng tổ chức Lễ phát động Tháng hành động vì trẻ em tỉnh Thái Nguyên năm 2019; các địa phương đã tổ chức nhiều hoạt động vui chơi giải trí cho trẻ em; tổ chức thăm hỏi và tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn vào đầu năm học mới, Tết Thiếu nhi; phối hợp tổ chức khám sàng lọc miễn phí cho trẻ em khuyết tất; trao hàng trăm suất học bổng cho học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn vươn lên học giỏi; đến thăm, tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, các cơ sở nuôi dưỡng trẻ em và một số trường mầm non trên địa bàn tỉnh… 
7. Tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội
- Tình hình an toàn giao thông: Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh, trong tháng 5/2019 trên địa bàn tỉnh xảy ra 14 vụ tai nạn giao thông (toàn bộ là trên đường bộ), làm chết 5 người và bị thương 7 người. So với cùng kỳ, số vụ tai nạn giảm 2 vụ (tương đương  giảm 12,5%), số người chết tăng 1 người (tăng 25%); số người bị thương giảm 7 người (giảm 50%). Trong tháng, trên các tuyến đường bộ đã kiểm tra, lập biên bản xử lý vi phạm 5,5 nghìn trường hợp; tước 526 giấy phép lái xe; tạm giữ 306 xe ô tô, 659 xe mô tô; 8 phương tiện khác; số tiền xử phạt là 4,5 tỷ đồng. Về đường thủy nội địa đã xử lý 10 trường hợp vi phạm, thu nộp kho bạc nhà nước 3,1 triệu đồng.
- Tính riêng trong 5 ngày nghỉ Lễ (từ ngày 27/4 đến hết ngày 1/5), trên địa bàn tỉnh chỉ xảy ra 1 vụ tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn huyện Phú Bình, làm 1 người bị thương, hư hỏng 1 xe ô tô, 1 xe mô tô, ước tính thiệt hại khoảng 3 triệu đồng.
Đường sắt và đường thủy không xảy ra tai nạn giao thông. Về công tác tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm, lực lượng Cảnh sát giao thông đã phát hiện và lập biên bản xử lý 336 trường hợp vi phạm về trật tự an toàn giao thông đường bộ; tạm giữ 23 xe ô tô. Các lỗi vi phạm chủ yếu là: Không đội mũ bảo hiểm, vi phạm nồng độ cồn, chở hàng quá tải trọng, chạy quá tốc độ…Trong lĩnh vực đường thủy, lực lượng chức năng đã lập biên bản 2 trường hợp vi phạm: Chở hàng vượt quá vạch dấu  nước an toàn; không có đăng kiểm, không có chứng chỉ chuyên môn thuyền viên, người lái phương tiện thủy nội địa; tạm giữ 1 phương tiện thủy; ra quyết định xử phạt, thu nộp Ngân sách nhà nước 75 triệu đồng.
- Tính chung 5 tháng đầu năm 2019, giao thông đường sắt, đường thủy  không xảy ra tai nạn giao thông. Trên đường bộ, đã xảy ra 51 vụ tai nạn giao thông, làm chết 23 người và bị thương 33 người. So với cùng kỳ năm 2018, số vụ tai nạn giao thông giảm 7 vụ (-12,07%); số người chết tương đương cùng kỳ; số người bị thương giảm 15 người (-31,25%). Trong đó, huyện Võ Nhai không xảy ra vụ tai nạn giao thông; Thành phố Thái Nguyên xảy ra 29 vụ (chiếm 56,8% tổng số), có 4 người chết và 20 người bị thương. Các địa phương còn lại có từ 2 - 6 vụ tai nạn giao thông xảy ra trong 5 tháng đầu năm 2019.
8. Vi phạm môi trường
Trong tháng 5 năm 2019 trên địa bàn tỉnh ngành chức năng đã kiểm tra và xử lý 1 vụ vi phạm môi trường với tổng số tiền xử phạt khoảng 6 triệu đồng. Tính chung 5 tháng đầu năm 2019, các ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra và xử lý 25 vụ vi phạm môi trường, tổng số tiền thu vào nộp vào ngân sách nhà nước là 463 triệu đồng. Nguyên nhân của các vụ vi phạm trên là do các cơ sở sản xuất kinh doanh không thực hiện quan trắc giám sát môi trường theo đề án bảo vệ môi trường.
9. Phòng chống cháy nổ
Các ngành chức năng của tỉnh đã tiến hành kiểm tra định kỳ công tác phòng cháy, chữa cháy tại các cơ quan đơn vị trên địa bàn tỉnh; qua kiểm tra đã nhắc nhở những thiếu sót trong phòng cháy chữa cháy và lập biên bản xử lý các trường hợp vi phạm nhằm hạn chế các vụ cháy nổ xảy ra.
Trong tháng qua trên địa bàn tỉnh xảy ra 11 vụ cháy, trong đó có 1 người bị chết do cháy xảy ra tại Phổ Yên. Các vụ cháy xảy ra tại các địa phương như: 6 vụ cháy xảy ra tại Thành phố Thái Nguyên, 2 vụ tại Thị xã Phổ Yên, 1 vụ tại huyện Đại Từ, 2 vụ tại huyện Phú Lương. Ước tính giá trị tài sản thiệt hại khoảng  960 triệu đồng.
Tính chung 5 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xảy ra 47 vụ cháy, có 01 người bị thiệt hại. Ước tính tổng giá trị tài sản thiệt hại khoảng 2,1 tỷ đồng.
10. Thiệt hại do thiên tai
Trong 5 tháng đầu năm 2019 trên địa bàn xảy ra 04 đợt thiên tai mưa, giông lốc. Tổng thiệt hại 04 đợt thiên tai ước tính về tài sản khoảng 52,7 tỷ đồng. Ngành chức năng đã phối hợp với địa phương khắc phục xử lý sự cố, đánh giá thiệt hại, huy động lực lượng tại chỗ để tích cực triển khai, trợ giúp nhân dân ổn định đời sống và sản xuất.
Năm 2019, thời tiết được dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp. Để chủ động phòng, chống và ứng phó với diễn biến bất thường của thời tiết, cơ quan chức năng đã phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên; đôn đốc, kiểm tra các ngành, địa phương lập và thực hiện các phương án, kế hoạch về công tác phòng, chống thiên tai. Bên canh đó, Ngành chức năng phối hợp với các địa phương kiểm tra, phát hiện những hư hỏng, có biện pháp sửa chữa, khắc phục kịp thời các công trình đê điều, thủy lợi; triển khai các phương án bảo vệ đê điều, hồ, đập; phòng tránh mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất đá, đặc biệt là đối với các công trình đang thi công.
Trên đây là một số tình hình chủ yếu về kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2019./.

Nguồn tin: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây