Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 năm 2018 tỉnh Thái Nguyên

Thứ tư - 29/08/2018 08:01
A. KINH TẾ
I. Sản xuất nông, lâm nghiệp thủy sản
1. Trồng trọt
- Cây hàng năm vụ mùa 2018: Thời tiết đầu và giữa tháng 8/2018 mưa liên tục kéo dài, ảnh hưởng tới tiến độ gieo trồng cây hàng năm vụ Mùa và  sinh trưởng của cây hàng năm. Hiện nay các địa phương đang chăm sóc cây lúa và cây màu các loại.
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Mùa đạt gần 54 nghìn ha, bằng 103,5% so kế hoạch nhưng giảm 1,3% so với diện tích gieo trồng vụ Mùa 2017 và giảm hầu hết ở các loại cây, riêng chỉ có cây rau, đậu các loại tăng 3,1% so với vụ Mùa năm 2017.
Cây lúa: Tổng diện tích lúa Mùa năm 2018 đạt 40,55 nghìn ha, bằng 102,7% kế hoạch nhưng giảm 0,6% so với diện tích lúa Mùa năm 2017. Tất cả 9/9 địa phương đều đạt và vượt kế hoạch gieo cấy lúa. So với cùng kỳ có 3/9 huyện, thành, thị có diện tích tăng như: huyện Võ Nhai tăng 3,2%; huyện Phú Bình tăng 0,2%; huyện Đại Từ tăng 1%; còn lại 6/9 huyện có diện tích gieo cấy lúa giảm so với vụ Mùa năm 2017 do một số diện tích chuyển mục đích sử dụng đất.
Tình hình sâu bệnh: Hiện nay, các trà lúa sớm đang ở giai đoạn cuối đẻ nhánh - đứng cái; trà lúa mùa trung ở giai đoạn đẻ nhánh rộ; trà lúa muộn đang  trong giai đoạn đẻ nhánh. Thời tiết tháng 8 nóng, ẩm mưa nhiều, tuy nhiên trong tháng không có dịch bệnh lớn phát sinh. Công tác điều tra dự báo sâu bệnh hại trong vụ được triển khai sớm, đảm bảo phát hiện kịp thời để có các biện pháp phòng trừ hiệu quả. Diện tích lúa bị nhiễm bệnh khô vằn  khoảng 1,4 nghìn ha, chuột phá hoại rải rác khoảng 10 ha...
Cây hàng năm khác: Vụ Mùa năm 2018 do mưa nhiều nên tiến độ gieo trồng chậm, một số cây màu phải trồng lại nhiều lần nên diện tích gieo trồng giảm. Tổng diện tích gieo trồng một số cây hàng năm vụ Mùa khoảng 13,4 nghìn ha, giảm 3,2% (-443 ha) so với vụ Mùa năm 2017. Trong đó, cây ngô đạt 4,83 nghìn ha, bằng 101,7% kế hoạch và giảm 1,8% so với vụ Mùa 2017; cây khoai lang trồng được 646 ha, giảm 13,4% so cùng kỳ; cây đỗ tương 222 ha, giảm 14,6% so cùng kỳ; cây lạc 563 ha, giảm 7,9% so cùng kỳ; riêng chỉ có cây rau, đậu các loại gieo trồng được 3.536 ha, bằng 118% so kế hoạch và tăng 3,1% so cùng kỳ.
- Cây lâu năm
Cây ăn quả: Tổng diện tích cây ăn quả ổn định khoảng 17 nghìn ha, trong đó cây Nhãn, vải, chuối và cam là 4 loại cây ăn quả chủ yếu chiếm khoảng 50% diện tích cây ăn quả của tỉnh. Sản lượng cây ăn quả năm nay đạt cao hơn so với năm trước, tuy nhiên giá bán thấp hơn cùng kỳ.
Cây chè: Để khuyến khích nông dân chuyển đổi cơ cấu giống chè theo hướng nâng cao giá trị và chất lượng sản phẩm, tỉnh đã có chính sách cấp kinh phí để hỗ trợ 50% giá giống chè, ngoài ra các huyện, thành phố, thị xã cũng đã chủ động bố trí nguồn kinh phí của địa phương hỗ trợ thêm từ 30-50% giá giống chè cho các hộ nông dân tham gia.
Tính đến ngày 15/8/2018, các địa phương cơ bản hoàn tất hồ sơ nghiệm thu đất trồng chè và chuẩn bị công tác cấp cây giống theo kế hoạch vào cuối tháng 9/2018. Kết quả đăng ký trồng chè năm 2018 được 1.013 ha/776 ha kế hoạch; đã nghiệm thu diện tích đất trồng chè là 889 ha/776 ha kế hoạch (vượt kế hoạch 14,5%). Công tác ươm giống chè: Toàn tỉnh có 32 vườn ươm chè được kiểm định chất lượng giống với tổng số hom cắm là 41,7 triệu hom, tỷ lệ sống trung bình đạt 94,2% (với khoảng 39,4 triệu cây), đủ cung ứng giống cho công tác trồng mới.
Công tác tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật: Trong tháng 8, các địa phương đã tổ chức 12 lớp tập huấn với 650 người tham gia về kỹ thuật trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh trên cây chè và tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Tình hình thực hiện các mô hình sản xuất chè thâm canh an toàn: Năm 2018, ngành chức năng đã chú trọng phối hợp, chỉ đạo hướng dẫn sản xuất, xây dựng các mô hình sản xuất chế biến chè an toàn theo quy trình VietGap; thực hiện 05 mô hình, trong đó 03 mô hình chứng nhận chè an toàn theo quy trình VietGap quy mô từ 10-15 ha/1 mô hình tại 3 địa phương là huyện Định Hóa, Phú Lương, thành phố Thái Nguyên và 02 mô hình thâm canh chè an toàn chất lượng cao quy mô 2,5ha/1mô hình tại huyện Đại Từ và huyện Phú Lương.
Tình hình sâu bệnh trên cây chè: Diện tích bị nhiễm bệnh khoảng 810 ha, trong đó rầy xanh khoảng 381 ha; bọ cánh tơ khoảng 243 ha, bọ xít muỗi 186 ha… Các địa phương chủ động theo dõi diễn biến các đối tượng gây hại để chỉ đạo các biện pháp phòng trừ đạt hiệu quả, đảm bảo năng suất, chất lượng cây chè.
2. Chăn nuôi
Tháng 8/2018, giá bán bình quân thịt lợn hơi và giá bán con giống tăng cao. So với cùng kỳ (tháng 8/2017), giá lợn hơi cao gấp 1,7 lần; lợn giống cao gấp 2,3 lần; giá thịt hơi gà ta tăng 5,35%; gà công nghiệp (lông trắng) cao gấp 1,6 lần. So với tháng trước (tháng 7/2018) giá thịt lợn hơi tăng 6,16%; giá thịt gà công nghiệp (lông trắng) tăng 2,47%; giá lợn giống tăng 14,9%, gà công nghiệp giống tăng 2,5%. Giá thịt lợn hơi dao động trong khoảng 50-55 nghìn/kg, lợn giống giá trung bình 70 nghìn đồng/kg... nên người chăn nuôi có lãi, đời sống hộ chăn nuôi được cải thiện. Tuy nhiên, một mặt do tâm lý còn lo ngại, mặt khác do giá lợn giống tăng cao nên tốc độ tái đàn còn chậm.
Hiện nay đã có tình trạng thịt lợn hơi của Trung Quốc giá thấp hơn đã nhập trở lại các tỉnh biên giới của Việt Nam vì vậy việc tăng quy mô đàn vật nuôi cũng đang tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với người chăn nuôi.
Dự tính đến thời điểm 31/8/2018: Đàn trâu khoảng 59,62 nghìn con, giảm 2,65% so cùng kỳ; đàn bò khoảng 46,7 nghìn con, tăng 3,5% so cùng kỳ; đàn lợn khoảng 660 nghìn con, tăng 8,1%; đàn gia cầm khoảng 12,2 triệu con, tăng 6,5% so cùng kỳ, trong đó đàn gà 10,5 triệu con tăng 7,5% so cùng kỳ.
Tình hình dịch bệnh và công tác thú y: Hiện nay trên địa bàn tỉnh không xảy ra dịch bệnh đối với đàn gia súc, gia cầm và thủy sản. Ngành chức năng duy trì công tác kiểm dịch vận chuyển, kiểm soát chặt chẽ phương tiện vận chuyển động vật, sản phẩm động vật, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, không để các trường hợp vận chuyển động vật, sản phẩm động vật không rõ nguồn gốc vào địa bàn tỉnh. Thực hiện trực 24/24 giờ, kiểm soát chặt chẽ động vật và sản phẩm động vật xuất, nhập tỉnh và tiến hành tiêu độc đối với các phương tiện vận chuyển động vật và sản phẩm động vật.
Năm 2018 công tác tiêm phòng gia súc gia cầm đợt 1 đã hoàn thành và đang triển khai tiêm phòng đợt 2. Tiến độ tiêm phòng đợt 2/2018 trong tháng 8/2018 như sau: Tiêm Vacxin Tụ huyết trùng trâu, bò đạt 54.060 liều/105.000 liều; Vacxin Lở mồm long móng gia súc 105.750 liều/180.000 liều; Vacxin Dịch tả lợn 214.310 liều/450.000 liều; Vacxin Tụ - dấu lợn 165.005 liều/330.000 liều; Vacxin Lep to 8.000 liều/8000 liều; Vacxin Tai xanh 10.090 liều/17.000 liều; Vacxin Dại chó 139.840 liều/164.000 liều.
3. Lâm nghiệp
Các địa phương đã hoàn thành công tác trồng mới rừng 2018 và đang tiến hành chăm sóc diện tích rừng đã trồng. Diện tích trồng rừng mới tập trung đạt 6.402 ha; trong đó, diện tích trồng rừng theo chương trình kế hoạch địa phương giao là 3.164,08 ha, đạt 100% kế hoạch, trồng cây phân tán 1.371,9 ha. Hiện nay diện tích rừng mới trồng đang sinh trưởng, phát triển tốt, tỷ lệ cây sống đạt trên 95%, không xuất hiện sâu bệnh.
Công tác khai thác lâm sản: Ước tính tháng 8/2018 khai thác được 12,8 nghìn m3 gỗ các loại và 15,6 nghìn ste củi. Tính chung 8 tháng đầu năm 2018 khai thác được 97,3 nghìn m3 gỗ, tăng 2,31% so cùng kỳ; 113,8 nghìn ste củi, tăng 2,21% so với cùng kỳ.
Kết quả ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng: Lũy kế 7 tháng đầu năm 2018 đã xử lý 177 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng (giảm 27,2%), tịch thu 288m3 gỗ quy tròn các loại (giảm 30%) và 29 phương tiện các loại... Thu nộp ngân sách 1,7 tỷ đồng (tăng 13%) so với cùng kỳ năm 2017.
4. Thủy sản
Tính đến hết tháng 8/2018, dự ước sản xuất giống thủy sản trên địa bàn đạt 400 triệu con cá bột, 35 triệu con cá giống các loại. Sản lượng thủy sản thương phẩm 8 tháng đầu năm 2018 đạt khoảng 6,6 nghìn tấn.
Một số nơi cá nuôi bị bệnh do vi khuẩn, bệnh ký sinh trùng xảy ra ở một số loài cá nuôi truyền thống, tuy nhiên dịch bệnh không phức tạp và không ảnh hưởng lớn đến sản lượng nuôi trồng thủy sản.
II. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số tiêu thụ sản phẩm công nghiệp tháng 7/2018 vừa qua đã có những chuyển biến tích cực, tăng 8,76% so với cùng kỳ, trong đó nhóm sản phẩm trang phục tiêu thụ tăng 13,4%; chỉ số tiêu thụ sản phẩm điện tử tăng 12,6%; giấy và sản phẩm từ giấy tăng 12%. Riêng mặt hàng sắt thép và xi măng tiêu thụ giảm so cùng kỳ do thời tiết mưa nhiều. Lượng tồn kho của các đơn vị sản xuất công nghiệp tính đến đầu tháng 8/2018 như sau: xi măng tồn 49,5 nghìn tấn, tăng 90,4% so với tồn kho cùng kỳ; sắt thép các loại tồn 160 nghìn tấn, tăng 33,1%; sản phẩm điện thoại thông minh và máy tính bảng tồn kho 2,6 triệu sản phẩm, tăng trên 18% so với tồn kho tháng trước và cùng kỳ; sản phẩm may tồn 5,9 triệu sản phẩm, giảm 10,9% so với cùng kỳ…
Với nhịp độ sản xuất và tiêu thụ như trên dự ước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tháng 8/2018 tăng 0,64% so với tháng trước và tăng ở hầu hết các nhóm ngành, trong đó ngành khai khoáng tăng 7,3%; công nghiệp chế biến chế tạo tăng 0,45%; sản xuất và phân phối điện tăng 6,8%.
So với cùng kỳ chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8/2018 tăng 11,95%, trong đó tăng cao nhất l